Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Khóa luận tốt nghiệp "Nghiên cứu phát triển du lịch huyện Chương Mỹ - Thành phố Hà Nội" do sinh viên Tô Thị Huyền Trang (lớp VH903, chuyên ngành Văn hóa du lịch) thực hiện. Nghiên cứu bắt nguồn từ bối cảnh kinh tế - xã hội cụ thể: tỉnh Hà Tây (cũ) đã xác định phát triển kinh tế công nghiệp và lấy du lịch là ngành kinh tế mũi nhọn. Bước ngoặt lịch sử diễn ra vào ngày 01/08/2008 khi toàn bộ tỉnh Hà Tây được sáp nhập vào Thành phố Hà Nội, mở ra cơ hội kết nối tài nguyên du lịch địa phương vào mạng lưới du lịch chung của Thủ đô và cả nước. Cùng với đó, làn sóng đô thị hóa nhanh chóng thúc đẩy nhu cầu du lịch nghỉ dưỡng cuối tuần tại các địa bàn ven đô cự ly gần. Huyện Chương Mỹ sở hữu nhiều tiềm năng nổi bật như cụm danh thắng Tử Trầm Sơn, chùa Trăm Gian, khu du lịch sinh thái Xuân Mai, làng nghề mây tre đan Phú Vinh, cùng các dự án hạ tầng lớn như chuỗi đô thị Xuân Mai - Hòa Lạc - Sơn Tây và dự án sân bay quốc tế Miếu Môn. Tuy nhiên, hoạt động du lịch tại địa phương vẫn chưa tương xứng với tiềm năng; cơ sở vật chất kỹ thuật và hạ tầng dịch vụ còn thiếu thốn, tài nguyên phần lớn mới dừng ở dạng tiềm năng thô chưa được đầu tư khai thác bài bản.
Xuất phát từ thực trạng trên, tác giả xác định mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể như sau:
- Mục đích nghiên cứu (gồm 3 mục đích):
- Làm rõ khái niệm cung - cầu du lịch và những vấn đề liên quan.
- Đánh giá tiềm năng phát triển du lịch ở huyện Chương Mỹ.
- Đánh giá hiện trạng hoạt động du lịch và đề xuất các giải pháp phát triển du lịch ở huyện Chương Mỹ.
- Nhiệm vụ nghiên cứu (gồm 3 nhiệm vụ):
- Phân tích các nhân tố ảnh hưởng tới sự hình thành và phát triển du lịch.
- Nghiên cứu, đánh giá tiềm năng du lịch ở huyện Chương Mỹ.
- Đánh giá hiện trạng hoạt động du lịch và đưa ra các giải pháp phát triển du lịch ở huyện Chương Mỹ.
Về phạm vi nghiên cứu, đối tượng nội dung tập trung vào hệ thống các nhân tố tác động đến hoạt động du lịch, phân tích tổng thể các điều kiện cung ứng tự nhiên, nhân văn và thực tiễn phát triển du lịch nhằm đề xuất giải pháp khai thác hợp lý gắn với bảo tồn di sản. Về phạm vi không gian, đề tài bao quát toàn bộ lãnh thổ hành chính huyện Chương Mỹ với diện tích 232 km², bao gồm 32 đơn vị hành chính cấp xã (02 thị trấn và 30 xã). Về phạm vi thời gian, các dữ liệu thứ cấp được khảo sát chủ yếu trong giai đoạn 1998 - 2006, định hướng đến năm 2008 và những năm tiếp theo.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khóa luận xây dựng nền tảng lý luận dựa trên các khái niệm chuyên ngành kinh tế du lịch và địa lý du lịch. Tác giả định nghĩa nhu cầu du lịch là nhu cầu xã hội đặc biệt mang tính tổng hợp cao, biểu hiện ở 3 cấp độ: cá nhân, nhóm người và toàn xã hội. Cầu du lịch là bộ phận nhu cầu có khả năng thanh toán để đảm bảo việc đi lại, lưu trú tạm thời ngoài nơi ở thường xuyên. Cơ cấu cầu du lịch được phân tách thành hai nhóm chính: cầu về dịch vụ du lịch (dịch vụ chính như vận chuyển, lưu trú, ăn uống; dịch vụ đặc trưng; dịch vụ bổ sung như vui chơi, sửa chữa) và cầu về hàng hóa du lịch (hàng lưu niệm, hàng có giá trị kinh tế cao). Các nhân tố tạo cầu bao gồm sự phát triển của nền sản xuất, giao thông vận tải, quỹ thời gian nhàn rỗi, áp lực đô thị hóa - môi trường sống và đặc điểm kinh tế - xã hội của dân cư (áp dụng các thống kê kinh điển của Robert W. McItosh năm 1995 về mối tương quan giữa trình độ văn hóa với tỷ lệ đi du lịch và I. Pirojnik năm 1995 về phân bố nhu cầu theo lứa tuổi).
