Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Ngành du lịch Việt Nam giữ vai trò là một ngành kinh tế quan trọng với định hướng phát triển đa dạng các loại hình khai thác tài nguyên tự nhiên và nhân văn. Trong xu thế tiêu dùng du lịch hiện đại, du khách ngày càng có xu hướng tìm về các vùng nông thôn giàu bản sắc truyền thống, tìm hiểu các giá trị lịch sử, kiến trúc nghệ thuật, tín ngưỡng và tham gia các lễ hội dân gian độc đáo nhằm giải tỏa áp lực từ đời sống đô thị hóa.

Tỉnh Nam Định thuộc vùng châu thổ sông Hồng và vùng du lịch Bắc Bộ, nằm cách thủ đô Hà Nội 90 km về phía Đông Nam. Tỉnh sở hữu mạng lưới giao thông liên vùng hoàn chỉnh gồm tuyến đường sắt Bắc - Nam, Quốc lộ 10, Quốc lộ 21 kết nối với cửa khẩu quốc tế Móng Cái (Quảng Ninh) và khu du lịch Hạ Long, cùng hệ thống giao thông đường thủy trên sông Hồng, sông Đáy và sông Ninh Cơ. Nam Định có nguồn tài nguyên phong phú từ du lịch sinh thái, du lịch biển (Quất Lâm, Thịnh Long, Khu bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước Xuân Thủy) đến hệ thống di sản văn hóa gắn liền với phát tích vương triều Trần, các làng nghề thủ công truyền thống (hoa cây cảnh Vị Khê, chạm gỗ La Xuyên, rèn Vân Chàng) và hệ thống chùa, đền, phủ đặc sắc (Đền Trần, Chùa Tháp, Chùa Keo, Chùa Cổ Lễ, Quần thể di tích Phủ Dầy). Tuy nhiên, hoạt động khai thác du lịch tại địa phương thời điểm nghiên cứu vẫn còn mang tính tự phát, dựa chủ yếu vào tài nguyên sẵn có, đầu tư cơ sở vật chất còn hạn chế và thiếu các sản phẩm du lịch có chiều sâu hấp dẫn du khách.

Trước thực trạng đó, khóa luận tốt nghiệp "Tiềm năng phát triển du lịch văn hoá tại quần thể di tích Phủ Dầy – Nam Định" được tác giả Lê Thị Hương (ngành Văn hóa Du lịch, Trường Đại học Dân lập Hải Phòng) thực hiện vào tháng 06/2009 dưới sự hướng dẫn của TS. Nguyễn Văn Bính.

  • Mục tiêu nghiên cứu: Bước đầu tìm hiểu, nghiên cứu và đánh giá tiềm năng phát triển loại hình du lịch văn hóa cũng như thực trạng khai thác du lịch tại quần thể di tích Phủ Dầy (huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định); từ đó xây dựng và đề xuất các luận cứ khoa học hỗ trợ chính quyền các cấp, các cơ quan quản lý chuyên ngành tham khảo trong công tác bảo tồn, phát huy giá trị di tích phục vụ phát triển kinh tế - xã hội địa phương.
  • Nhiệm vụ nghiên cứu:
    1. Hệ thống hóa cơ sở lý luận về du lịch, du lịch văn hóa và các nhân tố tác động đến phát triển du lịch văn hóa.
    2. Khảo sát, phân tích các giá trị lịch sử, không gian kiến trúc và lễ hội truyền thống tại quần thể di tích Phủ Dầy gắn liền với tín ngưỡng thờ Mẫu Liễu Hạnh.
    3. Đánh giá thực trạng hoạt động khai thác du lịch văn hóa tại di tích, chỉ ra các tồn tại về quản lý, cơ sở vật chất hạ tầng và cảnh quan.
    4. Đề xuất hệ thống giải pháp định hướng khai thác hiệu quả, bền vững tài nguyên du lịch văn hóa tại quần thể di tích.
  • Đối tượng nghiên cứu: Các yếu tố về lịch sử hình thành, giá trị kiến trúc nghệ thuật và lễ hội dân gian truyền thống tại quần thể di tích Phủ Dầy có khả năng khai thác phục vụ phát triển du lịch.
  • Phạm vi nghiên cứu:
    • Không gian: Quần thể di tích lịch sử - văn hóa Phủ Dầy tại xã Kim Thái, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định (tập trung trọng điểm vào Phủ Tiên Hương, Phủ Vân Cát và Lăng Mẫu).
    • Nội dung: Tiềm năng tài nguyên văn hóa, thực trạng hoạt động du lịch văn hóa và các giải pháp khai thác tại điểm đến.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận xây dựng hệ thống cơ sở lý thuyết dựa trên các khái niệm chuyên ngành và văn bản quy phạm pháp luật:

  • Khái niệm du lịch và du lịch văn hóa: Tiếp cận khái niệm du lịch theo Ipirogionic, định nghĩa của TS. Trần Nhạn trong "Du lịch và kinh doanh du lịch", giáo trình "Nhập môn Khoa học du lịch" của TS. Trần Đức Thanh và Luật Du lịch Việt Nam năm 2005. Du lịch văn hóa được xác định là hình thức du lịch dựa vào bản sắc văn hóa dân tộc với sự tham gia của cộng đồng nhằm bảo tồn, phát huy các giá trị truyền thống, diễn ra chủ yếu trong môi trường nhân văn.
  • Khung phân loại tài nguyên: Căn cứ Luật Di sản Văn hóa Việt Nam, tài nguyên du lịch văn hóa được phân định thành di sản văn hóa vật thể (công trình kiến trúc, di tích lịch sử, khảo cổ, danh lam thắng cảnh) và di sản văn hóa phi vật thể (lễ hội dân gian, diễn xướng, văn hóa ẩm thực, phong tục tập quán, tín ngưỡng).
  • Các văn bản pháp lý địa phương và ngành: Quyết định số 09/VH-QĐ ngày 21/02/1975 của Bộ trưởng Bộ Văn hóa Thông tin về việc xếp hạng di tích lịch sử văn hóa Phủ Dầy; Quyết định số 39/2001/QĐ-BVHTT ngày 23/8/2001 của Bộ Văn hóa Thông tin đưa Lễ hội Phủ Dầy vào danh mục các lễ hội lớn của cả nước.

Tác giả sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu thực tiễn:

  • Phương pháp thu thập và xử lý số liệu: Khai thác tư liệu thứ cấp từ sách báo, tài liệu lưu trữ của Phòng Văn hóa huyện Vụ Bản, Ban Quản lý Di tích Phủ Dầy, UBND xã Kim Thái và các nguồn tra cứu chuyên ngành.
  • Phương pháp nghiên cứu thực địa: Khảo sát thực tế hiện trạng quy hoạch, phân bố không gian kiến trúc, tình trạng kỹ thuật của các di tích thành phần, hệ thống cảnh quan và điều kiện hạ tầng kỹ thuật tại xã Kim Thái.
  • Phương pháp khảo sát thực tế và phỏng vấn: Trực tiếp ghi hình, phỏng vấn sâu các vị thủ nhang quản lý tại các phủ, già làng, người cao tuổi am hiểu phong tục địa phương và người dân sinh sống xung quanh khu di tích.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lý luận chung về du lịch và du lịch văn hóa - mối quan hệ của chúng trong sự phát triển du lịch hiện nay

Chương 1 hệ thống hóa các khái niệm nền tảng về hoạt động du lịch, tài nguyên du lịch nhân văn và các phân loại chuyên ngành:

  • Bản chất và đặc điểm tài nguyên du lịch văn hóa: Tài nguyên nhân văn có chức năng nhận thức sâu sắc hơn chức năng giải trí đơn thuần; thời gian thẩm nhận diễn ra tập trung; ít phụ thuộc vào yếu tố mùa vụ khí hậu so với tài nguyên tự nhiên; chịu sự chi phối bởi trình độ học vấn, độ tuổi, thị hiếu thẩm mỹ của du khách. Quá trình tác động của tài nguyên DLVH đến du khách trải qua 4 giai đoạn: Thông tin $\rightarrow$ Tiếp xúc $\rightarrow$ Nhận thức $\rightarrow$ Đánh giá nhận xét.
  • Mối quan hệ tương hỗ giữa du lịch và các thành tố văn hóa: Phân tích quan hệ giữa du lịch với các di tích lịch sử - văn hóa nghệ thuật, danh lam thắng cảnh; du lịch với lễ hội dân gian truyền thống (mối quan hệ cung - cầu vào mùa nông nhàn); du lịch với văn hóa dân tộc học và các thiết chế văn hóa (bảo tàng, viện nghiên cứu, trường đại học).
  • Các loại hình du lịch văn hóa chủ yếu: Bao gồm du lịch lễ hội, du lịch tôn giáo - tín ngưỡng, du lịch tham quan nghiên cứu bản sắc văn hóa và du lịch công vụ kết hợp tham quan văn hóa.
  • Điều kiện và xu hướng phát triển: Xác định các tiền đề cần thiết gồm an ninh chính trị, trình độ tăng trưởng kinh tế, chính sách quản lý nhà nước, cơ sở hạ tầng giao thông - viễn thông, cơ sở vật chất kỹ thuật và nguồn nhân lực bản địa. Khái quát các xu hướng phát triển hiện đại: gia tăng quy mô khách (tăng trưởng trung bình thế giới đạt 4,6%/năm, doanh thu tăng 2,5% - 3%/năm), đại chúng hóa thành phần du khách, mở rộng không gian du lịch và đẩy mạnh liên kết vùng.

Chương 2: Thực trạng phát triển du lịch văn hóa tại quần thể di tích Phủ Dầy Nam Định

Chương 2 trình bày bức tranh toàn diện về tiềm năng tài nguyên tự nhiên, nhân văn, lịch sử hình thành, nghệ thuật kiến trúc và diễn trình lễ hội tại Phủ Dầy:

Tiêu chí Nội dung chi tiết tại Quần thể Di tích Phủ Dầy
Vị trí & Địa bàn Thuộc xã Kim Thái, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định (diện tích huyện 14.766,23 ha, dân số 12.700 người, gồm 17 xã và 1 thị trấn); nằm cạnh sông Sắt, Tỉnh lộ 56 kết nối Quốc lộ 10 và Quốc lộ 21.
Quy mô quần thể Gồm 21 di tích phân bố trong không gian cảnh quan núi Bảo Đài, núi Ngô Xá; trọng tâm gồm Phủ Tiên Hương, Phủ Vân Cát và Lăng Mẫu Liễu Hạnh (xếp hạng di tích Quốc gia năm 1975).
Lịch sử khởi dựng Xây dựng từ thời Lê Cảnh Trị (1663 - 1671); Phủ Vân Cát do Tổng đốc Cao Xuân Dục chủ trì xây dựng; Phủ Tiên Hương do Tổng đốc Đoàn Triển và Tri huyện Trần Lê Quần hỗ trợ tôn tạo bề thế vào thời Nguyễn.
Huyền tích & Tín ngưỡng Thờ Mẫu Liễu Hạnh (Đệ nhất Thánh Mẫu Tứ Phủ, một trong Tứ bất tử). Thân thế 3 lần giáng sinh, lần đầu sinh năm 1434 tên Phạm Tiên Nga tại ấp Quảng Nạp (xã Yên Đồng, Ý Yên), có công đắp đê Đại Hà, lập 15 cầu đá, dựng chùa Kim Thoa, mất năm 1473 (Quý Tỵ, thọ 40 tuổi).
Kiến trúc Phủ Tiên Hương Gồm 4 cung chính bài trí trang trọng, nghệ thuật chạm khắc hổ phù, long phụng, hoa cúc, trúc mai; khu vực phụ cận xuất hiện nhiều mái tôn cơi nới tạm bợ làm ảnh hưởng cảnh quan.
Kiến trúc Phủ Vân Cát Khu đất 1 ha; gồm 7 tòa phủ, 30 gian; hồ Bán nguyệt, nhà Phương du gỗ lim (3 gian, cột vuông, tường hoa đá); Ngũ vân lâu 3 tầng; kiến trúc nội trùng thiềm ngoại quốc; cung đệ nhất (3 gian, dựng lại năm 1959), cung đệ nhị (tôn tạo năm 1992), cung đệ tam (5 gian gỗ lim, 6 hàng xà, 3 hàng cột $d=0,3$ m), cung đệ tứ (kiểu mễ hạ mễ, 8 mái chồng diêm); lưu giữ ngai thờ đầu thế kỷ 18.
Kiến trúc Lăng Mẫu Xây dựng năm 1938 hoàn toàn bằng đá xanh Thanh Hóa trên diện tích 652 $\text{m}^2$; mộ bát giác ở trung tâm (cạnh 1,05 m) chạm 81 núm vú quả lựu tượng trưng bầu sữa mẹ (11 núm/cạnh); 5 vòng tường đá (cạnh ngoài 24 m); 60 cột đồng trụ đá gắn 60 búp sen đá đỏ; 4 bình phong đá cuốn thư chạm phượng.
Quy mô khách Thu hút trên 1 triệu lượt khách/năm đến từ hơn 50 tỉnh, thành phố và khách quốc tế.

