Giáo trình Tài nguyên và Môi trường Du lịch Việt Nam - Phát triển bền vững

Giáo trình tài nguyên và môi trường cung cấp kiến thức nền tảng về quản lý, khai thác và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên. Tài liệu học tập hữu ích cho sinh viên.

Chuyên ngành

Du lịch

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Giáo trình
251
0
0

Phí lưu trữ

55 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về giáo trình tài nguyên và môi trường du lịch

Giáo trình tài nguyên và môi trường du lịch là lĩnh vực nghiên cứu chuyên sâu về mối quan hệ giữa du lịch, tài nguyên thiên nhiên và hệ sinh thái. Du lịch phát triển nhanh chóng từ năm 1950 với tốc độ tăng trưởng bình quân 6,93% mỗi năm về khách. Đến năm 1998, tổng khách du lịch quốc tế đạt 626 triệu người, doanh thu 445 tỷ USD. Ngành du lịch tạo ra 115 triệu việc làm trực tiếp toàn cầu. Việt Nam sở hữu tiềm năng tài nguyên du lịch đa dạng gồm tài nguyên tự nhiên và nhân văn. Đất nước có nhiều cảnh quan, hệ sinh thái điển hình vùng nhiệt đới. Dân tộc Việt Nam với 54 dân tộc anh em tạo nên nền văn hóa giàu bản sắc. Giáo trình cung cấp kiến thức nền tảng về cách khai thác, bảo tồn và phát triển bền vững tài nguyên du lịch. Hiểu biết đầy đủ về tài nguyên và môi trường là điều kiện tiên quyết để ngành du lịch phát triển lâu dài, tránh suy thoái tài nguyên.

1.1. Định nghĩa tài nguyên du lịch và phân loại cơ bản

Tài nguyên du lịch là tổng hợp các yếu tố tự nhiên và nhân văn có khả năng thu hút khách du lịch. Tài nguyên tự nhiên bao gồm địa hình, khí hậu, thủy văn, sinh vật và cảnh quan thiên nhiên. Tài nguyên nhân văn gồm di tích lịch sử, văn hóa, phong tục tập quán và kiến trúc. Phân loại tài nguyên du lịch giúp xác định giá trị khai thác và biện pháp bảo tồn phù hợp. Mỗi loại tài nguyên có đặc điểm riêng, đòi hỏi phương pháp đánh giá và quản lý khác nhau. Giáo trình trình bày hệ thống phân loại chi tiết, khoa học.

1.2. Vai trò của tài nguyên đối với sự phát triển ngành du lịch

Du lịch là ngành kinh tế có định hướng tài nguyên rõ rệt. Sự phát triển du lịch gắn liền mật thiết với tài nguyên và môi trường. Tài nguyên chất lượng cao tạo sức hút cạnh tranh, thu hút du khách quốc tế và nội địa. Đảng và Nhà nước xác định du lịch là ngành kinh tế tổng hợp quan trọng. Phát triển du lịch là hướng chiến lược góp phần công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Việc khai thác tài nguyên phải đi đôi với bảo vệ môi trường để đảm bảo tính bền vững lâu dài.

II. Phân tích các loại tài nguyên du lịch tự nhiên tại Việt Nam

Việt Nam nằm trong vùng nhiệt đới với hệ sinh thái đa dạng, phong phú. Tài nguyên sinh vật phục vụ du lịch tập trung ở các vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên và rừng di tích lịch sử văn hóa. Đến năm 1997, cả nước có 105 khu rừng đặc dụng với tổng diện tích 2.466 hecta. Hệ thống gồm 10 vườn quốc gia, 61 khu bảo tồn thiên nhiên và 34 khu rừng văn hóa lịch sử môi trường. Các vườn quốc gia tiêu biểu gồm Cúc Phương, Ba Bể, Cát Bà, Nam Cát Tiên, Yok Đon. Đây là nơi tập trung tính đa dạng sinh học cao với nhiều loài động thực vật đặc hữu quý hiếm. Tài nguyên khí hậu được đánh giá bằng chỉ số điều kiện thích hợp với sức khỏe và hoạt động du lịch. Tài nguyên thủy văn phục vụ tắm mát, thể thao nước và chữa bệnh. Sự kết hợp nhiều yếu tố tự nhiên tạo nên dạng tài nguyên du lịch tổng hợp giá trị cao.