Về phía cung, tác giả dẫn chiếu định nghĩa pháp lý tại Pháp lệnh Du lịch nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (1999), xác định tài nguyên du lịch gồm cảnh quan thiên nhiên, di tích lịch sử, di tích cách mạng, giá trị nhân văn và các công trình sáng tạo của con người. Hệ thống cung ứng du lịch được phân loại thành:
- Tài nguyên du lịch tự nhiên: vị trí địa lý, địa hình (đặc biệt là địa hình núi đồi và karst hang động), khí hậu (chỉ số nhiệt độ, độ ẩm, tính mùa vụ), tài nguyên nước (nước mặt sông hồ và nguồn nước khoáng cacbonic, silic) và tài nguyên sinh vật phục vụ du lịch sinh thái, nghiên cứu khoa học, thể thao.
- Tài nguyên du lịch nhân văn: các di tích lịch sử - văn hóa (khảo cổ, lịch sử, nghệ thuật, danh thắng theo 6 tiêu chuẩn di sản thế giới), lễ hội dân gian (gồm phần lễ và phần hội), phong tục tập quán dân tộc học và các làng nghề thủ công truyền thống.
- Cơ sở hạ tầng (cơ sở vật chất bậc hai phục vụ dân sinh và du khách) cùng hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch (khách sạn, nhà hàng, phương tiện vận tải chuyên ngành).
Phương pháp nghiên cứu thực tế được triển khai bao gồm:
- Phương pháp khảo sát thực địa: Trực tiếp điền dã nhằm thu thập dữ liệu về cảnh quan, di tích, làng nghề, nắm bắt hiện trạng cơ sở vật chất, luồng khách và nhu cầu thực tế tại các điểm đến.
- Phương pháp thu thập và xử lý số liệu: Tổng hợp tài liệu thống kê đa ngành từ Tổng cục Thống kê, Sở Văn hóa Hà Nội, Phòng Văn hóa - Thông tin huyện Chương Mỹ và Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Chương Mỹ.
- Phương pháp phân tích, tổng hợp: Đối chiếu lý thuyết cung - cầu với số liệu điều tra thực địa để đánh giá thế mạnh và rào cản phát triển của địa phương.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Các nhân tố ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển du lịch
Chương 1 hệ thống hóa cơ sở lý luận về mối quan hệ biện chứng giữa cung và cầu trong thị trường du lịch. Tác giả chỉ ra rằng cầu du lịch chịu sự chi phối chặt chẽ bởi trình độ phát triển sản xuất và các đặc tính nhân khẩu học. Cụ thể, số liệu thống kê của Robert W. McItosh (1995) tại Hoa Kỳ cho thấy mối tương quan thuận giữa học vấn của chủ gia đình và tỷ lệ tham gia du lịch:
| Trình độ văn hóa của chủ gia đình |
Tỷ lệ đi du lịch (%) |
| Chưa có trình độ trung học |
50 |
| Có trình độ trung học |
65 |
| Có trình độ cao đẳng 4 năm |
75 |
| Có trình độ đại học |
95 |
Đồng thời, nghiên cứu dẫn chứng cấu trúc nhu cầu du lịch theo độ tuổi của I. Pirojnik (1995), phản ánh sự chuyển dịch rõ nét về mục đích chuyến đi qua từng giai đoạn vòng đời:
| Loại hình du lịch |
Tuổi từ 16 - 24 (%) |
Tuổi từ 25 - 29 (%) |
Tuổi từ 30 - 39 (%) |
