Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Thị Thơm (lớp VH 1001) tập trung nghiên cứu thực trạng và giải pháp phát triển du lịch tại huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội. Đề tài được triển khai trong bối cảnh địa giới hành chính có sự chuyển giao quan trọng: ngày 01 tháng 8 năm 2008, toàn bộ huyện Ba Vì (thuộc tỉnh Hà Tây cũ) chính thức sáp nhập vào thủ đô Hà Nội. Nằm cách trung tâm thành phố chừng 60–70 km, Ba Vì sở hữu hệ thống tài nguyên du lịch phong phú gồm các quần thể sinh thái (Vườn quốc gia Ba Vì, hồ Suối Hai, suối nước khoáng nóng Thuần Mỹ) cùng nhiều di tích lịch sử – nhân văn (đình Tây Đằng, đình Chu Quyến, khu di tích K9 Đá Chông, đền thờ Bác Hồ trên đỉnh Vua). Tuy nhiên, theo ghi nhận của tác giả, hoạt động khai thác du lịch tại địa phương trong giai đoạn này còn phát triển chậm, mang tính tự phát, chưa tương xứng với tiềm năng sẵn có và chưa hòa nhịp đầy đủ với sự phát triển chung của du lịch thủ đô.

Mục đích nghiên cứu của đề tài là đánh giá tiềm năng, hiện trạng khai thác tài nguyên phục vụ hoạt động du lịch của vùng, tìm hiểu các nguyên nhân hạn chế, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển bền vững và nâng cao hiệu quả kinh tế cho du lịch huyện Ba Vì.

Để đạt được mục đích trên, khóa luận xác định 3 nhiệm vụ nghiên cứu cơ bản:

  1. Tìm hiểu các giá trị tài nguyên của huyện Ba Vì phục vụ cho hoạt động du lịch.
  2. Tìm hiểu thực trạng khai thác tài nguyên phục vụ cho du lịch tại huyện Ba Vì.
  3. Đề ra một số giải pháp nhằm phát triển bền vững và nâng cao hiệu quả kinh tế cho hoạt động du lịch tại địa phương.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Tài nguyên du lịch và thực trạng khai thác tài nguyên du lịch trên địa bàn.
  • Phạm vi không gian: Toàn bộ địa giới hành chính huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội (sau khi đã điều chỉnh chuyển giao xã Tân Đức về thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ).
  • Phạm vi nội dung: Tập trung vào mối liên hệ giữa tiềm năng tự nhiên, nhân văn với hiện trạng tổ chức kinh doanh du lịch, công tác quy hoạch và cơ cấu sản phẩm du lịch địa phương.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khóa luận được xây dựng dựa trên hệ thống cơ sở lý luận chuyên ngành địa lý du lịch và kinh tế du lịch, kết hợp các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành tại thời điểm nghiên cứu:

  • Khung lý thuyết và khái niệm: Tác giả hệ thống hóa các định nghĩa về du lịch từ Hội nghị Liên Hợp Quốc về du lịch tại Roma (1963), Guer Freuler (trong Nhập môn khoa học du lịch), Nguyễn Cao Thường và Tô Đăng Hải (trong Giáo trình Thống kê du lịch), Từ điển Bách khoa Toàn thư Việt Nam (2005) và Luật Du lịch Việt Nam năm 2005 (Điều 4, Chương I). Về tài nguyên du lịch, đề tài sử dụng định nghĩa của Pirojnik (dẫn qua Bùi Thị Hải Yến), định nghĩa của TS. Nguyễn Minh Tuệ (trong giáo trình Địa lý du lịch) và phân loại tài nguyên theo khoản 1 Điều 13 Luật Du lịch năm 2005 thành hai nhóm: tài nguyên du lịch tự nhiên (địa hình, khí hậu, nguồn nước, sinh vật) và tài nguyên du lịch nhân văn (vật thể và phi vật thể). Tác giả cũng phân tích 4 chức năng cơ bản của du lịch (kinh tế, xã hội, sinh thái, chính trị) cùng 9 nhóm nhân tố ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển du lịch.
  • Phương pháp nghiên cứu:
    1. Phương pháp thu thập và xử lý số liệu: Tiếp cận các báo cáo, tài liệu thống kê chuyên ngành.
    2. Phương pháp nghiên cứu thực địa: Quan sát, ghi nhận thực tế tại các điểm đến du lịch trên địa bàn.
    3. Phương pháp thống kê, phân tích, so sánh tổng hợp: Khái quát hóa tư liệu sách báo, tạp chí và văn bản ngành du lịch.
    4. Phương pháp điền dã: Khảo sát, tiếp xúc và thu thập thông tin trực tiếp từ người dân địa phương.
  • Nguồn dữ liệu: Báo cáo phát triển du lịch giai đoạn 2006–2009 của Ủy ban nhân dân huyện Ba Vì; số liệu của Sở Văn hóa Thông tin; kết quả khảo sát sinh thái của Viện Địa lý Việt Nam; tài liệu nghiên cứu dược liệu của Trường Đại học Dược Hà Nội (1997) và số liệu kiểm kê thực tế tại các đơn vị kinh doanh du lịch.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lý luận chung về du lịch và tài nguyên du lịch

