Tổng quan luận án
Ngoại thương Đàng Trong thời chúa Nguyễn là đề tài Luận án Tiến sĩ Sử học của nghiên cứu sinh Hồ Châu, thực hiện tại Trường Đại học Khoa học – Đại học Huế dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Bùi Thị Tân, bảo vệ năm 2021 (chuyên ngành Lịch sử Việt Nam, mã số 9229013).
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Quá trình giao lưu, buôn bán với nước ngoài trong lịch sử Việt Nam đã tạo ra những chuyển biến kinh tế, chính trị, văn hóa và xã hội qua từng thời kỳ. Vào các thế kỷ XVI – XVIII, Đàng Trong sở hữu vị trí địa lý thuận lợi và nền sản xuất hàng hóa phát triển, thúc đẩy chính quyền chúa Nguyễn thực hiện chính sách mở cửa, hướng biển nhằm gia tăng tiềm lực kinh tế và củng cố vị thế chính trị.
Dù giới sử học trong và ngoài nước đã có nhiều công trình nghiên cứu về lịch sử Đàng Trong, vấn đề ngoại thương thời kỳ này vẫn chưa có một công trình độc lập khảo cứu toàn diện và chuyên sâu. Các nghiên cứu trước đây thường tiếp cận ở mức độ khái quát, tích hợp chung với Đàng Ngoài, hoặc chỉ khảo sát từng đối tác, địa bàn riêng lẻ. Luận án được thực hiện nhằm hệ thống hóa nguồn tư liệu, làm rõ cơ sở hình thành, quá trình thực thi chính sách mở cửa cũng như tác động nhiều mặt của ngoại thương đối với sự thịnh suy của chính quyền chúa Nguyễn.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục tiêu tổng quát của luận án là tái hiện bức tranh ngoại thương Đàng Trong thời chúa Nguyễn một cách cụ thể, trung thực và đa chiều trên các phương diện: bối cảnh lịch sử, chính sách đối ngoại, hoạt động trao đổi thương mại, cơ cấu hàng hóa, hệ thống tiền tệ, thuế khóa, cùng các đặc điểm và tác động kinh tế – xã hội.
Luận án xác định 4 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Khảo cứu, sưu tầm và hệ thống hóa nguồn tư liệu liên quan để tái hiện toàn cảnh hoạt động ngoại thương Đàng Trong thời chúa Nguyễn, bổ sung các nguồn tư liệu tin cậy.
- Đặt ngoại thương Đàng Trong trong mối liên hệ hữu cơ với bối cảnh lịch sử trong nước, khu vực Đông Nam Á, Đông Bắc Á và luồng hải thương quốc tế thế kỷ XVI – XVIII.
- Trình bày diễn trình hoạt động thương mại giữa Đàng Trong với các đối tác phương Đông và phương Tây theo tiến trình vận động: mở cửa, phát triển và suy yếu.
- Rút ra các đặc điểm cơ bản trong chính sách và hoạt động giao thương, đồng thời đánh giá tác động của ngoại thương đối với chính trị – quân sự, kinh tế, văn hóa – xã hội và hệ thống đô thị, thương cảng Đàng Trong.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động ngoại thương Đàng Trong thời chúa Nguyễn (1558 – 1775), bao gồm: bối cảnh lịch sử, chính sách mở cửa, các đối tác thương mại, cơ cấu hàng hóa xuất nhập khẩu, tiền tệ, thuế khóa, đặc điểm và tác động của ngoại thương.
- Phạm vi thời gian: Từ năm 1558 (thời điểm Đoan Quốc Công Nguyễn Hoàng vào trấn nhậm xứ Thuận Hóa, bắt đầu đặt nền móng quản lý và mở cửa giao thương) đến năm 1775 (thời điểm quân Trịnh chiếm Dinh Phú Xuân, chúa Nguyễn rút vào Nam, hoạt động ngoại thương chính thức của chính quyền họ Nguyễn tại vùng trung tâm bị gián đoạn).
