Chương 1: cơ sở lý luận và thực tiễn phát triển du lịch vịnh Hạ Long Nguyễ n Hoài Thương-VH1101 2 Khóa luận tốt nghiệp Chương 2: tiềm năng và thực trạng phát triển du lịch tại vịnh Hạ Long giai đoạn 2011 – 2015 Chương 3 : giải pháp phát triển vịnh Hạ Long giai đoạn 2011- 2015 Nguyễ n Hoài Thương-VH1101 3 Khóa luận tốt nghiệp CHƢƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN PHÁT TRIỂN DU LỊCH VỊNH HẠ LONG 1.1 Khái niệm về du lịch Theo luật du lịch Việt Nam : du lịch là các hoat động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan , tìm hiểu, nghỉ ngơi, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định.2 Khái niệm về khách du lịch Khách du lịch là những người đi du lịch hoặc kết h ợp đi du lịch, trừ trường hợp đi học, đi làm việc hoặc hành nghề để nhận thu nhập nơi đến.3 Tài nguyên du lịch 1.1 Khái niệm: Theo điều 10 của pháp lệnh du lịch Việt nam( 1999) : Tài nguyên du lịch đựoc hiểu là cảnh quan thiên nhiên, di tích lịch sử, di tích cách mạng, giá trị nhân văn, công trình sáng tạo của con người có thể được sử dụng nhằm thoả mãn nhu cầu du lịch, là yếu tố cơ bản để hình thành các điểm du lịch, khu du lịch nhằm tạo ra sức hấp dẫn du lịch.2 Vai trò của tài nguyên du lịch - Khuyến khích kinh doanh - Thu hút đầu tư kinh doanh - Thu hút khách đến tham quan - Phối hợp hoạt động giữa các ngành - Đào tạo ngồn nhân lực và tạo việc làm cho người lao động. Xây dựng sản phẩm du lịch - Các loại hình du lich - Quy mô các loại hình du lịch Nguyễ n Hoài Thương-VH1101 4 Khóa luận tốt nghiệp - Chất lượng dịch vụ du lịch - Đối tượng tiêu dùng sản phẩm. Quyết định xây dựng cơ sở vật chất - Xây dựng cơ sở hệ thống kinh doanh trong du lịch - Xây dựng hệ thống xã hội - Xây dựng cơ sở lưu trú - Xây dựng các điểm vui chơi giải trí.3 Phân loại tài nguyên du lịch Tài nguyên du lịch tự nhiên : là tổng thể tự nhiên của các thành phần của nó có thể góp phần khôi phục và phát triển lực và trí tuệ của con người, khả năng lao động và sức khoẻ của họ và được lôi cuốn vào phục vụ nhu cầu cũng như sản xuất dịch vụ du lịch. Địa hình : địa hình là một yếu tố quan trong góp phần tạo nên phong cảnh và sự đa dạng của phong cảnh nới đó.
Đối với du lịch, các dấu hiệu bên ngoài của địa hình càng đa dạng và đặc biệt thì càng có sức hấp dẫn du khách. Các đơn vị hình thái chính của địa hình là núi, đồi, đồng bằng, chúng được phân biệt bởi độ chênh cao của địa hình. Địa hình đồng bằng tương đối đơn điệu về mặt địa hình, ít gây cảm hứng khách quan cho khách du lịch. Địa hình du lịch đồ thường tạo ra không gian thoáng đãng bao la, tác động mạnh đến tâm lý của khách ưa thích dã ngoại, rất thích hợp với loại hình du lịch tham quan.
Địa hình miền núi thường có ưu thế với hoạt động du lịch vì có sự kết hợp của nhiều dạng địa hình, vừa thể hiện vẻ đẹp hùng vĩ, thơ mộng của thiên nhiên, vừa có khí hậu mát mẻ, không khí trong lành. Ngoài các địa hình nói trên, địa hình karst và địa hình ven bờ cũng rất có ý nghĩa đối với du lịch. Điạ hình karst là kiểu địa hình được hình thành do sự lưu Nguyễ n Hoài Thương-VH1101 5 Khóa luận tốt nghiệp thông của nước trong đá dễ hoà tan,ở Việt Nam chủ yếu là đá vôi. Một số kiểu địa hình karst: Hang động karst, trên thế giới có 650 hang động được khai thác phục vụ du lịch, hàng năm thu hút được hàng chục triệu khách tới thăm.
