Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ lịch sử "Thủ công nghiệp Quảng Nam - Đà Nẵng (1802-1945)" của nghiên cứu sinh Nguyễn Minh Phương, thực hiện tại Trường Đại học Sư phạm – Đại học Huế (năm 2017) dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Bùi Thị Tân và PGS. Trương Công Huỳnh Kỳ, thuộc chuyên ngành Lịch sử Việt Nam (mã số: 62 22 03 13).
Về tính cấp thiết, thủ công nghiệp là bộ phận kinh tế truyền thống có vai trò hỗ trợ nông nghiệp, thúc đẩy thương nghiệp và định hình bản sắc văn hóa vùng miền tại Việt Nam. Vùng đất Quảng Nam - Đà Nẵng giữ vị thế chiến lược "yết hầu của miền Thuận - Quảng", là đầu mối giao thương quốc tế từ thời chúa Nguyễn và tiếp tục chuyển biến mạnh mẽ trong các thế kỷ XIX - XX. Dù đã có nhiều công trình đề cập đến khu vực này, các nghiên cứu trước đây chủ yếu dừng lại ở việc giới thiệu chung, khảo cứu tản mạn từng làng nghề hoặc tiếp cận dưới dạng giai thoại dân gian. Khoảng trống nghiên cứu mà luận án xác định là việc thiếu vắng một công trình lịch sử kinh tế chuyên khảo, tái hiện có hệ thống diện mạo, cơ cấu ngành nghề, tổ chức sản xuất, sự chuyển biến qua hai thời kỳ (trước và trong thời thuộc Pháp) cùng các đặc trưng và tác động đa chiều của thủ công nghiệp xứ Quảng trong giai đoạn 1802-1945.
Mục đích nghiên cứu của luận án là làm rõ chính sách của nhà Nguyễn và chính quyền thực dân Pháp đối với thủ công nghiệp, so sánh thực trạng thủ công nghiệp giữa hai giai đoạn 1802-1885 và 1885-1945, khẳng định các đặc trưng của nghề và làng nghề tiêu biểu, đồng thời đánh giá đóng góp của ngành kinh tế này đối với lịch sử - văn hóa địa phương.
Nhiệm vụ nghiên cứu được xác định gồm 4 nội dung cụ thể:
- Phân tích các yếu tố tự nhiên, lịch sử, kinh tế, chính trị và xã hội tác động đến sự phát triển của thủ công nghiệp Quảng Nam - Đà Nẵng qua các thời kỳ lịch sử.
- Nghiên cứu thực trạng thủ công nghiệp Quảng Nam - Đà Nẵng từ năm 1802 đến năm 1945, khảo sát cụ thể các nghề và làng nghề thủ công tiêu biểu.
- Rút ra các đặc điểm cơ bản và làm rõ vai trò, tác động của thủ công nghiệp đối với địa phương trên các mặt kinh tế, chính trị, văn hóa và xã hội.
- Đề xuất các giải pháp khoa học nhằm bảo tồn và phát huy giá trị các nghề, làng nghề truyền thống xứ Quảng trong bối cảnh hiện nay.
Đối tượng nghiên cứu là thủ công nghiệp Quảng Nam - Đà Nẵng trên các phương diện: thủ công nghiệp nhà nước, thủ công nghiệp dân gian, quan hệ sản xuất, kỹ thuật, nguồn nguyên liệu, thị trường tiêu thụ, nhân công, đời sống thợ thủ công và các tác động kinh tế - xã hội liên quan.
Phạm vi nghiên cứu được giới hạn như sau:
- Không gian: Địa bàn tỉnh Quảng Nam và thành phố Đà Nẵng (với tổng diện tích tự nhiên khoảng 11.400 km²).
- Thời gian: Từ năm 1802 (khi triều Nguyễn thành lập) đến tháng 8/1945 (trước Cách mạng tháng Tám), phân kỳ thành hai giai đoạn chính: 1802-1885 (thời kỳ quân chủ độc lập tự chủ) và 1885-1945 (thời kỳ thuộc Pháp).
- Nội dung: Tập trung vào các nhân tố tác động, cơ cấu ngành nghề, tổ chức sản xuất, lưu thông sản phẩm của các nghề/làng nghề tiêu biểu, cùng đặc điểm và vai trò lịch sử của thủ công nghiệp địa phương.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tác giả đã phân loại và điểm luận các công trình nghiên cứu đi trước thành ba nhóm chính:
Nhóm nghiên cứu về thủ công nghiệp và kinh tế Việt Nam:
- Việt Hồng (1946) với Tư bản Pháp với nền kinh tế Việt Nam phân tích chính sách công nghiệp thuộc địa và một số mặt hàng thủ công xuất khẩu.