- Phạm vi không gian: Toàn bộ lãnh thổ Đàng Trong thời chúa Nguyễn, trải dài từ Nam sông Gianh (Quảng Bình) đến Hà Tiên (Cà Mau), bao gồm vùng đất liền, hải đảo và tập trung chủ yếu tại các cửa biển, đô thị cảng ven biển.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án phân loại và tổng thuật hệ thống tài liệu nghiên cứu liên quan đến đề tài theo các nhóm nguồn trong nước và quốc tế:
Các công trình nghiên cứu trong nước
- Giai đoạn trước năm 1975: Các bài khảo cứu trên tạp chí Tri Tân, Nam Phong, Sử Địa (như bài viết của Từ Ngọc năm 1941); các khảo cứu về truyền giáo của Hồng Lam (1944), Nguyễn Hồng (1959); công trình Việt sử tân biên (Quyển II, 1959) của Phạm Văn Sơn; Ngoại thương Việt Nam hồi thế kỷ XVII, XVIII và đầu XIX (1961) của Thành Thế Vỹ; Việt sử xứ Đàng Trong 1558 – 1777 (1967) của Phan Khoang; và Lịch sử Việt Nam (Tập 1, 1971) của Ủy ban Khoa học Xã hội Việt Nam. Các tác phẩm này đã phác thảo những nét ban đầu về thương mại Đàng Trong, tuy nhiên dung lượng dành riêng cho ngoại thương còn hạn chế hoặc chưa phân định rành mạch giữa hai miền Đàng Trong – Đàng Ngoài.
- Giai đoạn từ năm 1975 đến nay: Kỷ yếu Hội thảo quốc tế Đô thị cổ Hội An (1991) với các bài viết của Phan Đại Doãn, Vũ Minh Giang; các nghiên cứu của Đỗ Bang về thương cảng Hội An (1983) và cuốn sách Phố cảng vùng Thuận Quảng thế kỷ XVII – XVIII (1996); các công trình của Nguyễn Văn Kim về quan hệ Nhật Bản – Đông Nam Á (2003), kinh tế biển (2015), gốm sứ mậu dịch (2009); Lịch sử Việt Nam (Tập 4, 2013) do Trần Thị Vinh chủ biên; các luận án tiến sĩ của Trịnh Tiến Thuận (2002), Nguyễn Mạnh Dũng (2011), Hoàng Thị Anh Đào (2017); các bài tạp chí chuyên ngành của Phan Thanh Hải (2007), Dương Văn Huy (2007), Trần Nam Tiến (2012), Nguyễn Huy Khuyến (2012 – 2014), Vũ Thị Xuyến (2015), Nguyễn Thế Trung (2018), Đinh Tiến Hiếu (2018); cùng đề tài khoa học cấp Bộ của PGS.TS Bùi Thị Tân (2011).
Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài
- Các nghiên cứu của học giả Pháp và châu Âu: Pierre Mirand (1906) về quan hệ giữa Hà Lan với Đàng Trong; C. Maybon và H. Russier (1909), P. Cultru (1910), C. Maybon (1912, 1916, 1930, 2006); Noel Péri (1923) về quan hệ thương mại Nhật Bản – Đông Dương thời kỳ Châu ấn thuyền; W. Buch (1936) về Công ty Đông Ấn Hà Lan; Paul Boudet (1941) về chuyến đi của Pierre Poivre (1749 – 1750); Pierre-Yves Manguin (1972) về hoạt động của người Bồ Đào Nha tại duyên hải Việt Nam.
- Các công trình chuyên khảo kinh tế – lịch sử: Bức tranh kinh tế Việt Nam thế kỷ XVII và XVIII (1970/2013) của Nguyễn Thanh Nhã; Lịch sử Việt Nam, từ nguồn gốc đến giữa thế kỷ XX (1955/1982/2014) của Lê Thành Khôi; và luận án của Li Tana Xứ Đàng Trong, Lịch sử Kinh tế – Xã hội Việt Nam thế kỷ XVII và XVIII (1998).