Tuổi từ 40 - 49 (%) |
Tuổi từ 50 trở lên (%) |
| Chữa bệnh |
2 |
3 |
6 |
18 |
49 |
| Bồi dưỡng sức khỏe |
10 |
23 |
43 |
52 |
37 |
| Thể thao |
68 |
62 |
39 |
21 |
3 |
| Tham quan |
20 |
12 |
12 |
9 |
11 |
| Tổng cộng |
100 |
100 |
100 |
100 |
100 |
Phần phân tích cung khẳng định tính chất đặc thù của sản phẩm du lịch là không thể lưu kho, tính co giãn kém và phụ thuộc mật thiết vào vị trí địa lý cùng tài nguyên tại chỗ. Tác giả phân tích chi tiết các chỉ tiêu đánh giá tài nguyên tự nhiên (nhiệt độ thích hợp cho tắm biển từ 20°C - 25°C, đặc điểm địa hình hang động karst) và tiêu chuẩn tài nguyên nhân văn theo khung chuẩn của UNESCO và hệ thống di tích quốc gia.
Chương 2: Các điều kiện cung ứng du lịch của huyện Chương Mỹ
Chương 2 là phần nội dung trọng tâm của khóa luận, tập trung khảo sát toàn diện các nguồn lực tự nhiên, nhân văn, kinh tế - xã hội và cơ sở hạ tầng kỹ thuật trên địa bàn huyện Chương Mỹ.
Về vị trí địa lý và phân hóa lãnh thổ, huyện nằm ở cửa ngõ phía Tây Nam Thủ đô, tọa độ từ 105°30'30" đến 105°52'30" vĩ độ Bắc và 105°19' đến 105°99' kinh độ Đông; diện tích tự nhiên 232 km², dân số 28,2 vạn người, mật độ 1.173 người/km² (số liệu năm 2006). Địa bàn được chia thành 3 vùng kinh tế - sinh thái rõ rệt:
| Vùng kinh tế |
Phạm vi hành chính |
Diện tích đất tự nhiên & canh tác |
Đặc điểm địa hình & Tiềm năng du lịch |
| Vùng bán sơn địa |
10 xã, thị trấn phía Tây và Nam, giáp Hòa Bình và Mỹ Đức |
Tự nhiên: 9.842,36 ha; Canh tác: 384 ha |
Cao độ (+4) đến (+10)m; chịu ảnh hưởng lũ rừng Ngang; chứa hai hồ lớn: hồ Đồng Sương (203 ha, 5 triệu m³ nước) và hồ Văn Sơn (168 ha, 4 triệu m³ nước); có quốc lộ 21A và tuyến đường Hồ Chí Minh; phát triển trang trại và sinh thái nghỉ dưỡng |
| Vùng bãi ven sông Đáy |
9 xã ven đê hữu sông Đáy (chiều dài sông qua huyện 28 km) |
Tự nhiên: 5.052,83 ha; Canh tác: 3.083,217 ha |
Cao độ (+4) đến (+7)m; dải đất phù sa màu mỡ; có dãy núi Tử Trầm và chùa Trầm; phát triển nông nghiệp hàng hóa, du lịch tâm linh, sinh thái |
| Vùng trũng giữa huyện |
14 xã từ tả ngạn sông Bùi, sông Tích đến giáp vùng hữu Đáy |
Tự nhiên: 7.966,81 ha; Canh tác: 1.978,31 ha |
Cao độ (+4) đến (+5)m, nơi thấp (+2) đến (+3)m; có trục quốc lộ 6A chạy qua; xã Tiên Phương có chùa Trăm Gian; tập trung mật độ cao các làng nghề truyền thống |
Về điều kiện tự nhiên:
- Khí hậu: Nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ trung bình năm 23°C - 24°C; mùa hạ trung bình 27°C (tháng 6 - 7 đạt 36°C - 38°C); mùa đông trung bình 19°C (tháng 1 - 2 xuống 6°C - 8°C). Tổng số giờ nắng trung bình 1.276 giờ/năm. Lượng mưa trung bình 1.800 - 2.000 mm/năm (85% tập trung vào mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 10).
