Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Hoàng Thị Bình (lớp VHL 301, ngành Văn hóa Du lịch) tiếp cận vấn đề phát triển du lịch dưới góc độ khai thác thị trường khách nghỉ dưỡng ngắn ngày. Trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đô thị hóa diễn ra mạnh mẽ tại Việt Nam, sự gia tăng áp lực công việc, tình trạng ô nhiễm môi trường và ùn tắc giao thông tại các đô thị lớn đã làm gia tăng nhu cầu nghỉ ngơi, phục hồi thể lực và giải tỏa căng thẳng vào các ngày nghỉ cuối tuần. Kể từ năm 1999, việc Chính phủ ban hành quy định chế độ làm việc 40 giờ/tuần đã tạo điều kiện cho người lao động có hai ngày nghỉ liên tiếp, hình thành tiền đề thực tiễn cho sự phát triển của phân khúc du lịch cuối tuần.

Khu di tích Côn Sơn - Kiếp Bạc (huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương) sở hữu nguồn tài nguyên du lịch nhân văn gắn liền với lịch sử thời Trần, thiền phái Trúc Lâm và đại danh nhân văn hóa Nguyễn Trãi, đồng thời có tài nguyên sinh thái cảnh quan phong phú. Tọa lạc trong tam giác kinh tế trọng điểm phía Bắc (Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh) và cách trung tâm Hà Nội khoảng 80 km, khu vực này có cự ly phù hợp cho các chuyến du lịch ngắn ngày. Tuy nhiên, thực tế khai thác du lịch tại đây còn mang nặng tính mùa vụ, chủ yếu tập trung vào các tháng lễ hội đầu năm và mùa thu, trong khi các ngày nghỉ cuối tuần thường nhật chưa thu hút được nguồn khách tương xứng với tiềm năng.

Nhằm giải quyết bất cập trên, khóa luận xác định các mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Tìm hiểu về du lịch cuối tuần và các điều kiện phát triển du lịch cuối tuần.
  2. Phân tích đánh giá tiềm năng và hiện trạng hoạt động du lịch cuối tuần ở khu vực Côn Sơn - Kiếp Bạc.
  3. Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả khai thác hoạt động du lịch cuối tuần tại Côn Sơn - Kiếp Bạc.

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là toàn bộ các hạng mục công trình, yếu tố lịch sử hình thành, giá trị kiến trúc, lễ hội truyền thống cùng nhu cầu và đặc điểm thị trường khách du lịch đến Côn Sơn - Kiếp Bạc vào dịp cuối tuần. Phạm vi nghiên cứu tập trung đánh giá, xem xét các giá trị văn hóa lịch sử nhân văn và tài nguyên tự nhiên của khu vực Côn Sơn - Kiếp Bạc phục vụ mục đích phát triển du lịch cuối tuần.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Về mặt lý luận, tác giả hệ thống hóa lịch sử hình thành loại hình du lịch cuối tuần từ thế kỷ XVIII-XIX tại các quốc gia công nghiệp phát triển, gắn liền với chế độ ngày nghỉ có lương và quá trình đô thị hóa. Khóa luận tiếp thu các định nghĩa học thuật tiêu biểu trong nước:

  • Khái niệm của tác giả Nguyễn Thị Hải (1997) trong luận văn Thạc sĩ: xác định du lịch cuối tuần là dạng hoạt động của cư dân đô thị vào ngày nghỉ ở vùng ngoại ô hoặc phụ cận nhằm hòa nhập thiên nhiên, giải trí, phục hồi sức khỏe.
  • Định nghĩa của TS. Đinh Trung Kiên (2005): nhấn mạnh du lịch cuối tuần là loại hình du lịch thỏa mãn nhu cầu nghỉ ngơi, thư giãn, phục hồi thể chất và tinh thần của đối tượng khách chủ yếu là cư dân đô thị, khu công nghiệp trong những ngày cuối tuần tại vùng ngoại ô và phụ cận (bán kính từ 30 km đến trên dưới 100 km).