Diễn trình Lễ hội Phủ Dầy (diễn ra từ ngày 01 đến 10 tháng Ba âm lịch, chính hội từ ngày 03 đến 08 tháng Ba) được ghi nhận chi tiết:

  • Ngày mùng 1: Lễ tế mở cửa Phủ (tế nhập hội) tại Tiên Hương và Vân Cát.
  • Ngày mùng 2: Lễ rước nước (8 cô gái khiêng kiệu bát cống sang Giếng Lăng lấy nước) và lễ Mộc dục tắm tượng (sử dụng nước nấu từ các loại lá thơm như trạch lan, trầm hương, uất kim cương, an tức, nhân long hoặc hương nhu, hương chanh). Tế cáo yết tại Tiên Hương vào buổi tối.
  • Ngày mùng 3: Lễ khai mạc tập trung tại quảng trường UBND xã Kim Thái với hơn 1 vạn người tham dự; ngày giỗ chính và tế theo nghi thức quốc lễ tại Phủ Tiên Hương; tế cáo yết tại Phủ Vân Cát.
  • Ngày mùng 4: Hội thi hát chầu văn, hát xẩm, ca trù tại phương du hai phủ, quy tụ hơn 100 diễn viên, nhạc công đến từ 12 - 15 huyện thuộc 6 - 8 tỉnh, thành phố.
  • Ngày mùng 5 và mùng 6: Đại lễ rước thỉnh kinh với quy mô 2 - 3 vạn người tham gia trên cung đường dài 2 - 3 km (mùng 5 rước từ Phủ Vân Cát lên chùa Tiên Linh; mùng 6 rước từ Phủ Tiên Hương lên chùa Tiên Sơn). Thả 3 con rồng bay kết bằng bóng bay dài 25 - 30 m.
  • Ngày mùng 7 và mùng 8: Hoa trượng hội (Hội kéo chữ) tại Phủ Vân Cát (mùng 7) và Phủ Tiên Hương (mùng 8) có nguồn gốc từ tích tri ân Trịnh Thái phi Trần Thị Ngọc Đài. Thu hút 300 - 500 phu hội mặc trang phục nái vàng, sử dụng gậy hội dài 1 trượng (4 m) cuốn giấy ngũ sắc kết hoa lông gà dưới sự điều hành của Tổng cờ và Lão trượng để xếp thành các chữ Hán: "Mẫu nghi thiên hạ", "Vạn thọ vô cương", "Quốc thái dân an", "Thiên hạ thái bình", "Hòa cốc phong đăng", "Quang phục thánh thiện", "Tiên Hương vạn tuế", "Tiên nhân cựu quán".
  • Các hoạt động bổ trợ: Biểu diễn nghệ thuật chèo cổ của Đoàn Chèo Nam Định (vở diễn Trần Nhân Tông, Khúc ca dâng Mẫu, Nguyệt du cung), thả đèn trời và chơi cờ đèn dưới nước.