- Thủy văn: 3 con sông chính gồm sông Đáy (chảy qua 9 xã, dài 28 km, rộng 100 - 120m), sông Tích (chảy qua 5 km, nhập lưu vực sông Đáy) và sông Bùi (dài 23 km qua địa phận huyện). Hệ thống sông hồ vừa cung cấp nước vừa đảm nhiệm vai trò phân lũ cho Hà Nội.
- Sinh vật: Diện tích rừng tự nhiên còn 523,98 ha (giảm đáng kể so với mức 900 - 1.000 ha giai đoạn 1970 - 1980). Thảm thực vật có 303 loài (thuộc 215 chi, 97 họ), bao gồm các loại gỗ quý như lim, gụ và cây dược liệu như tam thất, mã tiền, cam thảo. Động vật hoang dã suy giảm mạnh, chỉ còn 13 loài thú, 24 loài chim, 17 loài bò sát, 5 loài ếch nhái, 19 loài cá và 17 loài côn trùng.
Về tài nguyên du lịch tự nhiên:
- Thắng cảnh núi Trầm (Tử Trầm Sơn, Ngũ Nhạc Sơn) tại thôn Long Châu, xã Phụng Châu: Gồm 5 ngọn núi đá; động Long Tiên lưu giữ 48 pho tượng đá tạc năm Chính Hòa thứ 17 (1696) dưới thời vua Lê Huy Tông, cùng 15 bài thơ chữ Hán và 1 bài chữ Nôm trên vách đá; hang Rồng hiểm trở; các ngọn núi Bút, núi Vô Vi, núi Cung (trong đó cột đá Kình Thiên bút đã bị sập do khai thác đá); hang Bảy Cửa, hang Sư, hang Nước, thung lũng tình yêu, đỉnh Thập Tự; mộ danh y Trâu Canh thời Trần Dụ Tông; cây thuốc quý (núc nác, sâm nam, sống đời). Khu vực từng là trạm phát sóng của Đài Tiếng nói Việt Nam truyền đi Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến năm 1946 của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
- Các khu sinh thái: Khu sinh thái Xuân Mai (diện tích gần 4 ha với hồ câu, bể bơi, nhà nghỉ, dịch vụ giải trí); hồ Văn Sơn (168 ha, dung tích 4 triệu m³ nước, định hướng phát triển sân golf, biệt thự nghỉ dưỡng); hồ Đồng Sương (203 ha, dung tích 5 triệu m³ nước, cảnh quan núi đồi ven đường Hồ Chí Minh).
Về điều kiện kinh tế - xã hội và tài nguyên nhân văn:
- Dân cư - Kinh tế: Dân số 28,2 vạn người, lực lượng lao động 14,5 vạn người (chiếm trên 52% dân số, lao động qua đào tạo đạt 35%). Có một bộ phận đồng bào dân tộc Mường cư trú tại thôn Đồng Ké, xã Trần Phú (110 hộ, 460 nhân khẩu). Tốc độ tăng trưởng kinh tế năm 2006 đạt 15,5%; thu nhập bình quân đầu người tăng từ 4,2 triệu đồng (năm 2004) lên 5,8 triệu đồng (năm 2006). Cơ cấu kinh tế năm 2006 gồm: Công nghiệp - TTCN - Xây dựng chiếm 34,5%; Dịch vụ - Thương mại - Du lịch chiếm 33%; Nông - Lâm nghiệp chiếm 32,5%. Giá trị sản xuất ngành du lịch - thương mại năm 2005 ước đạt 425 tỷ đồng.
- Di tích lịch sử - văn hóa: Toàn huyện có hơn 1.000 di tích các loại, trong đó có 32 di tích cấp quốc gia và 74 di tích cấp tỉnh.