| Nhóm tài liệu |
Đại diện tiêu biểu |
Giá trị kế thừa |
Hạn chế mà luận án giải quyết |
| Sử liệu thành văn & Bút ký đương thời |
Lê Quý Đôn, Quốc sử quán triều Nguyễn, C. Borri |
Dữ liệu gốc về tổ chức chính quyền, thương cảng, văn thư bang giao |
Thường mang tính biên niên hoặc ghi chép quan sát cá nhân |
| Học giả phương Tây & Tiếng Pháp |
P. Cultru, C. Maybon, N. Péri, P. Boudet, P.Y. Manguin |
Dữ liệu thương mại từ nhật ký hàng hải, báo cáo của VOC, CIO |
Chưa kết nối toàn diện với bối cảnh nội trị của chúa Nguyễn |
| Nghiên cứu hiện đại trong & ngoài nước |
Thành Thế Vỹ, Phan Khoang, Đỗ Bang, Nguyễn Văn Kim, Li Tana, Nguyễn Thanh Nhã |
Phân tích cơ cấu kinh tế, mạng lưới thương mại khu vực |
Đa phần gộp chung Đàng Ngoài hoặc nghiên cứu theo từng lát cắt hẹp |
Khoảng trống luận án giải quyết
Luận án định vị là công trình chuyên khảo nghiên cứu độc lập, toàn diện về ngoại thương Đàng Trong thời chúa Nguyễn trong suốt khung thời gian 1558 – 1775. Tác giả khắc phục tình trạng phân tích lồng ghép hai miền Đàng Trong – Đàng Ngoài, bổ sung nguồn tư liệu tiếng Pháp và tư liệu hiện vật, đồng thời phân tích cụ thể diễn trình thịnh suy gắn liền với chính sách hướng biển của chính quyền họ Nguyễn.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận và tiếp cận nghiên cứu
Luận án tiếp cận đối tượng dựa trên nguyên lý của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, đặt hoạt động kinh tế ngoại thương trong mối quan hệ biện chứng với chính trị, quân sự, văn hóa và bối cảnh quốc tế đương thời. Hoạt động trao đổi thương nghiệp được khảo sát dựa trên quy luật kinh tế về cung – cầu, lưu thông hàng hóa và tư duy khai thác kinh tế biển của nhà nước phong kiến.
Phương pháp nghiên cứu
Tác giả kết hợp đồng bộ các phương pháp nghiên cứu lịch sử chuyên ngành và liên ngành:
- Phương pháp lịch sử: Tái hiện các sự kiện, quá trình thiết lập quan hệ thương mại, sự ban hành các quy định thuế khóa theo đúng trình tự không gian và thời gian từ năm 1558 đến năm 1775.
- Phương pháp logic: Phân tích, liên kết các sự kiện lịch sử riêng lẻ để khái quát hóa bản chất, đặc điểm, quy luật vận động và những tác động nhiều chiều của ngoại thương đối với cấu trúc xã hội Đàng Trong.
- Phương pháp giám định và so sánh: Đối chiếu các tư liệu thành văn của Việt Nam (Phủ biên tạp lục, Đại Nam thực lục) với tư liệu phương Tây và văn bản ngoại giao Nhật Bản; so sánh đồng đại giữa hoạt động ngoại thương Đàng Trong với Đàng Ngoài và các quốc gia Đông Nam Á cùng thời.
- Phương pháp điền dã và khảo sát thực địa: Trực tiếp khảo sát hiện trường tại các địa bàn thương cảng lịch sử: Hội An (Quảng Nam), Thanh Hà (Thừa Thiên Huế), Nước Mặn (Bình Định), Biên Hòa (Đồng Nai), Cần Thơ, Vĩnh Long, Mũi Cà Mau và trấn Hà Tiên (Kiên Giang); khảo sát các di tích mộ thương nhân Nhật Bản tại Hội An.
Nguồn tư liệu sử dụng
- Tư liệu thư tịch cổ: Phủ biên tạp lục (Lê Quý Đôn), Đại Nam thực lục (Quốc sử quán triều Nguyễn), tập bút ký Xứ Đàng Trong năm 1621 của giáo sĩ Cristoforo Borri, hệ thống văn thư bang giao trao đổi giữa chúa Nguyễn và chính quyền Mạc phủ Nhật Bản.
- Tư liệu tiếng Pháp: Các công trình và tài liệu lưu trữ xuất bản từ cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX của các học giả: P. Cultru, Pierre Mirand, C. Maybon, Noel Péri, W. Buch, Paul Boudet; các bài viết trên tập san Viện Viễn Đông Bác Cổ (BEFEO) và Hội Đô Thành Hiếu Cổ (BAVH).
- Tư liệu hiện vật: Khảo sát các hiện vật liên quan trực tiếp đến hoạt động đo lường và giao thương như quả cân thương mại, tiền đồng, tiền kẽm, đồ gốm sứ xuất nhập khẩu và súng thần công do phương Tây cung cấp hoặc chúa Nguyễn tự đúc theo kỹ thuật phương Tây.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu
Chương 1 tổng thuật và phân tích có hệ thống các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến ngoại thương Đàng Trong thời chúa Nguyễn. Tác giả phân định thành tựu nghiên cứu qua các mốc thời gian: trước năm 1975 và từ năm 1975 đến nay trong nước, kết hợp điểm luận các công trình của giới học giả Pháp, Nhật Bản, Hà Lan và Trung Quốc.
