Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Đề tài "Tiềm năng phát triển du lịch huyện Bình Giang tỉnh Hải Dương" được sinh viên Nguyễn Thị Lõn (mã lớp VH1001) thực hiện trong khuôn khổ khóa luận tốt nghiệp đại học chuyên ngành Văn hóa Du lịch. Nghiên cứu xuất phát từ bối cảnh ngành du lịch đang trở thành ngành kinh tế mũi nhọn trên toàn cầu và tại Việt Nam. Huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương là địa phương thuộc vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng có bề dày lịch sử, truyền thống hiếu học lâu đời gắn với danh xưng "lò tiến sĩ xứ Đông", đồng thời sở hữu cảnh quan đồng quê Bắc Bộ đặc trưng, hệ thống di tích lịch sử - văn hóa dày đặc, nhiều lễ hội cổ truyền và các làng nghề thủ công truyền thống. Tuy nhiên, hoạt động du lịch tại địa phương vẫn phát triển mang tính tự phát, chưa có quy hoạch đồng bộ và chưa tương xứng với tiềm năng sẵn có.

Khóa luận xác định mục đích và các nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể như sau:

  1. Mục đích nghiên cứu: Xác định và đánh giá các tiềm năng du lịch tự nhiên cũng như nhân văn của huyện Bình Giang nhằm góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế địa phương; trên cơ sở phân tích thực trạng để đề xuất các định hướng, giải pháp phát triển sản phẩm du lịch đặc thù, tăng cường sức hút đối với du khách và đóng góp vào sự phát triển du lịch chung của tỉnh Hải Dương.
  2. Nhiệm vụ nghiên cứu:
    • Nhiệm vụ 1: Tổng quan cơ sở lý luận chung về du lịch và tài nguyên du lịch.
    • Nhiệm vụ 2: Khảo sát, phân tích và đánh giá hiện trạng tiềm năng du lịch tự nhiên, nhân văn, cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật và thị trường khách tại huyện Bình Giang.
    • Nhiệm vụ 3: Đề xuất hệ thống định hướng và giải pháp cụ thể nhằm khai thác hiệu quả các nguồn lực phục vụ phát triển du lịch địa phương.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Tiềm năng phát triển du lịch (bao gồm tài nguyên du lịch tự nhiên, tài nguyên du lịch nhân văn, hạ tầng kỹ thuật và các điều kiện kinh tế - xã hội liên quan) tại địa bàn huyện Bình Giang.
  • Phạm vi không gian: Toàn bộ địa giới hành chính huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương (diện tích 105,1 km² gồm 17 xã và 1 thị trấn).
  • Phạm vi thời gian: Thu thập số liệu thống kê và khảo sát thực địa tập trung trong giai đoạn 2008 – 2010.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận xây dựng nền tảng nghiên cứu dựa trên các khái niệm, quy định pháp lý và phân loại học thuật trong nước và quốc tế:

  • Khung khái niệm và lý thuyết:
    • Nguồn gốc thuật ngữ du lịch từ tiếng Pháp (tour, touriste) và lịch sử phát triển khái niệm từ khi thành lập Hiệp hội Quốc tế các Tổ chức Du lịch chính thức (IUOTO) năm 1925 tại Hà Lan; quan điểm đa chiều về định nghĩa du lịch theo Robert Languar.
    • Phân loại loại hình du lịch theo Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO): Du lịch quốc tế (Inbound, Outbound) và du lịch trong nước (Domestic, National).
    • Khái niệm hệ thống du lịch 4 thành phần của W. McIntosh (du khách, doanh nghiệp cung ứng, chính quyền địa phương, dân cư bản địa).
    • Khái niệm du lịch và tài nguyên du lịch theo Luật Du lịch Việt Nam.
    • Phân loại tài nguyên du lịch: Tài nguyên du lịch tự nhiên (địa hình đồng bằng, đồi núi, karst, ven bờ; khí hậu; tài nguyên nước mặt và nước khoáng chữa bệnh; sinh vật) và tài nguyên du lịch nhân văn (di tích lịch sử - văn hóa khảo cổ, lịch sử, kiến trúc nghệ thuật, danh lam thắng cảnh; lễ hội; phong tục tập quán dân tộc học; các công trình văn hóa - thể thao).
  • Phương pháp nghiên cứu:
    • Phương pháp khảo sát thực địa: Tiến hành điều tra, quan sát trực tiếp tại các điểm di tích, thắng cảnh ven sông, làng nghề và cơ sở dịch vụ trên địa bàn huyện nhằm thu thập tư liệu và thẩm định nhận định nghiên cứu.
    • Phương pháp thu thập và xử lý số liệu: Tập hợp các số liệu thứ cấp và tiến hành phân loại, so sánh, tổng hợp để phản ánh quy mô lượng khách, cơ sở lưu trú và cơ cấu kinh tế.
  • Nguồn dữ liệu sử dụng: Báo cáo và tư liệu lưu trữ của Phòng Văn hóa Thông tin huyện Bình Giang, Phòng Thống kê huyện Bình Giang, niên giám thống kê, các tài liệu sách báo, tạp chí chuyên ngành cùng các kết quả ghi nhận trực tiếp qua khảo sát thực tế của tác giả.