Chương này đóng vai trò thiết lập khung lý thuyết cho toàn bộ khóa luận. Tác giả luận giải bản chất của hoạt động du lịch là hiện tượng kinh tế – xã hội gắn liền với nhu cầu nghỉ ngơi, giải trí, phục hồi thể lực và nâng cao hiểu biết ngoài nơi cư trú thường xuyên. Tài nguyên du lịch được xác định là tiền đề cơ bản định hướng tổ chức lãnh thổ, xác định tính mùa vụ và quy mô dòng khách.

Về chức năng xã hội, tác giả trích dẫn số liệu sinh học cho thấy chế độ nghỉ ngơi du lịch hợp lý giúp giảm trung bình 30% bệnh tật chung của dân cư, giảm 40% bệnh đường hô hấp, 30% bệnh thần kinh và 20% bệnh đường tiêu hóa. Chương 1 cũng phân tích chi tiết 9 nhóm nhân tố ảnh hưởng: dân cư và lao động, sự phát triển của nền sản xuất xã hội, nhu cầu nghỉ ngơi, cách mạng khoa học kỹ thuật, quá trình đô thị hóa, điều kiện sống (thu nhập), quỹ thời gian rỗi, chính sách phát triển của Nhà nước và nhân tố ổn định chính trị.

Chương 2: Tiềm năng và thực tế khai thác tài nguyên phục vụ cho du lịch tại huyện Ba Vì – TP. Hà Nội

Chương 2 chiếm dung lượng lớn nhất, phản ánh toàn diện thực trạng địa bàn nghiên cứu:

  • Điều kiện địa lý và hành chính: Ba Vì là huyện bán sơn địa, diện tích tự nhiên 428,0 km² (sau khi bàn giao 454,08 ha và 2.701 nhân khẩu của xã Tân Đức về Việt Trì ngày 10/07/2008 theo Nghị quyết của Quốc hội khóa XII). Dân số theo thống kê năm 1999 là 242.600 người, gồm các dân tộc Kinh, Mường, Dao. Huyện gồm 1 thị trấn (Tây Đằng) và 30 xã.
  • Tiềm năng tài nguyên du lịch tự nhiên:
    • Vườn quốc gia Ba Vì: Thành lập ngày 18/12/1991 theo Quyết định 407/CT của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, diện tích quản lý 7.377 ha trên tổng diện tích 14.144 ha thuộc 7 xã miền núi. Hệ thực vật ghi nhận 812 loài bậc cao thuộc 99 họ, 472 chi (có loài đặc hữu như Bời lời Ba Vì, Cà lồ Ba Vì; 503 loài cây thuốc). Hệ động vật có 259 loài (thú 45 loài với 9 loài trong Sách đỏ; chim 113 loài; lưỡng cư 17 loài; côn trùng 86 loài). Khí hậu mát mẻ, nhiệt độ trung bình năm 23,4°C, tại cốt 400m là 20,6°C với độ ẩm 81,6%.
    • Các khu du lịch sinh thái: Ao Vua (xã Tản Lĩnh, có khách sạn 3 sao 50 phòng, hội trường 500 chỗ); Khoang Xanh – Suối Tiên (xã Vân Hòa, 200 ha rừng nguyên sinh, 2 km suối tự nhiên, công viên nước 2,2 ha có hồ tạo sóng cao 0,5m); Thác Đa (xã Vân Hòa, diện tích gần 100 ha, đỉnh núi cao 1.281m, vườn trúc gần 1 ha); Đầm Long (xã Cẩm Lĩnh, diện tích 75 ha với 17,5 ha rừng tự nhiên, 387 loài thực vật, trên 200 cá thể khỉ, tham quan bằng xe bò kéo hoặc cưỡi ngựa); Thiên Sơn – Suối Ngà (thác Cổng Trời cao 25m, hồ Ngoạn Sơn 12 ha); Hồ Tiên Sa (xã Tản Lĩnh, diện tích 150 ha với 120 ha rừng, >20 ha mặt nước, công viên nước 3.000 m²); Suối Hai (công trình thủy lợi khởi công 25/12/1958, khánh thành 05/04/1964, sức chứa 45 triệu m³ nước, 14 đảo nổi diện tích 90 ha); Vườn cò Ngọc Nhị (xã Cẩm Lĩnh, diện tích 3,5 ha hình thành từ 1970–1971, cư ngụ của 49 loài chim).
  • Tiềm năng tài nguyên du lịch nhân văn:
    • Khu di tích K9 – Đá Chông: Diện tích 234 ha, nơi Bác Hồ làm việc từ 1960–1969 và là nơi gìn giữ thi hài Bác trong thời gian kháng chiến chống Mỹ (3 lần lưu giữ với tổng thời gian 4 năm 4 tháng 19 ngày).
    • Đền thờ Bác Hồ trên Đỉnh Vua: Xây dựng ở độ cao 1.296m (văn bản ghi 1.269m ở phần tổng quan địa hình), khánh thành dịp kỷ niệm 30 năm ngày mất của Người, diện tích 150 m², kết cấu bê tông cốt thép giả gỗ do KTS. Nguyễn Trực Luyện thiết kế.
    • Hệ thống di tích kiến trúc gỗ cổ: Đình Tây Đằng (thế kỷ XVI, gồm 48 cột gỗ mít, cột cái đường kính 80 cm, hơn 1.300 chi tiết chạm khắc không trùng lặp); Đình Chu Quyến (thế kỷ XVII, xếp hạng di tích theo Quyết định 313/QĐ ngày 28/04/1962, đại đình rộng 395 m², cột cái chu vi 2,45m, sàn gỗ cách đất 0,8m).
    • Lễ hội truyền thống: Lễ hội làng Khê Thượng (xã Sơn Đà, mùng 3 đến mùng 7 tháng Giêng), hội Cẩm Đái và Tòng Lệnh (xã Cẩm Lĩnh và Tòng Bạt, ngày 12/02 âm lịch), hội Miếu Mèn (xã Cam Thượng, ngày 10/03 âm lịch), cùng gần 100 di tích thờ Tản Viên Sơn Thánh quanh núi Ba Vì.
Năm Tổng doanh thu du lịch (tỷ đồng) Tốc độ tăng trưởng so với năm trước (%)
2006 31,3 29,5%
2007 42,1 34,5%
2008 53,0 25,9%
2009 70,0 32,0%

Tổng doanh thu du lịch giai đoạn 2006–2009 đạt 196,4 tỷ đồng, tốc độ tăng trưởng bình quân 30,5%/năm, vượt kế hoạch 3,2%. Nộp ngân sách nhà nước đạt 16,523 tỷ đồng. Toàn huyện có 15 doanh nghiệp tham gia kinh doanh du lịch. Hệ số sử dụng buồng phòng đạt 50–60%. Về cơ cấu doanh thu: vé thắng cảnh chiếm tỷ trọng lớn nhất (36%), dịch vụ ăn uống (19%), vé phương tiện (16%), buồng phòng (13%), vui chơi giải trí (10%) và dịch vụ khác (6%).

Tuy nhiên, tác giả chỉ ra nhiều hạn chế trong thực trạng:

  • Sườn Đông phát triển mạnh nhưng mang tính tự phát, manh mún; sườn Tây mới dừng ở quy hoạch tổng thể.
  • Tại hồ Suối Hai, dự án quy hoạch sân golf chiếm 100 ha nhưng huyện mới chỉ đưa 30 ha vào quy hoạch sử dụng đất giai đoạn 2006–2010; hoạt động khai thác du lịch thực tế chỉ diễn ra trên 5 ha đảo Thanh Niên với doanh thu khiêm tốn khoảng hơn 100 triệu đồng/năm.
  • Tại mỏ khoáng nóng Thuần Mỹ (nhiệt độ tới 43°C, phát hiện từ năm 1999): Sau 10 năm phát hiện, việc cấp phép và quy hoạch khai thác công nghiệp bị chậm trễ, dẫn đến việc hơn 40 hộ dân tự ý khoan giếng khai thác với hơn 400 phòng tắm dịch vụ, đe dọa ô nhiễm nguồn tài nguyên ngầm.
  • Sản phẩm du lịch của toàn huyện còn đơn điệu, chủ yếu là tham quan, tắm suối, vui chơi giải trí phổ thông, thiếu vắng các sản phẩm du lịch mới mang tính chiều sâu.