- Chùa Trăm Gian (Quảng Nghiêm tự, xã Tiên Phương): Xây dựng năm 1185 đời Lý Cao Tông, thờ Đức Thánh Bối Nguyễn Bình An. Kiến trúc gồm 104 gian cột chia làm 3 cụm chính; gác chuông 2 tầng mái treo chuông đồng đúc năm 1794 có bài minh của Phan Huy Ích; khánh đồng đúc năm 1749; lưu giữ 153 pho tượng gỗ và đất nung, đặc biệt có tượng Đô đốc Đặng Tiến Đông thời Tây Sơn (phát hiện năm 1972) và tượng Đức Thánh Bối bằng cốt rút mây đan bọc vải sơn.
- Cụm di tích đình Quán Cốc (xã Hoàng Diệu): Gồm đình Quán Cốc Thượng, Quán Cốc Trung và Quán Cốc Hạ bên bờ sông Đáy, thờ nữ tướng Lý Thị Ngọc Ba cùng các con trai. Thần phả do Nguyễn Bính soạn năm 1572 và Nguyễn Hiền sao năm 1740. Đình Thượng trùng tu năm 1851 lưu giữ 15 đạo sắc phong; đình Trung lưu giữ 26 đạo sắc phong thời Lê - Nguyễn; đình Hạ còn 7 tấm bia hậu ghi công đức.
- Đình Tốt Động (xã Tốt Động): Thờ danh tướng Đỗ Bí trong khởi nghĩa Lam Sơn gắn liền với chiến thắng Tốt Động năm 1426. Kiến trúc chữ Nhị (=) bằng gỗ tứ thiết thời Nguyễn, chạm khắc đề tài "ngư long hý thủy" và tứ quý; phụ cận có di tích lăng mộ tướng Lý Triện tại làng Yên Duyệt.
- Lễ hội truyền thống: Huyện có 23 lễ hội dân gian. Nổi bật nhất là Lễ hội Phú Hoa Trang (xã Phú Nghĩa, tổ chức từ ngày 16 đến 18 tháng 7 Âm lịch) thờ Thái phi Vũ Thị Trang Phượng với nghi thức rước kiệu của 16 đô nữ, tục kết chạ, hát cửa đình trên thuyền thúng và hội đua bơi truyền thống của vùng đất trũng. Lễ hội chùa Trăm Gian (xã Tiên Phương, tổ chức mồng 4 đến mồng 6 tháng Giêng) với lễ rước kiệu Thánh, thi cỗ chay 16 bánh chưng 16 bánh dầy, thi đánh cờ người tại sàn giữa hồ bán nguyệt, múa rối nước và biểu diễn pháo hoa Bối Khê.
- Làng nghề thủ công truyền thống: Huyện có 20 làng nghề được công nhận, 70% số làng có nghề thủ công.
- Mây tre giang đan Phú Vinh (xã Phú Nghĩa): Lịch sử phát triển từ thế kỷ XVII (chứng tích tranh mây năm 1712 tại cố đô Huế); thời vua Thành Thái 9 nghệ nhân được phong bằng Cửu Phẩm "Vân đằng mỹ nghệ cửu phẩm thực nghiệp"; sản phẩm từng đoạt giải quốc tế tại Đức (chiếc lồng bàn trị giá 1.800 mác Đức), giải vàng tại Nga (bức tranh Lênin trên sông Vônga); các tác phẩm của nghệ nhân Nguyễn Văn Khiếu, Hoàng Văn Khu, Nguyễn Văn Vạn (Nhà sàn Bác Hồ đoạt giải Bàn tay vàng).
- Nón lá Văn La (xã Văn Võ): Tồn tại từ thế kỷ 18, tạo việc làm cho hàng nghìn lao động mọi lứa tuổi, doanh thu hàng năm đạt từ 3,5 đến 4,5 tỷ đồng, thu nhập bình quân 500.000 - 600.000 đồng/người/tháng.
- Chạm khắc đá Long Châu (xã Phụng Châu): Niên đại khoảng 200 năm, chuyên chế tác tượng linh vật, tượng Phật giáo và phục chế các di tích quốc gia (phục hồi bia tiến sĩ và rồng đá tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám, chế tác cầu đá chùa Yên Tử dài 32m rộng 3m), xuất khẩu tượng tôn giáo sang Pháp.