Trên cơ sở đó, chương xác lập các nội dung kế thừa về mặt phương pháp luận, tư liệu sử liệu; đồng thời chỉ rõ những vấn đề còn để ngỏ như: tính hệ thống của diễn trình thịnh suy thương mại thế kỷ XVI – XVIII, cơ cấu thuế quan chi tiết, mức độ tác động của ngoại thương đối với khả năng tự chủ chính trị – quân sự của chính quyền chúa Nguyễn.
Chương 2: Bối cảnh lịch sử và chính sách mở cửa ngoại thương của chúa Nguyễn ở Đàng Trong
Chương 2 phân tích các điều kiện lịch sử quốc tế, khu vực và trong nước tạo tiền đề cho sự hình thành chính sách kinh tế đối ngoại của Đàng Trong:
[Bối cảnh lịch sử thế kỷ XVI - XVIII]
[Quốc tế & Tây Âu] [Khu vực châu Á] [Bối cảnh trong nước]
- CNTB trỗi dậy (Hà Lan, Anh) - ĐNA: Ngã tư hải thương - Phân tranh Trịnh - Nguyễn
- Phát kiến địa lý, mở rộng biển - TQ: Hải cấm & bãi bỏ cấm biển - Nhu cầu vũ khí, tài chính
- Thành lập VOC (1602), CIO (1664) - NB: Mậu dịch Châu ấn thuyền - Nguyễn Hoàng vào Thuận Hóa
[Chính sách mở cửa hướng biển của chúa Nguyễn]
- Bối cảnh quốc tế và khu vực: Sự phát triển của chủ nghĩa tư bản Tây Âu với thắng lợi của cách mạng tư sản Hà Lan và cách mạng tư sản Anh (1640 – 1688); các cuộc phát kiến địa lý mở ra luồng hải thương toàn cầu. Các nước phương Tây tăng cường hiện diện tại châu Á: Bồ Đào Nha (Antonio de Faria đến vịnh Đà Nẵng năm 1535, lập quan hệ với Nhật Bản năm 1545); Hà Lan phái các đội tàu do Cornelis de Houtman (1595) và Jacob van Neck (1598) chỉ huy sang Đông Ấn, thành lập Công ty Đông Ấn Hà Lan (VOC) năm 1602, lập bản doanh Batavia năm 1619; Anh thành lập Công ty Levant (1581) và Công ty Đông Ấn Anh (EIC) năm 1600; Pháp thành lập Hội Thừa sai Paris (MEP) và Công ty Đông Ấn Pháp (CIO) năm 1664, đặt thương điếm tại Ayutthaya năm 1680. Khu vực Đông Nam Á giữ vai trò trạm trung chuyển hàng hải ("ngã tư đường"). Tại Đông Bắc Á, nhà Minh thực hiện "hải cấm" thời Gia Tĩnh rồi bãi bỏ năm 1567 thời Long Khánh; Nhật Bản phát triển ngoại thương qua hệ thống Châu ấn thuyền (Shuinsen).
- Bối cảnh trong nước: Xung đột Trịnh – Nguyễn và cuộc chiến tranh kéo dài suốt thế kỷ XVII buộc chúa Nguyễn phải tìm kiếm nguồn lực tài chính, kim loại và vũ khí kỹ thuật từ bên ngoài để bảo vệ và củng cố vùng đất Thuận – Quảng.
- Chính sách mở cửa của chúa Nguyễn: Nhận thức rõ ưu thế duyên hải, chúa Nguyễn chủ động từ bỏ quan điểm "ngăn sông cấm chợ", ban hành chính sách hướng biển, mời gọi thuyền buôn ngoại quốc cập bến, cấp phép thành lập các khu phố ngoại kiều, thương điếm và áp dụng quy chế ưu đãi thương mại.