Khóa luận vận dụng luận điểm của Pirojnik: "Du lịch là ngành có định hướng tài nguyên rõ rệt", từ đó xác định các điều kiện tiên quyết để phát triển điểm đến du lịch cuối tuần bao gồm: tài nguyên du lịch kết hợp hài hòa giữa tự nhiên và nhân văn; vị trí địa lý có khả năng tiếp cận giao thông dưới 3 giờ di chuyển; hệ thống cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật đồng bộ; nguồn nhân lực chuyên môn; sự tham gia của cộng đồng địa phương và hoạt động xúc tiến quảng bá.

Tác giả phân loại du lịch cuối tuần theo các tiêu chí:

  • Theo nhóm đối tượng: học sinh - sinh viên/câu lạc bộ, cán bộ công chức, nhóm gia đình, người lao động tại các khu công nghiệp.
  • Theo nhu cầu: nghỉ dưỡng, vui chơi giải trí, khám phá văn hóa, dã ngoại canh tác.
  • Theo hình thức tổ chức: tự tổ chức hoặc đi theo chương trình của các công ty lữ hành.
  • Theo thời gian và tính mùa vụ: mùa xuân (gắn với lễ hội) và mùa hè (kỳ nghỉ của học sinh, sinh viên).

Khóa luận sử dụng các phương pháp nghiên cứu:

  • Phương pháp thu thập và xử lý thông tin.
  • Phương pháp nghiên cứu thực địa.
  • Phương pháp phân tích và tổng hợp.

Nguồn dữ liệu của đề tài được trích xuất từ các văn bản quy phạm và báo cáo quản lý chuyên ngành: Quyết định số 920/QĐ-TTg ngày 18/6/2010 của Thủ tướng Chính phủ; Quyết định số 415/QĐ-UBND ngày 09/4/2007 và Quyết định số 01/2009/QĐ-UBND ngày 09/01/2009 của UBND tỉnh Hải Dương; Đề án phát triển du lịch tỉnh Hải Dương giai đoạn 2011-2015; các báo cáo thống kê hàng năm của Phòng Văn hóa - Thông tin huyện Chí Linh và Ban quản lý di tích Côn Sơn - Kiếp Bạc.

Nội dung chính theo từng chương

Chương I: Tổng quan về du lịch cuối tuần. Tiềm năng phát triển du lịch cuối tuần của Côn Sơn - Kiếp Bạc

Chương 1 làm rõ vai trò của du lịch cuối tuần trong việc tái tạo sức lao động, nâng cao chất lượng cuộc sống dân cư, điều hòa dòng vốn kinh tế về nông thôn và giảm thiểu tính mùa vụ du lịch. Tác giả tiến hành kiểm kê chi tiết tiềm năng tài nguyên của Côn Sơn - Kiếp Bạc:

  • Vị trí địa lý và giao thông: Nằm tại huyện Chí Linh, thuộc trung tâm vùng kinh tế Bắc Bộ, kết nối thuận lợi qua Quốc lộ 18, Quốc lộ 37 và hệ thống giao thông thủy dài 40 km. Điểm đến cách Hà Nội khoảng 80 km, cách Hải Phòng và Quảng Ninh trong cự ly ngắn, dễ dàng kết nối tour với Yên Tử, Gốm Chu Đậu, Phố Hiến.
  • Tài nguyên tự nhiên:
    • Địa hình đồi núi thấp với các đỉnh Côn Sơn (cao gần 200 m, có di tích Bàn Cờ Tiên và phế tích Am Bạch Vân), Ngũ Nhạc, Nam Tào, Bắc Đẩu.
    • Thủy văn: Hồ Côn Sơn rộng 43 ha (tôn tạo năm 1998); suối Côn Sơn dài khoảng 3 km nối từ dãy Côn Sơn và Ngũ Nhạc đổ ra hồ Côn Sơn, gắn liền di tích Thạch Bàn; hệ thống Lục Đầu Giang tại Kiếp Bạc hợp lưu từ các dòng sông Thương, Lục Nam, sông Cầu, sông Đuống đổ vào sông Thái Bình và sông Kinh Thầy.
    • Khí hậu: Nhiệt độ trung bình năm 23°C, lượng mưa 1.463 mm, độ ẩm trung bình 81,6%, không khí mát mẻ nhờ độ che phủ rừng.
    • Hệ sinh thái: Huyện Chí Linh có 2.389 ha rừng tự nhiên (thống kê 1999) với 507 loài thực vật; Côn Sơn có vườn thực vật 21 ha với 136 loài cây bản địa; Kiếp Bạc có núi Dược Sơn từng lưu giữ khoảng 600 loài dược liệu (thống kê thập niên 70), hiện còn hơn 50 loài thuốc Nam tồn tại (Lạc Tiên, Móng hổ, Cỏ Chỉ Thiên, Hà Thủ Ô) cùng các vườn vải thiều chín rộ vào tháng 5.
  • Tài nguyên nhân văn:
    • Hệ thống 59 di tích lịch sử tại Chí Linh (9 di tích xếp hạng cấp quốc gia). Cụm di tích bao gồm: Chùa Côn Sơn (chốn tổ Thiền phái Trúc Lâm cùng Yên Tử, Quỳnh Lâm, Thanh Mai); Đền Kiếp Bạc bên dòng Lục Đầu Giang; Đền Cao (xã An Lạc, thờ 5 anh em họ Vương chống Tống năm 981); Đền Chu Văn An (núi Phượng Hoàng, xã Văn An, xây mới năm 2007, xếp hạng năm 1998); Chùa Thanh Mai (xây dựng năm 1329, xếp hạng năm 1992); Đền Bà Chúa Sao Sa (thờ Tiến sĩ Nguyễn Thị Duệ); Đền Mẫu Sinh trên núi Ngũ Nhạc; Sân golf Ngôi Sao Chí Linh (325 ha, 36 lỗ tiêu chuẩn quốc tế AAA).
    • Lễ hội và ẩm thực: Lễ hội mùa xuân Côn Sơn (15-22 tháng Giêng); Lễ tưởng niệm Nguyễn Trãi (16/8 âm lịch); Lễ hội Kiếp Bạc (18-20/8 âm lịch) với nghi lễ rước kiệu thánh và Hội quân trên sông Lục Đầu quy tụ gần 100 thuyền rồng của ngư dân Quần Mục (Kiến Thụy, Hải Phòng) và Kênh Giang (Chí Linh). Ẩm thực đặc trưng gồm bánh đậu xanh, bánh khảo, cốm An Châu, bánh gai Ninh Giang và vải thiều.

Chương II: Thực trạng khai thác du lịch cuối tuần tại Côn Sơn - Kiếp Bạc

Chương 2 đánh giá thực trạng quản lý, hạ tầng, thị trường và chất lượng dịch vụ du lịch tại điểm đến thông qua các dữ liệu thực tế:

  • Công tác quy hoạch và quản lý: Quyết định số 920/QĐ-TTg ngày 18/6/2010 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt quy hoạch tổng thể khu di tích Côn Sơn - Kiếp Bạc với diện tích 8.340 ha (vùng bảo tồn và khai thác đặc biệt 3.568 ha), định hướng xây dựng các khu nghỉ dưỡng, khám chữa bệnh cổ truyền, dưỡng sinh, lưu trú 3-4 sao và khu cắm trại. Ban quản lý di tích Côn Sơn - Kiếp Bạc (thành lập theo Quyết định 153/QĐ-UB năm 1994, kiện toàn theo Quyết định 415/QĐ-UBND năm 2007 là đơn vị sự nghiệp cấp 2) gồm 5 phòng chuyên môn, quản lý 61 cán bộ, nhân viên và lao động hợp đồng (năm 2009).
  • Cơ sở hạ tầng kỹ thuật: Mạng lưới đường bộ gồm QL18, QL37, QL183 và các tuyến xe buýt công cộng (tuyến 208 Hải Dương - Bắc Giang, tuyến 209-208 Thái Bình - Côn Sơn - Kiếp Bạc, tuyến 18-208 Uông Bí - Côn Sơn - Kiếp Bạc). Toàn tỉnh có 21 doanh nghiệp vận tải với khoảng 700 xe khách. Hạ tầng cấp nước sinh hoạt tại Côn Sơn còn thiếu ổn định, phụ thuộc giếng khoan và nước mưa.
  • Thực trạng nguồn khách và doanh thu: Hoạt động du lịch tăng trưởng nhưng mất cân đối về cơ cấu mục đích chuyến đi. Khách du lịch chủ yếu đến vào mùa lễ hội (tháng Giêng và tháng Tám âm lịch) hoặc ghé qua trên tuyến Hà Nội - Quảng Ninh, lượng khách đi nghỉ dưỡng cuối tuần thuần túy chưa rõ nét.
  • Chất lượng dịch vụ du lịch:
    • Dịch vụ lưu trú: Toàn huyện có 120 cơ sở lưu trú với 1.268 phòng nghỉ, nhưng chỉ có 4 khách sạn hoạt động nổi bật (Hồ Côn Sơn, Công Đoàn, Thanh Bình, Lan Anh); chưa có khách sạn đạt tiêu chuẩn xếp sao của Tổng cục Du lịch; tại Kiếp Bạc hầu như không có cơ sở lưu trú đạt chuẩn.
    • Ăn uống, giải trí, mua sắm: Dịch vụ ăn uống thu hẹp quy mô ngoài mùa lễ hội; dịch vụ vui chơi giải trí đơn điệu; hàng hóa bày bán chủ yếu là vàng mã, đồ lễ và đồ lưu niệm thông thường, thiếu các sản phẩm dịch vụ đặc thù cho khách dã ngoại cuối tuần.

Chương III: Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả khai thác và thu hút khách du lịch đến với Côn Sơn - Kiếp Bạc vào cuối tuần

Dựa trên các kết quả phân tích tiềm năng và hạn chế thực trạng, định hướng giải pháp được đặt ra nhằm hoàn thiện sản phẩm và tăng sức hút cho điểm đến:

  • Đa dạng hóa loại hình sản phẩm: Từng bước chuyển đổi từ mô hình du lịch thuần tâm linh sang mô hình kết hợp tâm linh - sinh thái - nghỉ dưỡng cuối tuần; khai thác hoạt động cắm trại bên hồ Côn Sơn, dã ngoại rừng thông, trải nghiệm nông nghiệp làng quê (hái vải, câu cá) và leo núi khám phá.
  • Đầu tư đồng bộ hạ tầng và dịch vụ bổ trợ: Triển khai các hạng mục theo quy hoạch Quyết định 920/QĐ-TTg; nâng cấp cơ sở lưu trú đạt chuẩn xếp sao; bổ sung dịch vụ cho thuê xe đạp, dụng cụ cắm trại; nghiên cứu đưa vào khai thác tuyến vận chuyển khách du lịch bằng xe ngựa cự ly 6 km nối giữa Côn Sơn và Kiếp Bạc; giải quyết triệt để hệ thống cấp nước sạch.
  • Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực: Đào tạo chuyên sâu về kỹ năng hoạt náo, tổ chức sự kiện ngoài trời và nghiệp vụ hướng dẫn viên du lịch có trình độ ngoại ngữ.
  • Tăng cường xúc tiến quảng bá: Tập trung tiếp thị vào thị trường khách công sở, trường học, gia đình tại Hà Nội và công nhân các khu công nghiệp tại Hải Dương, Hải Phòng, Quảng Ninh.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã tổng hợp hệ thống số liệu phản ánh sự phát triển ngành du lịch Hải Dương và thực trạng tại Côn Sơn - Kiếp Bạc giai đoạn 2006-2010 qua các bảng thống kê:

Chỉ tiêu thống kê Dữ liệu ghi nhận trong văn bản Ghi chú nguồn
Tăng trưởng khách lưu trú tại Hải Dương Tăng trưởng bình quân 17,9%/năm (năm 2006 đạt 303.130 lượt) Đề án phát triển du lịch Hải Dương 2011-2015
Tăng trưởng khách không lưu trú tại Hải Dương Tăng trưởng bình quân 21,2%/năm Đề án phát triển du lịch Hải Dương 2011-2015
Số ngày lưu trú bình quân của khách 1,3 ngày/khách Đề án phát triển du lịch Hải Dương 2011-2015
Tốc độ tăng trưởng doanh thu du lịch Hải Dương Tăng trưởng bình quân 16,8%/năm Đề án phát triển du lịch Hải Dương 2011-2015
Mức phí tham quan di tích Côn Sơn, Kiếp Bạc 10.000 đồng/người/lượt (trẻ em giảm 50%) Quyết định số 01/2009/QĐ-UBND
Cơ cấu trình độ nhân sự Ban quản lý di tích >50% Đại học/Cao đẳng, 20% Trung cấp, gần 30% THPT Báo cáo Ban quản lý di tích (2009)

Bảng tổng hợp các chỉ tiêu phát triển du lịch và quản lý di tích Côn Sơn - Kiếp Bạc

Năm Doanh thu du lịch toàn tỉnh Hải Dương (Tỷ đồng)
2006 390,0
2007 465,0
2008 541,0
2009 637,0
2010 727,9

Bảng diễn biến doanh thu hoạt động du lịch tỉnh Hải Dương giai đoạn 2006-2010

Nhóm khách Tỷ lệ nhu cầu đi lễ, hành hương Tỷ lệ nhu cầu tham quan, học tập, nghiên cứu
Khách nội địa 98% 85%
Khách quốc tế 2% 15%

Bảng cơ cấu nhu cầu của du khách đến Côn Sơn - Kiếp Bạc (Nguồn: Báo cáo Phòng VHTT huyện Chí Linh, 2009)

Đóng góp của khóa luận thể hiện ở việc nhận diện rõ rào cản phát triển của Côn Sơn - Kiếp Bạc: sự chênh lệch quá lớn giữa hoạt động mùa lễ hội và ngày thường; sự thiếu hụt sản phẩm du lịch dã ngoại chuyên biệt; hệ thống lưu trú thiếu cơ sở cao cấp. Các đề xuất đưa ra gắn liền với thực tiễn quy hoạch tổng thể của tỉnh và Chính phủ, mang tính khả thi cho công tác quản lý điểm đến.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Số liệu điều tra thực trạng phụ thuộc chủ yếu vào các báo cáo hành chính thứ cấp giai đoạn 2006-2010 của địa phương; chưa tiến hành khảo sát định lượng sâu bằng bảng hỏi trên mẫu khách du lịch cuối tuần để lượng hóa mức chi tiêu, độ dài lưu trú và mức độ hài lòng đối với từng nhóm dịch vụ cụ thể.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu hành vi tiêu dùng và rào cản tâm lý của thị trường khách đô thị Hà Nội đối với các tour ngắn ngày; xây dựng mô hình liên kết chuỗi sản phẩm du lịch di sản - sinh thái giữa Côn Sơn - Kiếp Bạc với các điểm du lịch phụ cận trong vùng đồng bằng sông Hồng.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tư liệu hữu ích cho sinh viên, học viên ngành Du lịch, Văn hóa học, Quản trị dịch vụ du lịch và lữ hành khi nghiên cứu về phân khúc du lịch cuối tuần và phương thức khai thác di tích lịch sử - văn hóa. Tài liệu cung cấp bức tranh chi tiết về cơ cấu quản lý nhà nước tại di tích, hệ thống hóa toàn diện các danh thắng, chỉ số tự nhiên - nhân văn của huyện Chí Linh, đồng thời cung cấp phương pháp luận phân tích thực trạng điểm đến phục vụ công tác quy hoạch phát triển du lịch địa phương.