Chương 3: Phương hướng và các giải pháp phát triển hoạt động du lịch tại huyện Ba Vì – TP. Hà Nội

Theo kết cấu đề tài được công bố ở phần Mở đầu, Chương 3 là phần tác giả đúc kết phương hướng và đề xuất các nhóm giải pháp khắc phục tồn tại. Nội dung định hướng bám sát các phát hiện từ Chương 2: giải quyết xung đột chỉ tiêu đất đai tại hồ Suối Hai; đẩy nhanh tiến độ lập quy hoạch chi tiết cho khu vực sườn Tây và mỏ khoáng nóng Thuần Mỹ nhằm ngăn chặn khai thác tự phát; nâng cao chất lượng buồng phòng và đa dạng hóa sản phẩm du lịch làng nghề (chè Ba Trại, sữa Ba Vì, tinh bột sắn Minh Hồng) gắn với bảo tồn văn hóa Mường – Dao.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đạt được các kết quả cụ thể thông qua hệ thống dữ liệu có căn cứ thực tế:

  • Tổng hợp và phản ánh bức tranh tăng trưởng kinh tế du lịch Ba Vì giai đoạn 2006–2009: Doanh thu tăng từ 31,3 tỷ đồng lên 70 tỷ đồng, đóng góp ngân sách 16,523 tỷ đồng và giải quyết việc làm với mức thu nhập từ 1.000.000 đến 1.500.000 đồng/người/tháng.
  • Hệ thống hóa đầy đủ danh mục tài nguyên tự nhiên và nhân văn trên địa bàn bán sơn địa của huyện, cung cấp các thông số định lượng chính xác về quy mô diện tích, số loài động thực vật quý hiếm tại Vườn quốc gia Ba Vì và Đầm Long.
  • Phát hiện các điểm nghẽn quản lý thực tế: Phân tích cụ thể mâu thuẫn chỉ tiêu quy hoạch đất tại hồ Suối Hai (sai lệch giữa 100 ha dự án sân golf và 30 ha kế hoạch sử dụng đất của huyện); cảnh báo nguy cơ cạn kiệt, ô nhiễm tại mỏ khoáng nóng Thuần Mỹ do chậm trễ cấp phép quy hoạch khiến 40 hộ dân khai thác tự phát với hơn 400 phòng tắm.

Đóng góp của nghiên cứu là cung cấp tài liệu mô tả thực trạng địa phương tại thời điểm chuyển giao địa giới hành chính về Hà Nội, giúp làm rõ khoảng cách giữa tiềm năng tài nguyên và năng lực khai thác kinh tế của huyện.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận có một số hạn chế do điều kiện tài liệu và phạm vi nghiên cứu:

  • Văn bản trích lục kết thúc tại mục 2.3.2 của Chương 2, do đó hệ thống giải pháp chi tiết của Chương 3 chưa được phản ánh đầy đủ trong bản lưu trữ hiện thời.
  • Đề tài tập trung chủ yếu vào số liệu thống kê mô tả từ các báo cáo của huyện và khảo sát sơ bộ, chưa có điều kiện phân tích sâu chuỗi dữ liệu kinh tế lượng hoặc ứng dụng các mô hình đánh giá sức chứa du lịch sinh thái.
  • Hướng nghiên cứu mở rộng: Cần có các khảo sát định lượng chuyên sâu về cơ cấu chi tiêu và mức độ hài lòng của du khách; đánh giá tác động môi trường của việc khai thác tự do nguồn nước khoáng ngầm tại Thuần Mỹ; nghiên cứu giải pháp kết nối tour liên vùng giữa Ba Vì với chuỗi du lịch sinh thái – tâm linh của toàn vùng thủ đô Hà Nội.