- Cơ sở hạ tầng: Mạng lưới giao thông đối ngoại chính gồm quốc lộ 6A, đường Hồ Chí Minh (quốc lộ 21A) và tuyến tỉnh lộ 419 với tổng chiều dài gần 60 km chạy qua địa bàn huyện.
(Ghi chú thư mục học thuật: Theo đề cương công bố ở phần Mở đầu, khóa luận có Chương 3 mang tên "Hiện trạng hoạt động du lịch huyện Chương Mỹ và những giải pháp phát triển du lịch". Tuy nhiên, văn bản trích xuất cung cấp kết thúc ở trang 50 tại phần đánh giá hạ tầng kỹ thuật Chương 2; các thông tin quy hoạch và giải pháp dưới đây được tổng hợp từ dữ liệu có trong văn bản).
Kết quả và đóng góp nghiên cứu
Căn cứ trên các tư liệu thực tế được tác giả trình bày, khóa luận mang lại các kết quả định lượng và định tính cụ thể:
- Về kết quả khảo sát số liệu:
- Thống kê toàn diện hệ thống di sản của huyện Chương Mỹ với hơn 1.000 di tích, lập danh mục chi tiết 32 di tích cấp quốc gia và 74 di tích cấp tỉnh, ghi nhận 23 lễ hội truyền thống cấp xã và thôn.
- Phân định rõ ràng 3 vùng kinh tế - sinh thái làm cơ sở quy hoạch lãnh thổ du lịch: vùng bán sơn địa (9.842,36 ha), vùng bãi ven Đáy (5.052,83 ha) và vùng trũng giữa huyện (7.966,81 ha).
- Lượng hóa các thông số tài nguyên sinh thái: diện tích rừng tự nhiên còn 523,98 ha với 303 loài thực vật; hệ thống thủy văn với 3 con sông (Đáy 28 km, Bùi 23 km, Tích 5 km) và 2 hồ thủy lợi lớn (Đồng Sương 203 ha/5 triệu m³, Văn Sơn 168 ha/4 triệu m³).
- Xác định quy mô kinh tế địa phương: Tăng trưởng kinh tế đạt 15,5% (2006), ngành du lịch - thương mại đạt doanh thu 425 tỷ đồng (2005), làng nghề nón lá Văn La tạo doanh thu 3,5 - 4,5 tỷ đồng/năm.
- Về giải pháp và định hướng tác giả đề xuất:
- Khai thác các quy hoạch du lịch đã được phê duyệt: triển khai quy hoạch chi tiết khu du lịch chùa Trầm (quy mô 50 ha), hoàn thiện quy hoạch tổng thể du lịch toàn huyện và quy hoạch chi tiết các cụm du lịch hồ Đồng Sương, hồ Văn Sơn và du lịch làng nghề.
- Gắn kết bảo tồn văn hóa với khai thác du lịch bền vững: khôi phục tục đua bơi truyền thống tại lễ hội Phú Hoa Trang vừa để bảo tồn nét văn hóa vùng đồng trũng vừa rèn luyện kỹ năng phòng chống bão lũ trong bối cảnh Chương Mỹ là vùng phân lũ trọng điểm; bảo tồn và phát triển các nghề thủ công có nguy cơ mai một.
- Đầu tư đồng bộ hạ tầng giao thông và dịch vụ phụ trợ, kết nối trục quốc lộ 6A, đường Hồ Chí Minh và tỉnh lộ 419 nhằm thu hút khách du lịch từ trung tâm Hà Nội.