Nội dung chính theo từng chương

Chương I: Cơ sở lý luận chung

Chương I hệ thống hóa toàn bộ khung lý luận về du lịch và tài nguyên du lịch phục vụ cho việc phân tích thực tiễn:

  • Trình bày sự hình thành các định nghĩa về du lịch dưới góc độ kinh tế, xã hội và pháp luật, nhấn mạnh bản chất du lịch là hoạt động di chuyển và lưu trú tạm thời ngoài nơi cư trú thường xuyên nhằm đáp ứng các nhu cầu nghỉ ngơi, nâng cao nhận thức, giải trí và hồi phục sức khỏe.
  • Làm rõ đặc điểm và vai trò của tài nguyên du lịch: Tài nguyên du lịch có tính mùa vụ, tính bất biến về mặt không gian lãnh thổ, vốn đầu tư khai thác ban đầu tương đối thấp so với nhiều ngành công nghiệp, có khả năng tái tạo hoặc sử dụng nhiều lần nếu có phương thức quản lý và bảo vệ hợp lý. Tài nguyên đóng vai trò là tiền đề hình thành sản phẩm du lịch, quyết định chất lượng dịch vụ và cấu thành hệ thống tổ chức không gian lãnh thổ du lịch.
  • Phân tích chi tiết hai nhóm tài nguyên:
    • Tài nguyên du lịch tự nhiên: Gồm địa hình (đặc điểm của đồng bằng, đồi núi, hang động karst, vùng nước ven bờ); khí hậu (nhiệt độ, độ ẩm, gió, tính mùa vụ du lịch); tài nguyên nước (nước mặt sông hồ với ngưỡng nhiệt độ tối thiểu 18°C đối với người lớn và trên 20°C đối với trẻ em; nước khoáng phân loại theo nhóm cacbônic, silic, brôm-iốt-bo, sunfua hydro...); tài nguyên sinh vật (phục vụ tham quan, săn bắn thể thao hoặc nghiên cứu khoa học).
    • Tài nguyên du lịch nhân văn: Do con người kiến tạo, mang tính nhận thức sâu sắc, ít chịu tác động bởi tính mùa vụ, thường phân bố tập trung tại các khu dân cư và đô thị. Chương I phân loại cụ thể các di tích khảo cổ, di tích lịch sử, di tích kiến trúc nghệ thuật, danh thắng, cấu trúc lễ hội (gồm phần lễ trang trọng và phần hội sinh hoạt cộng đồng) cùng các giá trị văn hóa dân tộc học.

Chương II: Tiềm năng phát triển du lịch huyện Bình Giang

Chương II tập trung khảo sát, đánh giá toàn diện tiềm năng và hiện trạng phát triển du lịch tại huyện Bình Giang:

  • Khái quát vị trí và bối cảnh địa phương:
    • Huyện Bình Giang nằm ở phía tây tỉnh Hải Dương (tọa độ khoảng 21° vĩ độ Bắc và 105° kinh độ Đông), diện tích tự nhiên 105,1 km², bao gồm 17 xã và 1 thị trấn; tiếp giáp các huyện Cẩm Giàng, Thanh Miện, Gia Lộc (tỉnh Hải Dương) và các huyện Mỹ Hào, Ân Thi (tỉnh Hưng Yên).
    • Lịch sử hình thành: Từng mang tên huyện Đường An (từ năm 825 khi Thứ sử Vũ Hồn cắm đất lập ấp Mộ Trạch), thuộc phủ Lạng Giang thời thuộc Minh, thuộc phủ Thượng Hồng thời Lê, đổi thành phủ Bình Giang năm Minh Mệnh thứ 3 (1822), đổi thành huyện Năng An năm 1885, đổi tên thành huyện Bình Giang sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945.
  • Tiềm năng tài nguyên du lịch:
    • Tài nguyên tự nhiên: Địa hình thuần đồng bằng do phù sa sông Hồng và sông Thái Bình bồi đắp, đất đai màu mỡ; khí hậu nhiệt đới gió mùa chia làm mùa nóng mưa nhiều (tháng 5–10) và mùa lạnh khô ẩm (tháng 11–4 năm sau) với nhiệt độ trung bình 24°C, lượng mưa 1.664 mm/năm, độ ẩm 70–80%; mạng lưới sông ngòi bao quanh gồm sông Sặt (Kim Sơn), sông Đình Hào, sông Cửu An (Kênh Hai), sông Cầu Cốc, sông Cầu Lâm và hệ thống kênh rạch thủy lợi.
    • Tài nguyên nhân văn: Toàn huyện có 125 di tích lịch sử - văn hóa các loại, trong đó có 19 di tích đã được xếp hạng (12 di tích cấp quốc gia và 7 di tích cấp tỉnh).
STT Loại hình di tích Số lượng Di tích cấp quốc gia Di tích cấp tỉnh
1 Đình 13 8 5
2 Đền 1 0 1
3 Chùa 2 1 1
4 Miếu 1 1 0
5 Nhà thờ họ 1 1 0
6 Di tích danh nhân 1 1 0
Tổng 19 12 7

Nguồn: Phòng Văn hóa Thông tin huyện Bình Giang

Các di tích tiêu biểu gồm: Đình Mộ Trạch và Cổ miếu Mộ Trạch (xã Tân Hồng, thờ thành hoàng Vũ Hồn, lưu giữ 22 bia đá cổ và nhiều sắc phong); Nhà thờ dòng họ Nhữ / Từ Hiếu Đường (xã Thái Học, thờ Tiến sĩ Nhữ Văn Lan, công nhận cấp quốc gia năm 1996, giữ 31 đạo sắc phong); Đình Mạc Xá (xã Tân Hồng, xếp hạng quốc gia năm 2001); Đình Cao Xá (xã Thái Hòa, thờ các tướng Phan Chí, Phan Khí, Phan Minh, xếp hạng quốc gia năm 1995).

Lễ hội truyền thống và làng nghề phong phú:

STT Tên lễ hội Thời gian tổ chức Địa điểm Nội dung / Đối tượng suy tôn
1 Lễ hội Mộ Trạch Mùng 8 tháng Giêng (Âm lịch) Xã Tân Hồng Thờ Thành hoàng Vũ Hồn; tế lễ, trò chơi giải chữ, đố chữ, cờ người
2 Lễ hội đình Cậy Mùng 10 tháng 3 (Âm lịch) Xã Long Xuyên Thờ Bảo Phúc Đại Vương; nghi thức tế lễ, diễn xướng rước "ngài bay"
3 Lễ hội đình Châu Khê 19 – 20 tháng Giêng (Âm lịch) Xã Thúc Kháng Thờ Thành hoàng làng Phạm Sĩ; nghi lễ tế truyền thống
4 Lễ hội đình Cao Xá Mùng 6 tháng Giêng (Âm lịch) Xã Thái Hòa Thờ tướng quân Phan Chí, Phan Minh, Phan Khí; trò diễn đánh trận
5 Lễ Giáng sinh Ngày 24 tháng 12 (Dương lịch) Thị trấn Kẻ Sặt Sinh hoạt tôn giáo tại Nhà thờ Sặt; rước kiệu, thánh ca, canh thức

