mở đầu ngày hội bao giờ cũng mang tính tưởng niệm lịch sử, hướng về một sự kiện lịch sử trọng đại, một vị anh hùng lỗi lạc có ảnh hưởng tới sự phát triển xã hội. Nghi thức tế lễ nhằm bày tỏ lòng tôn kính với các bậc thánh hiền và thần linh, cầu mong được thiên thời, địa lợi, nhân hoà và sự phồn vinh hạnh phúc. Nghi lễ tạo thành nền móng vững chắc, tạo một yếu tố thiêng liêng, một giá trị thẩm mỹ đối với toàn thể cộng đồng, người đi hội trước khi chuyển sang phần xem hội. +phần hội: diễn ra những hoạt động biểu tượng điển hình của tâm lý cộng đồng, văn hoá dân tộc, chứa đựng những quan niệm của dân tộc đối với thực tế lịch sử, xã hội và thiên nhiên.
Trong hội, thường có những trò chơi tượng trưng cho sự nhớ ơn và ghi công của người xưa. Thời gian lễ hội Lễ hội xuất hiện vào thời điểm linh thiêng của sự chuyển tiếp giữa hai mùa, đánh dấu sự kết thúc của một chu kỳ lao động, chuẩn bị bước sang một chu kỳ mới. Lễ hội tập trung nhất vào mùa xuân,ngoài ra còn có hội thu. Các đối tượng gắn với dân tộc học Mỗi một dân tộc có những điều kiện sinh sống, những đặc điểm văn hoá, phong tục tâp quán, hoạt động sản xuất mang những sắcthái riêng của mình và có địa bàn cư trú nhất định.
Những đặc thù của từng dân tộc có sức hấp dẫn riêng đối với kách du lịch. Các đối tượng du lịch gắn với dân tộc học có ý nghĩa với du lịch là các tập tục lạ về cư trú, về tổ chức xã hội và thói quen ăn uống sinh hoạt, kiến trúc cổ, các nét truyền thống trong quy hoạch cư trú và xây dựng, trang phục dân tộc… Sinh viên: Nguyễn Thị Lõn - VH1001 17 Khoá luận tốt nghiệp 1. Các đối tượng văn hoá, thể thao và hoạt động nhận thức khác Các đối tượng văn hoá cũng thu hút khách du lịch với mục đích tham quan, nghiên cứu. Đó là các trung tâm của các viện khoa học, các trường đại học, các thư viện lớn và nổi tiếng, các thành phố có triển lãm nghệ thuật, các trung tâm thường xuyên tổ chức liên hoan âm nhạc, sân khấu, điện ảnh, các cuộc thi đấu thể thaoquốc tế, các cuộc thi hoa hậu… Tiểu kết chƣơng I Với việc đưa ra những khái niệm của các nhà nghiên cứu, các kết quả nghiên cứu của các tổ chức, các học giả nhằm đưa ra được sự tổng hợp bao quát trong phạm vi nghiên cứu của đề tài.
Những lý luận chung, cơ bản sẽ giúp cho hoạt động tìm hiểu đề tài được thêm phong phú và có định hướng đúng đắn trong cách tiếp cận nguồn tài nguyên cho việc khai thác triển du lịch hiện nay. Nghiên cứu đưa ra những khái niệm về du lịch và tài nguyên du lịch sẽ giúp ích cho việc có cái nhìn tổng quát về toàn bộ giá trị tài nguyên và hoạt động du lịch trên địa bàn nghiên cứu, phục vụ công tác nghiên cứu đề tài một cách tích cực. Trước những thay đổi trong thời kỳ hội nhập, việc đưa những lý luận chung về xu thế phát triển du lịch hiện nay, sẽ giúp cho đề tài đi đúng hướng trong việc xây dựng những giải pháp phát triển phù hợp cho địa bàn nghiên cứu, thúc đẩy du lịch của địa bàn nghiên cứu phát triển. Sinh viên: Nguyễn Thị Lõn - VH1001 18 Khoá luận tốt nghiệp CHƢƠNG II:TIỀM NĂNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH HUYỆN BÌNH GIANG 2.