2.1. Tài nguyên sinh vật và hệ thống vườn quốc gia Việt Nam

Hệ thống vườn quốc gia Việt Nam là điểm đến hấp dẫn cho du lịch sinh thái. Vườn quốc gia Yok Đon có diện tích lớn nhất 58.200 hecta, thành lập năm 1991. Vườn quốc gia Cúc Phương 22.200 hecta là vườn lâu đời nhất từ năm 1962. Các vườn khác như Ba Bể, Ba Vì, Tam Đảo, Nam Cát Tiên, Côn Đảo, Cát Bà, Bến En đều có giá trị đa dạng sinh học cao. Các khu bảo tồn lưu giữ nhiều loài động thực vật đặc hữu quý hiếm cần bảo tồn nghiêm ngặt.

2.2. Tài nguyên khí hậu và thủy văn phục vụ hoạt động du lịch

Tài nguyên khí hậu du lịch được đánh giá qua các chỉ số về điều kiện thời tiết phù hợp với sức khỏe con người. Mỗi loại hình du lịch đòi hỏi điều kiện khí hậu riêng biệt. Tài nguyên thủy văn đánh giá dựa tiêu chuẩn chất lượng nước sinh hoạt cho tắm mát, thể thao nước. Các tiêu chuẩn về sóng, thủy triều, dòng biển phục vụ thể thao giải trí trên biển. Nước khoáng được phân loại theo chỉ tiêu phục vụ chữa bệnh và giải khát. Sự kết hợp các yếu tố này tạo nên bãi tắm đạt chuẩn du lịch.

III. Phương pháp đánh giá và bảo vệ tài nguyên môi trường du lịch

Đánh giá tài nguyên du lịch đòi hỏi hệ thống tiêu chuẩn khoa học chặt chẽ. Tài nguyên địa hình đánh giá dựa trên các kiểu địa hình và cảnh quan đặc trưng. Tài nguyên khí hậu sử dụng chỉ số đánh giá điều kiện thích hợp với sức khỏe và hoạt động du lịch chung hoặc từng loại hình cụ thể. Tài nguyên thủy văn áp dụng tiêu chuẩn chất lượng nước dùng cho sinh hoạt để đánh giá tắm mát và thể thao nước. Tài nguyên sinh vật đánh giá dựa quy định đối với vườn quốc gia, rừng bảo tồn thiên nhiên và rừng di tích. Nhiều dạng tài nguyên đòi hỏi kết hợp nhiều yếu tố tự nhiên. Bãi tắm ví dụ điển hình liên quan đến địa hình, nền đáy, khí hậu, thủy văn và sinh vật. Bảo vệ tài nguyên môi trường là trách nhiệm của toàn xã hội. Chính sách quản lý phải cân bằng giữa khai thác kinh tế và bảo tồn thiên nhiên.

3.1. Hệ thống tiêu chí đánh giá tài nguyên du lịch tự nhiên

Viện Địa lý thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Liên Xô trước đây đã xây dựng bảng chỉ tiêu đánh giá bãi tắm chi tiết. Các chỉ tiêu bao gồm chất lượng nước, độ dốc bãi, nhiệt độ, tốc độ gió, điều kiện sóng. Đánh giá tài nguyên địa hình dựa trên sự đa dạng và tính đặc thù của cảnh quan. Tiêu chí đánh giá khí hậu xem xét nhiệt độ, độ ẩm, lượng mưa và số giờ nắng. Mỗi tiêu chí được chấm điểm theo thang chuẩn để xếp hạng tài nguyên du lịch.

3.2. Giải pháp bảo tồn và phát triển bền vững tài nguyên du lịch

Chính phủ Việt Nam chú trọng xây dựng hệ thống khu rừng đặc dụng bảo vệ đa dạng sinh học. Diện tích rừng đặc dụng chiếm 10,5% diện tích đất lâm nghiệp và gần 6% lãnh thổ. Các vườn quốc gia áp dụng quy định nghiêm ngặt về bảo tồn động thực vật quý hiếm. Phát triển du lịch sinh thái bền vững gắn liền với bảo vệ hệ sinh thái tự nhiên. Giáo dục cộng đồng và du khách về ý thức bảo vệ môi trường là giải pháp lâu dài hiệu quả.