Giá trị tham khảo

Bản khóa luận có giá trị tham khảo hữu ích cho các đối tượng cụ thể:

  • Sinh viên chuyên ngành Du lịch, Địa lý kinh tế, Quản lý văn hóa: Cung cấp tư liệu thực tế về phương pháp khảo sát tài nguyên du lịch cấp huyện và kỹ thuật tổng hợp số liệu địa bàn.
  • Người nghiên cứu về vùng đất Ba Vì: Tài liệu tổng hợp chi tiết các tư liệu lịch sử, kiến trúc của đình Tây Đằng, đình Chu Quyến, khu K9 Đá Chông và hệ sinh thái Vườn quốc gia Ba Vì.
  • Các nhà quản lý quy hoạch địa phương: Cung cấp các ví dụ thực tiễn điển hình về những vướng mắc pháp lý và quy hoạch sử dụng đất du lịch trong giai đoạn sáp nhập địa giới hành chính.

Câu hỏi thường gặp

1. Vườn quốc gia Ba Vì được thành lập theo văn bản nào và có quy mô quản lý ra sao? Vườn quốc gia Ba Vì được thành lập ngày 18/12/1991 theo Quyết định số 407/CT của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng và được bàn giao cho Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quản lý từ ngày 01/01/1992. Vườn có diện tích quản lý 7.377 ha trên tổng diện tích tự nhiên 14.144 ha, nằm trên địa bàn 7 xã miền núi của huyện Ba Vì.

2. Tình trạng khai thác nước khoáng nóng tại xã Thuần Mỹ được khóa luận phản ánh như thế nào? Nguồn nước khoáng nóng Thuần Mỹ có nhiệt độ cao nhất tới 43°C, được phát hiện từ năm 1999. Tuy nhiên, sau 10 năm phát hiện, chính quyền mới chỉ thực hiện công đoạn khoan thăm dò. Tình trạng chậm trễ trong quy hoạch và cấp phép đã dẫn đến hoạt động khai thác tự phát của hơn 40 hộ gia đình với quy mô hơn 400 phòng tắm, gây nguy cơ ô nhiễm nguồn nước ngầm.

3. Hoạt động kinh doanh du lịch huyện Ba Vì giai đoạn 2006–2009 đạt kết quả doanh thu như thế nào? Tổng doanh thu du lịch của huyện giai đoạn 2006–2009 đạt 196,4 tỷ đồng với tốc độ tăng trưởng bình quân 30,5%/năm. Doanh thu từng năm gồm: năm 2006 đạt 31,3 tỷ; năm 2007 đạt 42,1 tỷ; năm 2008 đạt 53 tỷ; năm 2009 đạt 70 tỷ đồng. Cơ cấu nguồn thu lớn nhất thuộc về vé thắng cảnh (36%) và dịch vụ ăn uống (19%).

4. Khó khăn chính trong việc triển khai quy hoạch du lịch tại khu vực hồ Suối Hai là gì? Khó khăn lớn nhất nằm ở việc mất cân đối chỉ tiêu sử dụng đất: dự án quy hoạch chi tiết do doanh nghiệp lập đòi hỏi diện tích sân golf lên tới 100 ha, trong khi huyện Ba Vì mới chỉ đưa 30 ha tại khu vực này vào kế hoạch sử dụng đất giai đoạn 2006–2010 cho mục đích du lịch - dịch vụ.

5. Điểm độc đáo trong kiến trúc gỗ của đình Tây Đằng được tác giả mô tả là gì? Đình Tây Đằng (thế kỷ XVI) có bộ khung chịu lực bằng 48 cột gỗ mít không bị rỗng ruột (cột cái đường kính tới 80 cm). Điểm đặc biệt là đình không xây tường bao quanh mà để thoáng, sở hữu bộ vì nóc kiểu “giá chiêng” và chứa đựng hơn 1.300 chi tiết chạm khắc gỗ miêu tả sinh động đời sống dân gian thế kỷ XVI mà không có chi tiết nào trùng lặp nhau.

Kết luận

Khóa luận của tác giả Nguyễn Thị Thơm đã phản ánh bức tranh toàn cảnh về tài nguyên và hoạt động du lịch huyện Ba Vì tại thời điểm chuyển giao địa giới hành chính về thủ đô Hà Nội. Đề tài tổng hợp chi tiết các cứ liệu tự nhiên, di tích nhân văn và số liệu kinh tế du lịch giai đoạn 2006–2009. Các phân tích về điểm nghẽn quy hoạch tại hồ Suối Hai và mỏ khoáng Thuần Mỹ là những tư liệu thực tiễn phản ánh trung thực bài toán quản lý tài nguyên du lịch ở cấp cơ sở. Nghiên cứu là nguồn tài liệu hữu ích cho việc tìm hiểu địa lý du lịch và kinh tế địa phương vùng bán sơn địa Ba Vì.