Chương 3: Đề xuất một số giải pháp để quần thể di tích Phủ Dầy thực sự là điểm đến hấp dẫn của khách du lịch

Dựa trên các phân tích thực trạng ở Chương 2, tác giả đưa ra định hướng và các nhóm giải pháp nhằm giải quyết các bất cập tồn đọng:

  • Quy hoạch và bảo tồn di tích: Khẩn trương tiến hành quy hoạch tổng thể không gian di tích; chấm dứt tình trạng xây dựng cơi nới, lợp mái tôn tự phát quanh khu vực 4 cung chính; lập phương án phục hồi bãi kéo chữ Phủ Vân Cát về quy mô ban đầu (hiện bị thu hẹp còn 1.500 $\text{m}^2$ do đào ao thủy lợi và canh tác lúa).
  • Đầu tư cơ sở hạ tầng và dịch vụ du lịch: Hoàn thiện hệ thống đường giao thông tiếp cận, bãi đỗ xe đạt chuẩn; nâng cấp hệ thống cấp thoát nước, mạng lưới điện và vệ sinh môi trường trong mùa lễ hội; quản lý chặt chẽ dịch vụ lưu trú, ăn uống nhằm tránh tình trạng ép giá du khách.
  • Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và tuyên truyền: Tổ chức đào tạo nghiệp vụ du lịch, văn hóa ứng xử cho cộng đồng dân cư địa phương tham gia kinh doanh dịch vụ; tập huấn kiến thức lịch sử, tín ngưỡng cho đội ngũ thuyết minh viên, thủ nhang; tăng cường quảng bá hình ảnh di tích Phủ Dầy trên các phương tiện thông tin đại chúng.
  • Quản lý lễ hội và bài trừ biến tướng tiêu cực: Phối hợp liên ngành giữa Ban Quản lý di tích, chính quyền xã Kim Thái và huyện Vụ Bản nhằm kiểm soát các hoạt động mê tín dị đoan, thương mại hóa nghi lễ hầu đồng, đảm bảo an ninh trật tự, phòng chống cháy nổ và giữ gìn nét đẹp văn hóa tâm linh truyền thống.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đạt được các kết quả nghiên cứu cụ thể:

  • Hệ thống hóa dữ liệu di tích và lễ hội: Tập hợp đầy đủ hồ sơ tư liệu về 21 di tích thuộc quần thể Phủ Dầy, xác lập các mốc lịch sử từ thời Lê Cảnh Trị, ghi nhận chi tiết các đợt trùng tu kiến trúc thời Nguyễn (gắn với tên tuổi các Tổng đốc Cao Xuân Dục, Đoàn Triển) và đợt xây dựng Lăng Mẫu năm 1938.
  • Khảo tả chính xác quy mô và nghệ thuật kiến trúc: Đo đạc, ghi chép chi tiết thông số kiến trúc của Lăng Mẫu (diện tích 652 $\text{m}^2$, mộ bát giác cạnh 1,05 m với 81 núm vú đá, 60 cột đồng trụ gắn 60 búp sen đá đỏ), cấu trúc 4 cung tại Phủ Tiên Hương và Phủ Vân Cát.
  • Tái hiện quy trình thực hành nghi lễ: Mô tả chi tiết trình thức các nghi lễ đặc sắc như lễ Mộc dục (dùng nước nấu từ các loài thảo dược), quy mô đám rước thỉnh kinh (2 - 3 vạn người, rồng bóng bay dài 25 - 30 m), hội thi hát chầu văn toàn quốc (hơn 100 nghệ nhân từ 6 - 8 tỉnh) và quy tắc xếp chữ của Hoa trượng hội (gậy dài 4 m, 300 - 500 phu hội).
  • Phát hiện các điểm nghẽn thực tế: Chỉ rõ tình trạng suy giảm diện tích bãi kéo chữ từ 4.000 $\text{m}^2$ xuống 1.500 $\text{m}^2$ do chuyển đổi mục đích sử dụng đất, hiện tượng lợp tôn tạm bợ làm biến dạng không gian tôn nghiêm và tính mùa vụ quá nặng nề của điểm đến.
  • Đề xuất giải pháp mang tính ứng dụng: Cung cấp hệ thống giải pháp đồng bộ từ quy hoạch không gian, quản lý văn hóa tâm linh đến phát triển nhân lực bản địa cho chính quyền huyện Vụ Bản và tỉnh Nam Định.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Nghiên cứu được thực hiện trong khuôn khổ khóa luận tốt nghiệp đại học năm 2009, nguồn dữ liệu chủ yếu dựa trên khảo sát định tính, phỏng vấn nhân chứng và tài liệu lưu trữ địa phương; thiếu các điều tra xã hội học định lượng quy mô lớn về cơ cấu chi tiêu, mức độ hài lòng của du khách cũng như đánh giá định lượng tác động kinh tế - xã hội của du lịch đến thu nhập của cư dân xã Kim Thái.
  • Hướng mở rộng nghiên cứu:
    • Nghiên cứu xây dựng các tour, tuyến du lịch chuyên đề kết nối Phủ Dầy với các di tích lịch sử triều Trần tại Nam Định và hệ thống di tích thờ Mẫu liên tỉnh (Sòng Sơn - Thanh Hóa, Phố Cát, Tây Hồ - Hà Nội).
    • Nghiên cứu các giải pháp kinh tế du lịch nhằm đa dạng hóa sản phẩm, khắc phục tính mùa vụ lệch mùa (tập trung chủ yếu vào tháng Giêng và tháng Ba âm lịch) tại quần thể di tích.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích đối với:

  • Sinh viên, học viên chuyên ngành: Các ngành Du lịch học, Văn hóa học, Quản trị Dịch vụ Du lịch & Lữ hành cần tài liệu tham khảo thực tế về phương pháp đánh giá tài nguyên du lịch nhân văn và du lịch tâm linh.
  • Cơ quan quản lý và doanh nghiệp lữ hành: Cung cấp cứ liệu lịch sử, không gian kiến trúc và quy trình thực hành lễ hội phục vụ công tác quy hoạch điểm đến của UBND huyện Vụ Bản, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Nam Định; đồng thời hỗ trợ các công ty lữ hành xây dựng bài thuyết minh tuyến điểm và thiết kế chương trình du lịch lễ hội miền Bắc.

Câu hỏi thường gặp

1. Quần thể di tích Phủ Dầy được xếp hạng Di tích Lịch sử Văn hóa cấp Quốc gia vào năm nào và gồm những công trình trọng điểm nào?
Quần thể di tích Phủ Dầy được Bộ Văn hóa Thông tin xếp hạng là Di tích Lịch sử Văn hóa cấp Quốc gia theo Quyết định số 09/VH-QĐ ngày 21/02/1975. Trong tổng số 21 di tích thành phần, ba công trình hạt nhân tiêu biểu được công nhận bảo hộ gồm Phủ Tiên Hương, Phủ Vân Cát và Lăng Mẫu Liễu Hạnh.