Khái quát về tỉnh Hải Dƣơng Hải Dương là một tỉnh nằm ở trung tâm châu thổ sông Hồng trong phạm vi 20độ 36 đến 21độ 33 vĩ độ bắc và từ 106độ 30 đến 106 độ 36 kinh độ đông. Phía bắc giáp Bắc Ninh, Bắc Giang, Quảng Ninh, phía đông giáp Hải Phòng, phía tây giáp Hưng Yên, phía nam giáp Thái Bình, thành phố Hải Dương cách Hà Nội 60 km. Hải Dương có diện tích là:1.648km2, với dân số là: 1.711522 người, tỉnh lị là thành phố Hải Dương. Hải Dương là một bộ phận lãnh thổ nằm trong địa bàn kinh tế trọng điểm Bắc Bộ và đồng thời cũng là địa bàn du lịch trọng điểm ở phía bắc, có tuyến đường bộ,đương sắt quan trọng của quốc gia chạy qua như quốc lộ 5, quốc lộ 18, quốc lộ 183, quốc lộ 37.
Đường cao tốc số 5 và tuyến đường xe lửa nối Hà Nội với Hải Phòng chạy xuyên suốt tỉnh và chia tỉnh ra làm hai phần trong đó thành phố Hải Dương nằm giữa trung tâm điểm của hệ thống giao thông vận tải này, là nơi có khối lượng hàng hoá và khách du lịch đi qua rất nhiều. Đường quốc lộ 18 nối Hà Nội -Bắc Ninh -Hạ Long đi qua tỉnh với chiều dài 20 km, đi qua địa phận khu di tích Côn Sơn-Kiếp Bạc tạo điều kiện thuận lợi cho du khách trong và ngoài nước tới tham quan khu di tích này. Ngoài ra tỉnh còn là hệ thống giao thông đường thuỷ chính của vùng châu thổ, đặc biệt là hệ thống sông Thái Bình có điểm gặp sông Đuống đến Phả Lại dừng chân thăm Côn Sơn -Kiếp Bạc, sau đó theo sông Thái Bình, sông Kinh Môn tới tham Kính Chủ (Nam Thiên đệ lục động ), hay xuôi dòng Kinh Thầy tới, khu hang động Nhị Chiếu từ đâycó thể tới vịnh Hạ Long bằng đường thuỷ. Hải Dương tuy không có biển nhưng có khí hậu rất thuận lợi để phát triển du lịch, Hải Dương có tài nguyên du lịch nhân văn vô cùng phong phú Sinh viên: Nguyễn Thị Lõn - VH1001 19 Khoá luận tốt nghiệp và đa dạng.
Là nơi in đậm dấu ấn lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc, nơi gắn liền với tên tuổi của các danh nhân của dân tộc. Vì vậy đến với Hải Dương du khách không thể bỏ qua các điểm du lịch nổi tiếng như: Côn Sơn - Kiếp Bạc, Văn Miếu Mao Điền…và tham dự các lễ hội của tỉnh như: lễ hội Côn Sơn-Kiếp Bạc, hội đền Cuối(Gia Lộc), hội đền An Phụ (Kinh Môn)…cùng nhau thưởng thức những đặc sản nổi tiếng của vùng đất Hải Dương như: bánh đậu xanh, bánh gai Ninh Giang, vải thiều Thanh Hà…Chính những điều này đã thu hút khách du lịch đến Hải Dương. Hiện nay du lịch Hải Dương đang ngày càng thu hút được nhiều lượng khách đến du lịch, không chỉ có khách du lịch trong nước mà còn thu hút cả khách quốc tế. Tiềm năng phát triển du lịch huyện Bình Giang 2.