Chương 3: Hoạt động thương mại giữa Đàng Trong thời chúa Nguyễn với nước ngoài thế kỷ XVI – XVIII
Chương 3 tái hiện chi tiết các hoạt động trao đổi thương mại, cơ cấu xuất nhập khẩu và cơ chế quản lý tài chính của Đàng Trong:
- Các đối tác thương mại:
- Phương Đông: Thương nhân Trung Hoa (Hoa thương) giữ vai trò trung gian phân phối hàng hóa liên tục; thương nhân Nhật Bản giao thương sôi nổi trong giai đoạn Châu ấn thuyền (cuối thế kỷ XVI đến những năm 1630); các quốc gia Đông Nam Á như Xiêm, Campuchia, Champa.
- Phương Tây: Bồ Đào Nha thiết lập quan hệ từ sớm, cung cấp vũ khí và kỹ thuật đúc súng (tiêu biểu là thợ đúc súng João da Cruz tại Phú Xuân); Công ty Đông Ấn Hà Lan (VOC) lập thương điếm tại Hội An năm 1636; Công ty Đông Ấn Pháp (CIO) cử các phái đoàn thương mại (tiêu biểu là hai chuyến đi của Pierre Poivre vào các năm 1740 và 1749 – 1750); cùng các thương nhân Anh thuộc EIC.
- Cơ cấu hàng hóa xuất nhập khẩu:
| Phân loại hàng hóa |
Các mặt hàng chủ lực |
Thị trường / Đối tác giao dịch chính |
| Hàng xuất khẩu |
Nông, lâm, thổ, hải sản: hồ tiêu, đường cát, tơ tằm, lụa, yến sào, kỳ nam, trầm hương, gỗ quý, cau khô, khoáng sản |
Nhật Bản, Trung Quốc, Hà Lan, Pháp, Bồ Đào Nha |
| Hàng nhập khẩu |
Vũ khí (đại bác, súng tay), diêm tiêu, lưu huỳnh, chì, đồng, kẽm đúc tiền, len dạ Tây Âu, đồ gốm sứ, thuốc bắc |
Bồ Đào Nha, Hà Lan, Trung Quốc, Nhật Bản |
- Tiền tệ và thuế khóa ngoại thương: Quản lý việc lưu hành tiền đồng, tiền kẽm và bạc nén trong thanh toán quốc tế; thiết lập hệ thống thu thuế tàu bè cập cảng, đo đạc kích thước thuyền buôn để tính thuế suất, thực hiện kiểm soát hàng hóa và thu thuế quan chặt chẽ tại các cửa biển ven miền Trung và Nam Bộ.
Chương 4: Đặc điểm, tác động của ngoại thương Đàng Trong thời chúa Nguyễn
Chương 4 đúc kết các quy luật vận động và đánh giá hệ quả toàn diện của hoạt động ngoại thương:
- Các đặc điểm cơ bản:
- Yếu tố vũ khí giữ vai trò then chốt: Nhu cầu trang bị quân sự (đại bác, thuốc súng, kim loại đúc vũ khí) là động lực chủ đạo định hình thái độ và sự điều chỉnh chính sách thương mại của chúa Nguyễn đối với các đối tác phương Tây.
- Sự chi phối của độc quyền nhà nước: Quyền ưu tiên chọn mua hàng hóa tốt nhất thuộc về phủ chúa và quan lại; việc quản lý độc quyền ở một số thời kỳ đã gây cản trở nhất định đến tính linh hoạt của thị trường tự do.
- Không gian thương mại tập trung tại các đô thị cảng lớn: Mạng lưới buôn bán diễn ra chủ yếu ở chuỗi phố cảng ven biển, trong đó thương cảng Hội An giữ vị trí trung tâm hạt nhân; tiếp nối là Thanh Hà, Nước Mặn và Hà Tiên.
- Tính chất mùa vụ rõ nét: Lịch trình cập bến và rời cảng của thương thuyền phụ thuộc chặt chẽ vào chế độ gió mùa hải lưu châu Á.
- Chịu tác động mạnh từ biến động bên ngoài: Mặc dù chúa Nguyễn chủ động mở cửa, hoạt động ngoại thương vẫn phụ thuộc vào chính sách "đóng cửa" của Nhật Bản (sau 1635), chính sách hải cấm của nhà Thanh hay các cuộc xung đột giữa các công ty tư bản phương Tây.
- Tác động nhiều mặt đối với Đàng Trong:
- Chính trị – quân sự: Cung cấp vũ khí, công nghệ quân sự và nguồn tài chính lớn, giúp chính quyền họ Nguyễn giữ vững phòng tuyến trước Đàng Ngoài và mở rộng lãnh thổ về phía Nam.