Nguồn: Phòng Văn hóa Thông tin huyện Bình Giang

Hệ thống làng nghề nổi bật gồm có: Làng nghề kim hoàn vàng bạc Châu Khê (xã Thúc Kháng), Mộc Trại Như (xã Bình Xuyên), Gốm sứ Cậy (xã Long Xuyên), Mộc bàn ghế Lương Độ (xã Hưng Thịnh), Nghề nhuộm vải Đan Loan (xã Nhân Quyền). Ẩm thực truyền thống đặc sắc với bánh đa đường Kẻ Sặt (định lượng chuẩn: 10 ống gạo sản xuất 100 bánh, kết hợp 4 kg đường, 1 kg vừng, 1,5 kg lạc và dừa, 1–2 g gừng), bánh trôi làng Hạ (xã Bình Minh), bánh cuốn làng Mòi (xã Vĩnh Tuy), bún Me, chè Cậy.

  • Thực trạng khai thác và cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch:
    • Tình hình khai thác: Mới đưa vào khai thác khoảng 7% tổng số di tích; khai thác du lịch tự nhiên còn hạn chế (điểm sông Thánh tại thôn Ô Xuyên, xã Cổ Bì đón khoảng 50 lượt khách trong tháng 3 và 4/2010).
    • Lượng khách du lịch:
Năm Khách nội địa (lượt) Khách quốc tế (lượt) Tổng lượng khách (lượt)
2008 1.687 100 1.787
2009 2.165 150 2.315

Nguồn: Phòng Văn hóa Thông tin huyện Bình Giang

Đặc điểm thị trường khách: Khách nội địa chiếm đa số, chủ yếu từ các địa phương lân cận, lưu trú ngắn ngày (trong ngày), mức chi tiêu bình quân thấp (100.000 – 150.000 đồng/người). Khoảng 90% lượng khách tập trung tại 5 điểm: Lễ hội Mộ Trạch, đình Châu Khê, làng nghề Châu Khê, làng gốm Cậy và Nhà thờ Sặt.

  • Hạ tầng kỹ thuật phục vụ du lịch:
    • Giao thông: Có Quốc lộ 5, tuyến đường 194, Quốc lộ 39B; đường thủy trên sông Sặt, sông Đình Hào, sông Cửu An với các bến thuyền Sặt, Cậy, Chợ Hà.
    • Bưu chính viễn thông: 18 điểm bưu điện văn hóa (17 điểm cấp xã, 1 điểm thị trấn).
    • Lưu trú và ăn uống: Có 10 cơ sở nhà nghỉ với tổng số 47 phòng (tập trung ở Kẻ Sặt và Phủ Bình, tiêu biểu như Hoàng Dương, Tân Bình); khoảng 50 nhà hàng, quán ăn quy mô vừa và nhỏ.
    • Vui chơi giải trí: Khoảng 100 cơ sở dịch vụ nhỏ (karaoke, quán giải khát).
    • Dân số - Lao động: Dân số toàn huyện là 105.100 người, mật độ 1.003 người/km², lực lượng trong độ tuổi lao động đạt 70.600 người (chiếm 52,5%). Trình độ cao đẳng, trung cấp đạt 4,5%; đại học trở lên đạt 3%. Nhân lực trực tiếp phục vụ du lịch chủ yếu là cán bộ Phòng Văn hóa Thông tin và người trông coi di tích, chưa qua đào tạo chuyên môn bài bản về du lịch và ngoại ngữ.
  • Đánh giá kinh tế: Năm 2009, tổng giá trị tăng trưởng toàn huyện đạt gần 1.166 tỷ đồng (tăng 10%); giá trị sản xuất công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp đạt trên 200 tỷ đồng (tăng 14,2%); tỷ trọng nông nghiệp chiếm 39%. Doanh thu từ du lịch chưa được hạch toán độc lập mà tính gộp trong ngành dịch vụ nên hiệu quả kinh tế chưa rõ nét.