ở nước ta hiện nay có nhiều hang động được khai thác như : Phong Nha, Tam Cốc- Bích Động, Hương Tích. Khí hậu : khí hậu cũng được coi là một dạng tài nguyên du lịch. Trong các chỉ tiêu về khí hậu, đáng lưu ý nhất là 2 chỉ tiêu : nhiệt độ và độ ẩm không khí. Nhưng phải tính đến các yếu tố khác như : áp suất khí quyển, gió, ánh nắng mặt trời, các hiện tượng thời tiết đặc biệt.
Mỗi loại hình du lịch thường đòi hỏi những điều kiện khí hậu khác nhau. Như vậy, ở mức độ nhất định cần phải chú ý đến hiện tượng thời tiết đặc biệt làm cản trở kế hoạch du lịch. Tính mùa của khí hậu ảnh hưởng mạnh mẽ lên tính mùa của du lịch. Sự phụ thuộc chặt chẽ vào khí hậu du lịch có thể diễn ra quanh năm hoặc một vài tháng - Mùa du lịch cả năm thích hợp với loại hình du lịch suối khoáng , du lịch trên núi.
- Mùa đông là du lịch trên núi, du lịch thể thao nghi đông. - Mùa hè là mùa du lịch quan trọng vì nó có thể phát triển nhiều loại hình du lịch như du lịch biển, các loại hình du lịch trên núi, đồng bằng, khả năng du lịch ngoài trời rất phong phú và đa dạng. Nguồn nước : bao gồm nước chảy trên mặt và nước ngầm. Đối với du lịch có ý nghĩa rất quan trọng.
Nó bao gồm đại dương, sông ngòi, suối phun, thác nước. Tài nguyên nước mặt không chỉ có chức năng hồi phục trực tiếp mà còn ảnh hưởng đến nhiều thành phần khác của môi trường sống, đ ặc biệt nó làm dịu đi khí hậu ven bờ. Nước ngầm nhìn chung ít có giá trị đối với du lịch. Tuy nhiên, cần phải nói đến tài nguyên nước khoáng.
Đây là nguồn tài nguyên có giá trị an dưỡng và chữa bệnh. Cho đến ngày nay thế giới vẫn chưa có quy định nào cụ thể về giới hạn của Nguyễ n Hoài Thương-VH1101 6 Khóa luận tốt nghiệp các nguyên tố, độ khoáng hoá, thành phần khí để phân biệt nước khoáng và nước bình thường. Để thuận lợi cho việc chữa bệnh, người ta đã tiến hành phân loại các nhóm nước khoáng: - Nhóm nước khoáng cacbonic: tác dụng giải khát , chữa bệnh cao huyết áp, sơ vữa động mạch, các bệnh thần kinh ngoại biên. Trên thế giới nổi tiếng với mỏ Vichy( Pháp), Boczomi( Grudia).
- Nhóm nước khoáng Silic : công dụng đối với bệnh tiêu hóa, thần kinh,thấp khớp, phụ khoa. Trên thế giới nổi tiếng với Kulđua( Liên bang Nga), ở Việt Nam có Kim Bôi ( Hoà Bình). - Nhóm nước khoáng Brôm – iốt – bo: chữa bệnh ngoài da, thần kinh, phụ khoa. Nổi tiếng thế giới là nước khoáng Mar geathia và Fricarichshal ( cộng hoà liên bang Đức.
ở Việt Nam có Quang Hanh ( Quảng Ninh) ,Tiên Lãng ( Hải Phòng). - Ngoài ra còn có một số nhóm nước khoáng khác : asen-fluo, liti, sunphuahidro. cũng có giá trị với du lịch. Sinh vật Việc đi du lich đến những nơi có phong cảnh đẹp, thiên nhiên trong lành là cách nghỉ ngơi tốt nhất.