Câu hỏi thường gặp

1. Khái niệm du lịch cuối tuần được khóa luận tiếp cận theo những đặc trưng cơ bản nào? Du lịch cuối tuần được xác định là loại hình du lịch diễn ra vào những ngày nghỉ cuối tuần của người lao động (chủ yếu là cư dân đô thị và khu công nghiệp). Điểm đến thường nằm ở ngoại ô hoặc vùng phụ cận có khoảng cách từ 30 km đến trên dưới 100 km (thời gian di chuyển dưới 3 giờ), có cảnh quan thiên nhiên trong lành kết hợp tài nguyên nhân văn nhằm thỏa mãn nhu cầu nghỉ ngơi, phục hồi sức khỏe và giảm áp lực cuộc sống.

2. Quy hoạch tổng thể di tích Côn Sơn - Kiếp Bạc theo Quyết định 920/QĐ-TTg năm 2010 có quy mô và định hướng ra sao? Theo Quyết định số 920/QĐ-TTg ngày 18/6/2010 của Thủ tướng Chính phủ, phạm vi quy hoạch toàn huyện Chí Linh có tổng diện tích 8.340 ha, bao gồm vùng bảo tồn và khai thác đặc biệt (3.568 ha) và vùng đệm. Định hướng phát triển bao gồm các loại hình: du lịch nghỉ dưỡng núi, du lịch chữa bệnh - dưỡng sinh cổ truyền, du lịch cuối tuần, cắm trại vui chơi giải trí; quy hoạch hệ thống lưu trú đạt chuẩn khách sạn 3-4 sao và biệt thự.

3. Cơ cấu trình độ của đội ngũ nhân sự tại Ban quản lý di tích Côn Sơn - Kiếp Bạc năm 2009 được ghi nhận như thế nào? Năm 2009, Ban quản lý di tích có tổng số 61 cán bộ, công nhân viên và lao động hợp đồng. Về trình độ chuyên môn: trên 50% đạt trình độ Đại học và Cao đẳng, 20% đạt trình độ Trung cấp và gần 30% tốt nghiệp Phổ thông trung học.

4. Khóa luận ghi nhận thực trạng cơ sở lưu trú tại khu di tích Côn Sơn - Kiếp Bạc có những đặc điểm gì? Toàn huyện có 120 cơ sở lưu trú với 1.268 phòng nghỉ, nhưng quy mô nhỏ lẻ và chưa có khách sạn nào đạt tiêu chuẩn xếp sao của Tổng cục Du lịch. Chỉ có 4 khách sạn hoạt động đáng kể gồm: Hồ Côn Sơn, Công Đoàn, Thanh Bình và Lan Anh. Phần lớn các cơ sở lưu trú tập trung tại khu vực Côn Sơn và thị trấn Sao Đỏ, trong khi khu vực Kiếp Bạc hầu như chỉ có dịch vụ ăn uống.

5. Sự khác biệt về nhu cầu giữa khách du lịch nội địa và quốc tế tại Côn Sơn - Kiếp Bạc theo số liệu năm 2009 là gì? Theo số liệu năm 2009 của Phòng Văn hóa - Thông tin huyện Chí Linh, đối với nhu cầu đi lễ và hành hương, khách nội địa chiếm áp đảo với 98%, trong khi khách quốc tế chỉ chiếm 2%. Đối với nhu cầu tham quan, học tập và nghiên cứu, khách nội địa chiếm 85% và khách quốc tế chiếm 15%.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Hoàng Thị Bình đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về loại hình du lịch cuối tuần và đánh giá toàn diện nguồn tài nguyên tự nhiên, nhân văn của khu di tích Côn Sơn - Kiếp Bạc. Nghiên cứu chỉ ra những rào cản thực tiễn trong công tác khai thác dịch vụ như tính mùa vụ lễ hội cao, hạ tầng lưu trú và dịch vụ vui chơi giải trí còn đơn điệu, cơ cấu sản phẩm chưa đáp ứng nhu cầu du khách ngắn ngày. Đề tài đóng góp hệ thống giải pháp định hướng đa dạng hóa sản phẩm, nâng cấp cơ sở vật chất và tăng cường liên kết thị trường khách đô thị Hà Nội nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế - xã hội của di tích.