IV. Kết luận và ứng dụng giáo trình tài nguyên môi trường vào thực tiễn

Giáo trình tài nguyên và môi trường du lịch cung cấp kiến thức toàn diện về mối quan hệ giữa du lịch và hệ sinh thái. Kiến thức này áp dụng hiệu quả trong quy hoạch phát triển du lịch bền vững tại Việt Nam. Giáo trình giúp người học hiểu rõ tiềm năng tài nguyên đa dạng của đất nước từ sinh vật, khí hậu đến thủy văn và địa hình. Ứng dụng thực tiễn bao gồm xây dựng chiến lược phát triển du lịch sinh thái tại các vườn quốc gia. Đánh giá tài nguyên khoa học giúp xác định loại hình du lịch phù hợp cho từng khu vực. Quản lý tài nguyên đúng cách ngăn chặn suy thoái môi trường do hoạt động kinh tế xã hội. Giáo trình cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của việc nâng cao hiểu biết cộng đồng về bảo tồn tài nguyên. Phát triển du lịch bền vững trên quan điểm tài nguyên và môi trường là mục tiêu chiến lược quốc gia. Việt Nam phấn đấu trở thành trung tâm du lịch thương mại dịch vụ tầm cỡ khu vực.

4.1. Ứng dụng trong quy hoạch và phát triển du lịch sinh thái

Kiến thức từ giáo trình áp dụng trực tiếp vào quy hoạch các khu du lịch sinh thái. Xác định sức chứa tài nguyên giúp giới hạn lượng khách phù hợp, tránh quá tải hệ sinh thái. Lập kế hoạch bảo tồn kết hợp khai thác du lịch tại các vườn quốc gia và khu bảo tồn. Thiết kế tour du lịch dựa trên đặc điểm tài nguyên từng vùng miền. Đào tạo nguồn nhân lực du lịch có kiến thức về tài nguyên môi trường là nhiệm vụ cấp bách.

4.2. Hướng phát triển nghiên cứu tài nguyên du lịch trong tương lai

Nghiên cứu tài nguyên du lịch Việt Nam còn nhiều tiềm năng chưa được khám phá đầy đủ. Ứng dụng công nghệ GIS và viễn thám trong đánh giá tài nguyên du lịch ngày càng phổ biến. Nghiên cứu tác động biến đổi khí hậu đến tài nguyên du lịch là hướng đi cần thiết. Hợp tác quốc tế trong bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển du lịch bền vững cần đẩy mạnh. Xây dựng cơ sở dữ liệu tài nguyên du lịch quốc gia phục vụ quản lý và quảng bá hiệu quả.