2. Lăng mộ Thánh Mẫu Liễu Hạnh tại thôn Tiên Hương có đặc điểm kiến trúc và thông số kỹ thuật như thế nào?
Lăng Mẫu được xây dựng quy mô vào năm 1938 trên khu đất rộng 652 $\text{m}^2$ hoàn toàn bằng đá xanh và đá đỏ do thợ Thanh Hóa chế tác. Trung tâm lăng là ngôi mộ hình bát giác (mỗi cạnh xấp xỉ 1,05 m) viền 81 núm vú hình quả lựu (11 núm/cạnh). Lăng có 5 vòng tường đá (cạnh ngoài cùng 24 m), bố trí 60 cột đồng trụ đá vuông gắn 60 búp sen bằng đá đỏ nhấp nhô và 4 bức bình phong đá chạm phượng án ngữ ở 4 cửa ra vào.

3. Nghi thức Hoa trượng hội (Hội kéo chữ) trong Lễ hội Phủ Dầy bắt nguồn từ đâu và được tiến hành với quy mô ra sao?
Hội kéo chữ bắt nguồn từ việc Trịnh Thái phi Trần Thị Ngọc Đài cầu tự ứng nghiệm thời Lê Trung Hưng, sau đó xin Chúa Trịnh miễn việc đắp đê Bùi Trúc cho dân huyện Thiên Bản; dân làng tưởng nhớ công ơn đã cầm nông cụ đến tạ Mẫu, về sau đổi thành gậy hội để kéo chữ. Hoạt động diễn ra vào ngày mùng 7 (tại Phủ Vân Cát) và mùng 8 tháng Ba (tại Phủ Tiên Hương), quy tụ 300 - 500 phu hội mặc áo nái vàng, sử dụng gậy hội dài 1 trượng (4 m) cuốn giấy ngũ sắc để xếp thành các bộ chữ Hán như "Mẫu nghi thiên hạ", "Vạn thọ vô cương", "Quốc thái dân an", "Thiên hạ thái bình".

4. Lễ Mộc dục (tắm tượng) tại Phủ Tiên Hương vào ngày mùng 2 tháng Ba được thực hiện bằng loại nước gì và do ai thực hiện?
Nghi lễ Mộc dục được thực hiện bởi 4 cô gái đồng trinh chưa chồng sau bức màn hoa che tượng. Nước dùng để tắm tượng được lấy từ Giếng Lăng (do 8 cô gái khiêng kiệu bát cống rước về) và đun sôi cùng 5 loại thảo mộc truyền thống gồm trạch lan, trầm hương, uất kim cương, an tức và nhân long (hoặc các loại lá thơm như hương nhu, hương chanh).

5. Thực trạng diện tích sân kéo chữ tại Phủ Vân Cát được văn bản phản ánh bị suy giảm như thế nào?
Theo phản ánh của tác giả và phỏng vấn các cụ già làng, bãi kéo chữ trước nhà Phương du Phủ Vân Cát nguyên bản rộng khoảng 4.000 $\text{m}^2$ kèm đường rẻ quạt 1.500 $\text{m}^2$. Tại thời điểm nghiên cứu, diện tích này chỉ còn lại khoảng 1.500 $\text{m}^2$ do phần đất cũ đã bị đào thành ao, đắp công trình thủy lợi và chuyển đổi mục đích sang canh tác ruộng lúa.

Kết luận

Khóa luận của tác giả Lê Thị Hương đã phản ánh tương đối toàn diện giá trị lịch sử, kiến trúc nghệ thuật và các sinh hoạt văn hóa dân gian gắn với tín ngưỡng thờ Mẫu tại quần thể di tích Phủ Dầy (Nam Định). Công trình đã kết hợp giữa lý luận du lịch học với nghiên cứu khảo sát thực địa, chỉ rõ các tiềm năng nổi bật cũng như những hạn chế trong công tác quản lý không gian và hạ tầng dịch vụ. Những đề xuất và số liệu tư liệu trong khóa luận mang giá trị tham khảo thực tiễn cho công tác nghiên cứu văn hóa dân gian và định hướng quy hoạch du lịch văn hóa bền vững tại địa phương.