Khái quát về huyện Bình Giang Lịch sử hình thành và phát triển của huyện Bình Giang Qua các triều đại lịch sử Việt Nam, qua kiểm kê các di tích lịch sử văn hoá của các làng trong huyện năm 1999, chúng ta thấy từ trước công nguyên, dưới thời Hùng Vương, Thục Vương đến sau công nguyên, thời Bà Trưng, Lý Bôn, Đinh Tiên Hoàng, Lê Đại Hành, nhà Lý, nhà Trần…còn lưu giữ lại nhiều chứng tích nói lên người và đất Bình Giang có từ thời xa xưa của dân tộc Việt Nam. 18 đời vua Hùng Vương so với dương lịch ước khoảng từ năm 2879 đến năm 258 trước công nguyên (2661 năm) và từ năm 275 đến năm 40 sau công nguyên (27 năm) huyện Bình Giang có nhiều người con đứng lên chiêu binh luyện võ giúp nhà vua đánh giặc lập công, được phong làm thành hoàng làng, sử chép là thời Bắc thuộc lần thứ nhất. Phong kiến xâm lược phương bắc, coi nước ta như một bộ phận của Trung Hoa, nhà Hán chia nước ta làm 9 quận, trong 9 quận thì có 3 quận thuộc đất nước ta ngày nay: đó là Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam. Huyện Bình Giang thuộc đất Giao Chỉ.
Sinh viên: Nguyễn Thị Lõn - VH1001 20 Khoá luận tốt nghiệp Nhà Đường nước Trung Hoa đô hộ nước ta, gọi nước ta là An Nam phủ, chia làm 12 châu, 8 châu còn lại thuộc về đất nước Việt nam. Huyện Bình Giang thuộc về Giao Châu. Năm 825, vua Đường sai Vũ Hồn sang làm thứ sử Giao Châu, trong quá trình làm quan Ông đã cắm đất lập ấp ở làng Mộ Trạch, và đặt tên huyện Bình Giang là huyện Đường An. Năm 863, nhà Đường bỏ chức đô hộ phủ, đặt ra Hành Giao Châu ở Hải môn trấn.
Huyện Bình giang vẫn giữ tên là Đường An. Ngô Quyền xưng vương đóng đô ở Cổ Loa. Sau Ngô Quyền đến thời vua Đinh, vua Lê thì huyện Bình Giang vẫn giữ nguyên tên là Đường An. Năm 1010, nhà Lý lên thay nhà Lê, dưới triều Lý, tỉnh Hải Dương là Hồng Châu.
Huyện Bình Giang vẫn giữ nguyên là Đường An. Đến nhà Trần, nhà Hồ huyện Bình Giang vẫn giữ nguyên tên gọi là Đường An. Năm 1407 nhà Minh đánh nhà Hồ, chiếm nước ta 20 năm, từ năm 1407 đến 1427, thời thuộc Minh, Hải Dương chia làm 2 phủ là Lạng Giang và Tiên An. Phủ Lạng Giang có 3 châu và 5 huyện, huyện Đường An thuộc quyền cai quản của châu Nam Sách.
Năm 1428, nhà Lê phục hồi nền độc lập dân tộc, tên nước và kinh đô vẫn giữ nguyên như nhà Trần. Đất Hải Dương thuộc về Đông Đạo, gồm 4 lộ: Thượng Hồng, Hạ Hồng, Nam Sách, An Bang. Huyện Bình Giang thuộc lộ Thượng Hồng. Đến thời Nguyễn, năm Minh Mệnh thứ 3 tức năm 1822, vì kiêng tên huý của nhà vua là “Hồng” mà đổi phủ Thượng Hồng thành phủ Bình Giang.
Năm Đồng Khánh thứ nhất, tức năm 1885, vì kiêng từ huý nhà vua là “Đường” mà đổi huyện Đường An ra huyện Năng An. Năm 1898, người Pháp bỏ cấp phủ. Tri phủ Bình Giang đưa xuống tri huyện Năng Yên, đổi tên huyện Năng Yên ra phủ Bình Giang, rồi sau cách mạng tháng Tám năm 1945 lại gọi là huyện Bình Giang. Sinh viên: Nguyễn Thị Lõn - VH1001 21 Khoá luận tốt nghiệp Năm 1968, nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà hợp hai tỉnh Hải Dương và Hưng Yên thành tỉnh Hải Hưng, năm 1997 lại tách ra.
Năm 1977, hợp hai huyện Bình Giang và Cẩm Giàng thành huyện Cẩm Bình. Năm 1997 lại tách ra làm hai huyện Cẩm Giàng và Bình Giang. Người Bình Giang đã đạt được nhiều thành tích to lớn trong cuộc cuộc kháng chiến, trong xây dựng và phát triển là nhờ vào tinh thần hy sinh, vượt khó khăn của toàn thể cán bộ đảng viên và từng người dân.