Gìơ đây sống trong môi trường phát triển có những điều kiện thuận lợi do con người tạo ra, đồng thời môi trường ngày càng bị ô nhiễm, biến đổi bất lợi cho cuộc sống của con người. Về tài nguyên sinh vật, rừng không chỉ có ý nghĩa lớn về mặt sinh thái, kinh tế mà còn có ý nghĩa lớn về mặt du lịch. Tất nhiên , không phải mọi đối tượng tài nguyên động thực vật đều là đối tượng tham gia phục vụ cho du lịch. Để phục vụ cho các mục đích du lịch khác nhau, người ta đưa ra các chỉ tiêu đánh giá sau đây: - Chỉ tiêu phục vụ cho mục đích tham quan: Thảm thực vật phong phú, độc đáo và điển hình + Có loài đặc trưng cho khu vực, loài đặc hữu, loài quý hiếm đối với trong nước và khu vực Nguyễ n Hoài Thương-VH1101 7 Khóa luận tốt nghiệp + Có một số động vật ( chim, thú, bò sát, côn trùng, cá.) phong phú và điển hình cho vùng.
+ Có những loại có thể khai thác làm đặc sản phục vụ cho nhu cầu của khách du lịch. + Thực động vật có màu sắc hấp dẫn, vui mắt, một số loài phổ biến có thể quan sát bằng mắt thường. + Đường giao thông đi lại thuận tiện - Chỉ tiêu đối với du lịch săn bắn , thể thao : +Quy định loài được săn bắn là phổ biến, không ảnh hưởng đến quỹ gen +Loài động vật nhanh nhẹn +Ngoài ra, khu vực dành cho săn bắn thể thao phải tương đối rộng, có địa hình tương đối dẽ vận động, xa dân cư. - Chỉ tiêu đối với mục đích ngiên cứu khoa học: +Nơi có động thực vật phong phú đa dạng +Nơi có tồn tại loài quý hiếm +Nơi có thể đi lại quan sát, chụp ảnh +Có quy định thu mẫu của cơ quan quản lý.
Về phương diện tài nguyên du lịch cần chú ý đến các khu bảo tồn thiên nhiên. Nước ta đã thành lập được 105 khu bảo vệ tự nhiên, 27 vườn quốc gia, 44 khu bảo tồn tự nhiên, 34 khu rừng văn hoá lịch sử. Tài nguyên du lịch nhân văn : là các đối tượng, hiện tượng do con người tạo ra trong suốt quá trình tồn tại và có giá trị phục vụ cho nhu cầu du lịch. Bao gồm: - Di sản văn hoá thế giới: gồm có 6 tiêu chuẩn để đánh giá một di sản văn hoá thế giới: + Là tác phẩm độc nhất vô nhị, tác phẩm hàng đầu của tài năng con người.
+ Cố ảnh hưởng quan trọng đến sự phát triển của nghệ thuật kiến trúc, nghệ thuật cấu tạo không gian trong một thời gian nhất định, trong một khung cảnh văn hoá nhất định. Nguyễ n Hoài Thương-VH1101 8 Khóa luận tốt nghiệp + Chứng cớ xác thực cho một nền văn minh đã biến mất. + Cung cấp một ví dụ hùng hồn cho một thể loại xây dựng hoặc kiến trúc phản ánh một giai đoạn lịch sử có ý nghĩa. + Cung cấp một ví dụ hùng hồn về một thể loại nhà truyền thống nói lên một nền văn hoá có nguy cơ bị huỷ hoại trước những biến động không thể cưỡng lại được.
+ Có mối quan hệ trực tiếp với các sự kiện, tín ngưỡng, đáp ứng được những tiêu chuẩn xác thực về ý tưởng sáng tạo, về vật liệu, về cách tạo lập cũng như về vị trí. Nhìn chung, các di sản văn hoá là sự kết tinh cao nhất của những sáng tạo văn hoá một dân tộc.