21/04/2026

Trích đoạn nội dung tài liệu

LỜI NÓI ĐẦU Trong mấy thập kỷ qua, đặc biệt từ năm 1950 trở lại đây, du lịch đã phát triển nhanh chóng và trở thành ngành kinh tế hàng đầu thế giới với tốc độ tăng trưởng bình quân về khách 6,93%/năm, về doanh thu 11,8%/năm. Theo số liệu của Tổ chức Du lịch Thế giới (WTO), năm 1998 tổng số khách du lịch quốc tế trên pham vi toàn cầu đạt 626 triệu khách, doanh thu từ du lịch ước tính 445 tỷ USD, tương đương 6,5% tổng sản phẩm quốc dân (GNP) toàn thế giới. Đây cũng là ngành kinh tế mang lại nhiều công ăn việc làm nhất cho người lao động với khoảng 115 triệu người có việc làm trực tiếp trong ngành du lịch. Như vậy trong 15 người lao động trên thế giới thì có 1 người làm nghề du lịch. Trong suốt gần 40 năm hình thành và phát triển, du lịch Việt Nam đã có những bước tiến đáng khích lệ, trở thành ngành kinh tế có vị trí xứng đáng trong nền kinh tế quốc dân. Đảng và Nhà nước khẳng định "Du lịch là một ngành kinh tế tổng hợp quan trọng góp phần nâng cao dân trí, tạo việc làm và phát triển kinh tế - xã hội của đất nước" và coi ". phát triển du lịch là một hướng chiến lược quan trọng trong đường lối phát triển kinh tế - xã hội nhằm góp phần thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước" phấn đấu "từng bước đưa nước ta thành trung tâm du lịch, thương mại - dịch vụ có tầm cỡ trong khu vực". Là một đất nước ở xứ sở nhiệt đới với nhiều cảnh quan và hệ sinh thái điển hình, dân tộc Việt Nam có hàng ngàn năm lịch sử dựng nước và giữ nước với nền văn hoá, đa dạng giàu bản sắc của 54 dân tộc anh em, Việt Nam có tiềm năng tài nguyên du lịch bao gồm tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch nhân văn đa dạng, phong phú và đặc sắc, trong đó có nhiều tài nguyên đặc biệt có giá trị. Đây là cơ sở tiền đề quan trọng để phát triển du lịch ở nước ta. 1 Du lịch là ngành kinh tế có định hướng tài nguyên một cách rõ rệt. Sự phát triển của du lịch có mối liên hệ mật thiết với tài nguyên và môi trường du lịch. Việc khai thác các tài nguyên du lịch và phát triển các hoạt động du lịch luôn gắn liền và có sự tác động qua lại với môi trường du lịch. Hiện nay, tài nguyên và môi trường du lịch ở nhiều nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam, đang bị những tác động tiêu cực của hoạt động phát triển kinh tế - xã hội, có nguy cơ giảm sút và suy thoái, ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững của du lịch. Một trong những nguyên nhân của tình trạng trên là do những hiểu biết về tài nguyên và môi trường du lịch còn chưa được đầy đủ. Cuốn sách "Tài nguyên và Môi trường Du lịch Việt Nam" ra đời với hy vọng được góp phần vào việc nâng cao những hiểu biết về tài nguyên và môi trường nói chung, về tài nguyên và môi trường du lịch Việt Nam nói riêng. Qua đó bạn đọc có thể sẽ có được những thông tin bổ ích, những nhìn nhận khách quan và đúng đắn hơn, để có những hành động tích cực hơn góp phần vào sự phát triển bền vững của du lịch Việt Nam trên quan điểm tài nguyên và môi trường. Tài nguyên và môi trường du lịch là vấn đề rất rộng và là lĩnh vực nghiên cứu còn mới ở Việt Nam, vì vậy chắc rằng cuốn sách sẽ còn nhiều hạn chế và thiếu sót, chưa đáp ứng được đầy đủ yêu cầu của bạn đọc. Chúng tôi rất mong muốn nhận được ý kiến đóng góp của bạn đọc để cuốn sách được hoàn thiện hơn. Nhân dịp này cho phép chúng tôi xin được bày tỏ lời cảm ơn chân thành tới Viện Nghiên cứu Phát triển Du lịch, Nhà xuất bản Giáo dục, tới các cơ quan, các nhà khoa học và nhà nhiếp ảnh cùng các bạn đồng nghiệp đã khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi để sớm cho ra mắt cuốn sách này. CÁC TÁC GIẢ 2 Chương I: TÀI NGUYÊN DU LỊCH 1. Khái niệm chung: Tài nguyên hiểu theo nghĩa rộng bao gồm tất cả các nguồn nguyên liệu, năng lượng và thông tin có trên trái đất và trong không gian vũ trụ liên quan mà con người có thể sử dụng phục vụ cho cuộc sống và sự phát triển của mình. Tài nguyên được phân loại theo tài nguyên thiên nhiên gắn liền với các nhân tố tự nhiên, và tài nguyên nhân văn gắn liền với các nhân tố về con người và xã hội. Dựa vào khả năng tái tạo, tài nguyên được phân thành tài nguyên tái tạo được và tài nguyên không tái tạo được. Tài nguyên tái tạo được là những tài nguyên dựa vào nguồn năng lượng được cung cấp hầu như liên tục và vô tận từ vũ trụ tới trái đất, dựa vào các quy luật tự nhiên đã hình thành để tiếp tục tồn tại, phát triển và chỉ mất đi khi không còn nguồn năng lượng và thông tin. Tài nguyên tái tạo được cũng có thể được định nghĩa một cách