- Đóng góp của đề tài:
Tác giả đã xác lập cơ sở dữ liệu khoa học về tài nguyên tự nhiên và nhân văn của huyện Chương Mỹ ngay tại thời điểm sáp nhập tỉnh Hà Tây về Hà Nội, tạo nguồn tài liệu tham khảo thực tiễn phục vụ công tác quy hoạch, kêu gọi đầu tư và xây dựng sản phẩm du lịch ngoại thành.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận ghi nhận các hạn chế nội tại và bối cảnh thực địa do chính tác giả đề cập:
- Do giới hạn dung lượng của một khóa luận tốt nghiệp cử nhân và khó khăn trong việc tiếp cận tài liệu phân tán, tác giả mới chỉ tập trung phân tích sâu một số di tích và làng nghề tiêu biểu nhất, chưa thể khảo sát chi tiết toàn bộ hơn 1.000 di tích trên địa bàn.
- Đề tài chỉ ra sự suy giảm nghiêm trọng của nguồn tài nguyên tự nhiên: diện tích rừng tự nhiên bị thu hẹp gần một nửa so với thập kỷ 1970 - 1980 (từ khoảng 1.000 ha xuống 523,98 ha); hệ động vật hoang dã đứng trước nguy cơ cạn kiệt; thắng cảnh địa chất bị tàn phá do hoạt động khai thác đá thiếu quy hoạch (điển hình là sự cố sập khối đá Kình Thiên bút tại núi Trầm).
- Cơ sở hạ tầng kỹ thuật và cơ sở vật chất chuyên ngành du lịch của huyện còn rất sơ sài, thiếu đồng bộ, phần lớn tài nguyên vẫn nằm ở dạng tiềm năng phân tán.
Hướng mở nghiên cứu tiếp theo bao gồm việc điều tra bổ sung toàn diện hệ thống di tích cấp tỉnh và di sản phi vật thể chưa xếp hạng; nghiên cứu xây dựng các tour du lịch sinh thái - làng nghề - tâm linh kết nối Chương Mỹ với chuỗi đô thị Xuân Mai - Hòa Lạc và trung tâm Thủ đô.
Giá trị tham khảo
Bản khóa luận có giá trị ứng dụng và tham khảo đối với nhiều đối tượng:
- Sinh viên, học viên các ngành Du lịch, Việt Nam học, Địa lý kinh tế, Quản lý văn hóa: Cung cấp phương pháp luận và khung phân tích địa bàn cấp huyện kết hợp giữa lý thuyết cung - cầu với khảo sát thực địa.
- Các nhà nghiên cứu văn hóa dân gian và địa phương chí: Cung cấp nguồn tư liệu chi tiết về kiến trúc chùa Trăm Gian (104 gian, tượng Đặng Tiến Đông, tượng cốt mây), thần phả và sắc phong cụm đình Quán Cốc, lịch sử làng nghề mây tre đan Phú Vinh, làng nón Văn La, nghề đá Long Châu và diễn trình các lễ hội truyền thống.
- Cán bộ quản lý kinh tế, quy hoạch du lịch huyện Chương Mỹ và Sở Du lịch Hà Nội: Cung cấp bảng số liệu hiện trạng địa hình, diện tích mặt nước, tài nguyên rừng và hệ thống giao thông phục vụ công tác lập dự án đầu tư phát triển du lịch ngoại thành.
Câu hỏi thường gặp
1. Huyện Chương Mỹ được phân chia thành những vùng kinh tế - sinh thái nào và đặc trưng từng vùng ra sao?
Huyện được chia thành 3 vùng:
- Vùng bán sơn địa (10 xã, thị trấn): Diện tích 9.842,36 ha, cao độ (+4) đến (+10)m, chịu ảnh hưởng lũ rừng Ngang, có hồ Đồng Sương (203 ha, 5 triệu m³ nước) và hồ Văn Sơn (168 ha, 4 triệu m³ nước), thích hợp phát triển kinh tế trang trại và du lịch sinh thái vùng hồ.
- Vùng bãi ven sông Đáy (9 xã): Diện tích 5.052,83 ha, cao độ (+4) đến (+7)m, chạy dọc 28 km sông Đáy, có thắng cảnh núi Trầm, thích hợp phát triển nông nghiệp hàng hóa và du lịch tâm linh.
- Vùng trũng giữa huyện (14 xã): Diện tích 7.966,81 ha, cao độ (+4) đến (+5)m, có quốc lộ 6A chạy qua, tập trung nhiều làng nghề thủ công và chùa Trăm Gian.