Chương III: Định hướng và một số giải pháp để phát triển du lịch

Theo cấu trúc đã công bố trong phần mở đầu, Chương III tập trung vào việc đề xuất hệ thống định hướng quy hoạch và giải pháp thực thi nhằm tháo gỡ các điểm nghẽn của du lịch Bình Giang:

  • Định hướng quy hoạch phát triển không gian du lịch theo tuyến điểm: Tuyến du lịch đường thủy sinh thái trên sông Đình Hào, sông Sặt kết nối làng nghề gốm Cậy, mộc Lương Độ; tuyến du lịch văn hóa tâm linh kết nối đình Mộ Trạch, đình Châu Khê, nhà thờ họ Nhữ và nhà thờ Kẻ Sặt.
  • Giải pháp hoàn thiện sản phẩm du lịch đặc thù: Gắn kết sản phẩm thủ công mỹ nghệ (vàng bạc Châu Khê, gốm Cậy) và sản phẩm ẩm thực truyền thống (bánh đa đường Kẻ Sặt, bánh trôi làng Hạ, bánh cuốn làng Mòi) thành các mặt hàng quà tặng lưu niệm hoàn chỉnh phục vụ du khách.
  • Giải pháp đào tạo và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực: Bồi dưỡng nghiệp vụ thuyết minh tại điểm cho ban quản lý di tích và cán bộ văn hóa cơ sở; đào tạo kỹ năng phục vụ cho các cơ sở lưu trú và ăn uống.
  • Giải pháp quản lý môi trường và xúc tiến đầu tư: Tăng cường quản lý rác thải tại các bến sông và di tích trong mùa lễ hội; ngăn chặn tình trạng chèo kéo, ăn xin; đẩy mạnh quảng bá hình ảnh địa phương và hoàn thiện cơ chế thu hút vốn đầu tư cơ sở vật chất du lịch.

Kết quả và đóng góp

  • Kết quả nghiên cứu chính:
    • Khóa luận đã lập bảng kiểm kê chi tiết về hiện trạng tài nguyên du lịch nhân văn của huyện Bình Giang với 125 di tích (trong đó có 12 di tích cấp quốc gia và 7 di tích cấp tỉnh), cùng 6 làng nghề truyền thống đang hoạt động có hiệu quả và hệ thống ẩm thực dân gian đặc trưng.
    • Phân tích số liệu thực tế về thị trường khách và cơ sở vật chất kỹ thuật: Ghi nhận mức tăng trưởng khách nội địa từ 1.687 lượt (năm 2008) lên 2.165 lượt (năm 2009) và khách quốc tế từ 100 lượt lên 150 lượt; thống kê toàn diện hệ thống gồm 10 nhà nghỉ (47 phòng), 50 cơ sở ăn uống và 18 điểm bưu điện văn hóa trên địa bàn.
    • Chỉ rõ thực trạng hoạt động du lịch của địa phương đang ở giai đoạn sơ khai, tỷ lệ di tích đưa vào khai thác du lịch mới đạt khoảng 7%, doanh thu du lịch chưa được thống kê độc lập và còn phụ thuộc vào mùa vụ lễ hội.
  • Hệ thống giải pháp và đóng góp của tác giả:
    • Cung cấp nguồn tư liệu khảo sát thực địa có giá trị thực tiễn đối với công tác quản lý của ngành văn hóa - du lịch địa phương.
    • Đề xuất các giải pháp khả thi nhằm liên kết các điểm di tích lịch sử với các làng nghề truyền thống dọc các tuyến sông (sông Sặt, sông Đình Hào) để tạo lập chuỗi sản phẩm du lịch đặc thù cho huyện Bình Giang.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế:
    • Phạm vi dữ liệu thứ cấp về doanh thu du lịch chưa được phân tách riêng biệt khỏi tổng mức dịch vụ chung của huyện, dẫn đến việc đánh giá đóng góp của ngành du lịch vào cơ cấu kinh tế địa phương còn mang tính định tính.
    • Khảo sát thực địa tập trung nhiều vào các di tích và lễ hội trọng điểm (Mộ Trạch, Châu Khê, Kẻ Sặt, đình Cậy), chưa thể bao quát sâu toàn bộ 125 di tích trên địa bàn 17 xã.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Khảo sát chuyên sâu về mức độ hài lòng và chi tiêu chi tiết của từng phân khúc du khách tại các làng nghề truyền thống.
    • Nghiên cứu mô hình liên kết vùng giữa du lịch huyện Bình Giang với các trung tâm du lịch lân cận của tỉnh Hải Dương (Côn Sơn - Kiếp Bạc, Văn Miếu Mao Điền) và các tỉnh thuộc vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ (Hà Nội, Hải Phòng, Hưng Yên).