- Kinh tế: Kích thích sản xuất nông nghiệp hàng hóa, thúc đẩy các làng nghề thủ công phát triển (nghề dệt tơ lụa, nghề làm đường mía, khai thác lâm thổ sản), kéo giảm tính tự cấp tự túc khép kín.
- Văn hóa – xã hội: Tạo điều kiện cho quá trình giao lưu văn hóa Đông – Tây, tiếp nhận kỹ thuật phương Tây, sự du nhập của đạo Công giáo, hình thành các khu dân cư kiều dân (phố người Hoa, phố người Nhật).
- Đô thị và thương cảng: Thúc đẩy sự ra đời, hưng khởi của các thương cảng ven biển miền Trung và Nam Bộ, biến Đàng Trong thành một mắt xích kết nối trực tiếp vào tuyến hải thương quốc tế.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt tư liệu
- Khai thác và dịch thuật có hệ thống các nguồn tư liệu tiếng Pháp giai đoạn cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX (công trình của P. Cultru, Pierre Mirand, C. Maybon, Noel Péri, W. Buch, Paul Boudet, Pierre-Yves Manguin).
- Bổ sung nguồn tư liệu hiện vật khảo sát thực tế (hệ thống quả cân hàng hóa, các loại tiền tệ đồng – kẽm, hiện vật gốm sứ mậu dịch, súng thần công) để đối chứng với thư tịch cổ.
Đóng góp về mặt nội dung khoa học
- Chứng minh chính sách mở cửa, phát triển kinh tế biển của các chúa Nguyễn là quyết sách thích ứng đúng đắn với thời cuộc và trật tự hải thương châu Á.
- Tái hiện bức tranh toàn diện về hoạt động ngoại thương Đàng Trong theo tiến trình logic: phục hồi và phát triển mạnh mẽ vào nửa sau thế kỷ XVI – thế kỷ XVII, chuyển dần sang suy thoái trong thế kỷ XVIII và suy yếu trầm trọng từ giữa thế kỷ XVIII.
- Phân tích rõ 5 đặc điểm cốt lõi và 4 nhóm tác động sâu sắc của ngoại thương đối với sự hưng suy của chính quyền Đàng Trong.
Đóng góp về mặt tư vấn chính sách
Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở lịch sử về truyền thống giao thương hàng hải giữa Việt Nam với các đối tác truyền thống (Nhật Bản, Trung Quốc, Pháp, Hà Lan, Anh, Bồ Đào Nha), đồng thời rút ra bài học kinh nghiệm lịch sử về mở cửa hội nhập, quản lý thuế quan và phát triển kinh tế biển phục vụ thực tiễn hiện nay.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Nghiên cứu bị giới hạn trong khung niên đại lịch sử 1558 – 1775. Nguồn tư liệu hiện vật trải qua thời gian dài và biến động chiến tranh đã bị mai một đáng kể. Việc tiếp cận trọn vẹn các kho lưu trữ gốc ở nước ngoài (Hà Lan, Bồ Đào Nha, Anh) còn gặp những rào cản nhất định.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Tiếp tục khảo sát, bổ khuyết các nguồn tư liệu lưu trữ ngoại giao quốc tế và các phát hiện mới từ khảo cổ học dưới nước nhằm làm sâu sắc hơn các khía cạnh về quy mô thương mại, khối lượng giao dịch cụ thể giữa Đàng Trong với các nước phương Tây.
Giá trị tham khảo
- Đối tượng thụ hưởng:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học, giảng viên và sinh viên chuyên ngành Lịch sử Việt Nam, Lịch sử Kinh tế, Đông phương học và Quan hệ quốc tế.
- Các nhà nghiên cứu văn hóa đô thị cổ, khảo cổ học thương mại biển.
- Các cơ quan tham mưu, hoạch định chính sách kinh tế đối ngoại và chiến lược biển quốc gia.
- Các nội dung có giá trị tham khảo cao:
- Bảng tổng thuật các thư mục tư liệu tiếng Pháp và thư tịch cổ về lịch sử thương mại trung đại.
- Dữ liệu lịch sử về cơ chế quản lý ngoại thương, thuế suất tàu thuyền và phương thức bang giao thời chúa Nguyễn.