2. Quần thể danh thắng núi Trầm (Tử Trầm Sơn) lưu giữ những chứng tích văn hóa - lịch sử đặc biệt nào?
Tại xã Phụng Châu, núi Trầm gồm 5 ngọn núi đá; động Long Tiên có 48 pho tượng đá được vua Lê Huy Tông sai thạc năm Chính Hòa thứ 17 (1696), 15 bài thơ chữ Hán và 1 bài chữ Nôm trên vách đá; mộ danh y Trâu Canh thời Trần Dụ Tông; các hang động như hang Rồng, hang Bảy Cửa, hang Sư, hang Nước, đỉnh Thập Tự; và là nơi Đài Tiếng nói Việt Nam đặt trạm phát sóng truyền Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh năm 1946.
3. Khóa luận ghi nhận những nét độc đáo nào về kiến trúc và hiện vật của chùa Trăm Gian?
Chùa Trăm Gian (xã Tiên Phương) khởi dựng năm 1185 đời Lý Cao Tông, thờ Đức Thánh Bối Nguyễn Bình An. Chùa có 104 gian cột chia làm 3 cụm kiến trúc; chuông đồng đúc năm 1794 khắc minh văn của Phan Huy Ích; khánh đồng đúc năm 1749; hệ thống 153 pho tượng Phật giáo, đặc biệt có tượng Đô đốc Tây Sơn Đặng Tiến Đông (phát hiện năm 1972) và pho tượng cốt rút bằng mây đan bọc vải sơn của Đức Thánh Bối.
4. Làng nghề mây tre giang đan Phú Vinh có những mốc lịch sử và thành tựu quốc tế nào?
Nghề đan mây Phú Vinh hình thành từ thế kỷ XVII (chứng tích tranh mây năm 1712 tại Huế). Năm Thành Thái thứ 3, 9 nghệ nhân được triều đình phong bằng Cửu Phẩm "Vân đằng mỹ nghệ cửu phẩm thực nghiệp". Sản phẩm mây của làng từng đoạt giải quốc tế tại Đức (chiếc lồng bàn trị giá 1.800 mác Đức), giải vàng tại Nga (tranh Lênin trên sông Vônga). Các nghệ nhân tiêu biểu gồm Nguyễn Văn Khiếu, Hoàng Văn Khu và Nguyễn Văn Vạn (giải Bàn tay vàng với mô hình Nhà sàn Bác Hồ).
5. Thực trạng tài nguyên tự nhiên của Chương Mỹ đang đối mặt với những thách thức gì?
Diện tích rừng tự nhiên bị suy giảm mạnh từ 900 - 1.000 ha xuống còn 523,98 ha; hệ động vật hoang dã chỉ còn rất ít loài và có nguy cơ tuyệt diệt; thắng cảnh địa chất bị hủy hoại do khai thác đá (như việc sập đổ khối đá Kình Thiên bút); địa bàn huyện chịu tác động nặng nề của lũ rừng Ngang từ Hòa Bình và đảm đương nhiệm vụ phân lũ sông Đáy, sông Bùi khi đê sông Hồng quá tải.
Kết luận
Khóa luận của sinh viên Tô Thị Huyền Trang là một công trình nghiên cứu địa lý du lịch có giá trị tư liệu thực tế cao về huyện Chương Mỹ ngay tại thời điểm sáp nhập tỉnh Hà Tây vào Hà Nội năm 2008. Tác giả đã vận dụng lý thuyết cung - cầu để khảo sát có hệ thống 3 vùng cảnh quan sinh thái, kiểm đếm danh mục hơn 1.000 di tích, 23 lễ hội cùng mạng lưới làng nghề thủ công lâu đời của địa phương. Nghiên cứu đồng thời chỉ rõ những bất cập về hạ tầng kỹ thuật và sự suy thoái tài nguyên thiên nhiên, từ đó xác lập cơ sở khoa học cho các định hướng quy hoạch và phát triển du lịch bền vững trên địa bàn huyện ngoại thành Thủ đô.