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích đối với:

  • Sinh viên, học viên chuyên ngành Du lịch, Văn hóa học, Địa lý kinh tế khi nghiên cứu về đánh giá tiềm năng và tổ chức không gian du lịch cấp quận/huyện.
  • Cán bộ quản lý văn hóa, thông tin và xúc tiến du lịch tại huyện Bình Giang và tỉnh Hải Dương trong việc xây dựng hồ sơ di tích, quy hoạch sản phẩm du lịch làng nghề và tuyến tham quan đường sông.
  • Các đơn vị lữ hành đang nghiên cứu xây dựng tour du lịch đồng quê, du lịch làng nghề và du lịch tâm linh tại khu vực châu thổ sông Hồng.

Câu hỏi thường gặp

1. Huyện Bình Giang có bao nhiêu di tích lịch sử văn hóa đã được xếp hạng theo thống kê trong khóa luận?
Toàn huyện có tổng cộng 125 di tích lịch sử văn hóa, trong đó có 19 di tích đã được xếp hạng chính thức (gồm 12 di tích cấp quốc gia và 7 di tích cấp tỉnh).

2. Lượng khách du lịch đến huyện Bình Giang giai đoạn 2008 – 2009 đạt bao nhiêu lượt?
Năm 2008, huyện đón 1.687 lượt khách nội địa và 100 lượt khách quốc tế (tổng cộng 1.787 lượt). Năm 2009, lượng khách đạt 2.165 lượt khách nội địa và 150 lượt khách quốc tế (tổng cộng 2.315 lượt).

3. Khách du lịch tại huyện Bình Giang chủ yếu tập trung vào những địa điểm và khoảng thời gian nào?
Khoảng 90% lượng du khách tập trung tại 5 điểm chính: Lễ hội đình Mộ Trạch, Lễ hội đình Châu Khê, làng nghề vàng bạc Châu Khê, làng gốm Cậy và Nhà thờ Sặt. Lượng khách tập trung đông nhất vào dịp đầu năm âm lịch (mùa lễ hội dân gian) và dịp cuối năm dương lịch (lễ Giáng sinh tại Kẻ Sặt).

4. Khóa luận ghi nhận công thức và tỷ lệ nguyên liệu tiêu chuẩn để sản xuất 100 chiếc bánh đa đường Kẻ Sặt như thế nào?
Để sản xuất 100 chiếc bánh đa đường Kẻ Sặt, tỷ lệ nguyên liệu tiêu chuẩn gồm: 10 ống gạo ngon, 4 kg đường kính, 1 kg vừng xát vỏ, 1,5 kg lạc và dừa thái mỏng, cùng 1 đến 2 gam nước cốt gừng giã nhỏ.

5. Thực trạng cơ sở hạ tầng lưu trú và nguồn nhân lực phục vụ du lịch tại huyện Bình Giang được phản ánh ra sao?
Đến năm 2009, toàn huyện có 10 nhà nghỉ với 47 phòng hoạt động ở quy mô vừa và nhỏ tại thị trấn Kẻ Sặt và Phủ Bình. Nhân lực du lịch chưa được đào tạo bài bản về nghiệp vụ và ngoại ngữ, chủ yếu là cán bộ Phòng Văn hóa Thông tin và các cá nhân trông coi tại các điểm di tích.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp "Tiềm năng phát triển du lịch huyện Bình Giang tỉnh Hải Dương" của sinh viên Nguyễn Thị Lõn đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về tài nguyên du lịch và phân tích bức tranh hiện trạng du lịch địa phương dựa trên các dữ liệu khảo sát thực tế. Công trình làm nổi bật giá trị của hệ thống 125 di tích, các lễ hội truyền thống, làng nghề và sản phẩm ẩm thực đặc trưng vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng. Mặc dù hoạt động du lịch tại thời điểm nghiên cứu còn bộc lộ nhiều hạn chế về quy hoạch, cơ sở hạ tầng và năng lực nguồn nhân lực, đề tài đã đề xuất được những định hướng thiết thực nhằm khai thác hợp lý nguồn tài nguyên, hướng tới mục tiêu phát triển du lịch bền vững cho huyện Bình Giang.