đơn giản hơn, là những tài nguyên có thể tự duy trì hoặc tự bổ sung một cách liên tục nếu được khai thác và quản lý tốt (Jorgensen. Năng lượng bức xạ mặt trời, năng lượng nước, gió, tài nguyên sinh học. là những tài nguyên tái tạo. 3 Tài nguyên không tái tạo tồn tại một cách hữu hạn, sẽ bị mất đi hoặc hoàn toàn bị biến đổi, không còn giữ được tính chất ban đầu sau quá trình khai thác sử dụng. Phần lớn các loại tài nguyên khoáng sản, nhiên liệu khoáng đã được sử dụng, các thông tin di truyền bị biến đổi không giữ lại được cho đời sau. là tài nguyên không tái tạo được. Tài nguyên du lịch là một dạng đặc sắc của tài nguyên nói chung. Khái niệm tài nguyên du lịch luôn gắn liền với khái niệm du lịch. Tài nguyên du lịch là cảnh quan thiên nhiên, di tích lịch sử, di tích cách mạng, giá trị nhân văn, công trình lao động sáng tạo của con người có thể được sử dụng nhằm thoả mãn nhu cầu du lịch; là yếu tố cơ bản để hình thành các điểm du lịch, khu du lịch nhằm tạo ra sự hấp dẫn du lịch (Pháp lệnh Du lịch Việt Nam, 1999). Như vậy, tài nguyên du lịch được xem như tiền đề để phát triển du lịch. Thực tế cho thấy, tài nguyên du lịch càng phong phú, càng đặc sắc bao nhiêu thì sức hấp dẫn và hiệu quả hoạt động du lịch càng cao bấy nhiêu. Tài nguyên du lịch bao gồm các yếu tố liên quan đến các điều kiện tự nhiên, điều kiện lịch sử - văn hoá, kinh tế - xã hội vốn có trong tự nhiên hoặc do con người tạo dựng nên. Các yếu tố này luôn luôn tồn tại và gắn liền với môi trường tự nhiên và môi trường xã hội đặc thù của mỗi địa phương, mỗi quốc gia tạo nên những điểm đặc sắc cho mỗi địa phương, mỗi quốc gia đó. Khi các yếu tố này được phát hiện, được khai thác và sử dụng cho mục đích phát triển du lịch thì chúng sẽ trở thành tài nguyên du lịch. Cách đây hơn 30 4 năm khu rừng nguyên sinh Cúc Phương đã được phát hiện. Năm 1962 Chính phủ ra quyết định cho phép xây dựng thành vườn quốc gia và đến năm 1966, Cúc Phương đã chính thức trở thành vườn quốc gia đầu tiên của Việt Nam. Cũng từ thời điểm này khi tính đa dạng sinh học của vườn quốc gia được khai thác phục vụ mục đích du lịch, khu rừng nguyên sinh này trở thành một điểm tài nguyên du lịch đặc sắc, một điểm du lịch có sức hấp dẫn cao đối với khách du lịch trong nước và quốc tế. Tương tự như vậy, cũng chỉ mới cách đây hơn 5 năm, năm 1993, động Thiên Cung, một động đá vôi nguyên sơ, kỳ ảo ở vịnh Hạ Long được phát hiện, khai thá sử dụng để trở thành một điểm du lịch mới hấp dẫn đã làm phong phú và tăng thêm giá trị của tài nguyên du lịch của khu du lịch nổi tiếng này. Tài nguyên du lịch gồm tài nguyên du lịch đang khai thác, tài nguyên du lịch chưa khai thác. Mức độ khai thác tiềm năng tài nguyên du lịch phụ thuộc vào: - Khả năng nghiên cứu phát hiện và đánh giá các tiềm năng tài nguyên vốn còn tiềm ẩn. - Yêu cầu phát triển các sản phẩm du lịch nhằm thoả mãn nhu cầu của khách du lịch. Các nhu cầu này ngày một lớn và đa dạng phụ thuộc vào mức sống và trình độ dân trí. Ví dụ, vào những năm 60, du lịch biển ở nước ta chủ yếu là tắm và nghỉ dưỡng biển thì ngày nay các sản phẩm du lịch biển đã đa dạng hơn bao gồm cả lặn biển, lướt ván, tham quan các hệ sinh thái biển v. - Trình độ phát triển khoa học công nghệ nhằm tạo ra các phương tiện để khai thác các tiềm năng tài nguyên. Ví dụ nếu như trước đây du lịch thám hiểm đáy biển chỉ là ước mơ thì ngày nay với các tàu ngầm chuyên dụng khách 5 du lịch có thể tham quan khám phá những điều kỳ diệu của đại dương một cách dễ dàng. Trong tương lai, với sự phát triển nhanh chóng về khoa học và công nghệ, du khách sẽ có cơ hội đi du lịch ở những hành tinh xa xôi ngoài trái đất. Như vậy cũng giống như các dạng tài nguyên khác, tài nguyên du lịch có phạm trù lịch sử và có xu hướng ngày càng được mở rộng. Sự mở rộng của tài nguyên du lịch thường tuỳ thuộc rất nhiều vào yêu cầu phát triển du lịch, vào những tiến bộ khoa học kỹ thuật, vào sự đầu tư, vào các sáng kiến và sở thích của con người. Bên cạnh những tài nguyên đã và đang được khai thác, nhiều tài nguyên du lịch còn tồn tại dưới dạng tiềm năng do: - Chưa được nghiên cứu điều tra và đánh giá đầy đủ. - Chưa có nhu cầu khai thác do khả năng "cầu" còn thấp. - Tính đặc sắc của tài nguyên thấp hoặc chưa đủ tiêu chuẩn cần thiết để khai thác hình thành các sản phẩm du lịch. - Các điều kiện để tiếp cận hoặc các phương tiện để khai thác hạn chế do đó chưa có khả năng hoặc gặp nhiều khó khăn trong khai thác. - Chưa đủ khả năng đầu tư để khai thác.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