- Phân tích mô hình hoạt động của các thương cảng trung chuyển ven biển như Hội An, Thanh Hà, Hà Tiên.
Câu hỏi thường gặp
1. Vì sao luận án lựa chọn mốc thời gian nghiên cứu từ năm 1558 đến năm 1775?
Năm 1558 là mốc Đoan Quốc Công Nguyễn Hoàng được triều đình nhà Lê cử vào trấn nhậm xứ Thuận Hóa, mở đầu công cuộc quản lý và thi hành chính sách mở cửa kinh tế tại vùng Thuận – Quảng. Năm 1775 là thời điểm quân Trịnh chiếm Dinh Phú Xuân, chúa Nguyễn phải rời vào Nam, đánh dấu giai đoạn hoạt động ngoại thương chính thức của chính quyền họ Nguyễn tại thủ phủ trung tâm khép lại.
2. Nhu cầu nhập khẩu vũ khí có vai trò như thế nào đối với chính sách ngoại thương của chúa Nguyễn?
Vũ khí và trang bị kỹ thuật quân sự (đại bác, súng tay, diêm tiêu, lưu huỳnh, chì, đồng) là yếu tố then chốt chi phối thái độ bang giao và ngoại thương của chúa Nguyễn. Nhu cầu tự vệ và đối đầu quân sự với Đàng Ngoài trong cuộc chiến tranh Trịnh – Nguyễn thúc đẩy chính quyền tạo nhiều ưu đãi cho các thương nhân phương Tây (như Bồ Đào Nha, Hà Lan) để đổi lấy khí tài quân sự hiện đại.
3. Công ty Đông Ấn Hà Lan (VOC) và Công ty Đông Ấn Pháp (CIO) đã thiết lập cơ sở thương mại tại Đàng Trong vào thời gian nào?
Công ty Đông Ấn Hà Lan (VOC) chính thức lập thương điếm tại Hội An vào năm 1636. Công ty Đông Ấn Pháp (CIO) được thành lập năm 1664 và sau đó cử các đại diện thương mại sang Đàng Trong, tiêu biểu là các chuyến tiếp xúc, khảo sát thương mại của Pierre Poivre tại Hội An và Phú Xuân vào các năm 1740 và 1749 – 1750.
4. Cơ cấu hàng xuất khẩu chủ lực của Đàng Trong thời chúa Nguyễn gồm những mặt hàng nào?
Hàng hóa xuất khẩu của Đàng Trong chủ yếu gồm các nguồn nông, lâm, thổ và hải sản có giá trị thương mại cao như: đường cát, hạt tiêu, tơ tằm, vải lụa, yến sào, kỳ nam, trầm hương, gỗ quý, cau khô và khoáng sản. Những mặt hàng này được thị trường Nhật Bản, Trung Quốc và các nước châu Âu ưa chuộng.
5. Thương cảng nào giữ vai trò hạt nhân trung tâm trong mạng lưới ngoại thương Đàng Trong?
Thương cảng Hội An (Quảng Nam) giữ vai trò là trung tâm giao thương quốc tế và khu vực sôi động nhất của Đàng Trong. Tại đây hình thành các khu phố định cư của kiều dân Nhật Bản và Trung Hoa, đồng thời là nơi tiếp nhận hầu hết các thương thuyền phương Đông và phương Tây đến bốc dỡ hàng hóa và đóng thuế quan.
Kết luận
Luận án Tiến sĩ Sử học Ngoại thương Đàng Trong thời chúa Nguyễn của tác giả Hồ Châu là công trình nghiên cứu hệ thống, tái hiện toàn diện hoạt động kinh tế đối ngoại của Đàng Trong từ năm 1558 đến năm 1775. Dựa trên nguồn sử liệu thành văn đa ngữ, tài liệu lưu trữ tiếng Pháp và hiện vật khảo sát thực tế, luận án đã làm rõ cơ sở hình thành, nội dung chính sách mở cửa hướng biển của các chúa Nguyễn cùng cơ cấu giao thương với phương Đông và phương Tây. Công trình khẳng định vai trò quyết định của kinh tế ngoại thương đối với việc củng cố tiềm lực quân sự, thúc đẩy kinh tế hàng hóa, hình thành hệ thống đô thị cảng và duy trì vị thế của chính quyền họ Nguyễn trong tiến trình lịch sử Việt Nam trung đại.