- Phan Gia Bền (1957) với Sơ thảo lịch sử phát triển thủ công nghiệp Việt Nam đặt nền tảng phân loại các hình thức tiểu sản xuất hàng hóa và công trường thủ công.
- Nguyễn Thế Anh (1971, 2008) trong Kinh tế & Xã hội Việt Nam dưới các vua triều Nguyễn và Việt Nam thời Pháp đô hộ phân tích sự xâm nhập của yếu tố sản xuất tư bản vào các ngành nghề chế biến như làm mắm.
- Vũ Huy Phúc (1996) trong Tiểu thủ công nghiệp Việt Nam 1858-1945 phân kỳ chi tiết các giai đoạn 1858-1896, 1897-1918, 1919-1930, 1930-1945, chứng minh sự chuyển biến của tiểu thủ công nghiệp thời thuộc địa.
- Bùi Thị Tân và Vũ Huy Phúc (1998) trong Kinh tế thủ công nghiệp và phát triển công nghệ Việt Nam dưới triều Nguyễn phân tích chế độ công tượng, chế độ biệt nạp và đội ngũ thợ giỏi xứ Quảng đóng góp cho kinh đô.
- Các công trình khác của Đỗ Bang (1996), Trần Quốc Vượng và Đỗ Thị Hảo (1996), Cao Văn Biền (1998), Nguyễn Văn Khánh (2000), Tạ Thị Thúy (2007), Phạm Quốc Sử (2008), Lê Minh Quốc (2010), cùng các khảo cứu làng nghề của Nguyễn Hữu Thông (1994), Bùi Văn Vượng (2002), Phạm Côn Sơn (2009).
Nhóm công trình về địa phương Quảng Nam - Đà Nẵng có đề cập đến thủ công nghiệp:
- Các ghi chép, bài báo của học giả, du khách phương Tây: A. Gouin (1883), Marcel Monnier (1899), G. Monod (1900), Ricquebourg (1905), Guillon (1917), Sallet, Fontana, Cucherousset (1927), Charles Robequain (1939), ghi lại hoạt động buôn bán, danh thắng Ngũ Hành Sơn và nghề điêu khắc đá Non Nước.
- Các công trình trong nước: Phan Du (1974) với Quảng Nam qua các thời đại (công bố tư liệu văn bia chùa Phổ Khánh năm 1678 ghi nhận thợ đá Quán Khái); Nguyễn Văn Xuân (1995) viết về tác động kinh tế của phong trào Duy Tân; Dương Trung Quốc (1997, 2001); Nguyễn Đình Đầu (1998); Nguyễn Thừa Hỷ, Đỗ Bang, Nguyễn Văn Đăng (2000); Tỉnh ủy, UBND tỉnh Quảng Nam và TP. Đà Nẵng (2010) với bộ Địa chí Quảng Nam - Đà Nẵng; Nguyễn Minh Triều (2010); Nguyễn Thị Thịnh (2011); nhóm tác giả Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam (Võ Văn Hòe, Trần Hồng, Hồ Tấn Tuấn, 2015) nghiên cứu tiếp biến văn hóa Việt - Chăm qua các nghề chế biến mắm, làm đường, đúc đồng.
Nhóm công trình chuyên sâu về nghề và làng nghề Quảng Nam - Đà Nẵng:
- Khảo cứu dân gian của Phạm Hữu Đăng Đạt (2003, 2013); công trình về nghề tơ lụa của Nguyễn Phước Tương (2003) và Hồ Vũ Thị Minh Châu (2004); ấn phẩm Nghề và làng nghề truyền thống đất Quảng của Hội Văn nghệ dân gian TP. Đà Nẵng (2009); luận văn, luận án về điêu khắc đá Non Nước của Huỳnh Ngọc (2012) và Dương Thị Ngọc Bích (2014).
Khoảng trống nghiên cứu được lựa chọn: Các công trình nêu trên là nguồn dữ liệu quan trọng nhưng phần lớn chỉ giới thiệu tản mạn hoặc dừng lại ở góc độ văn hóa dân gian, chưa làm rõ tiến trình phát triển lịch sử, cơ chế vận hành của chính sách nhà nước (công tượng, biệt nạp, chính sách thuế khóa thuộc địa), sự biến chuyển kỹ thuật và mối quan hệ hữu cơ giữa thủ công nghiệp với sự hình thành kinh tế hàng hóa, đô thị tại Quảng Nam - Đà Nẵng suốt chiều dài 1802-1945.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án dựa trên cơ sở lý luận sử học mác-xít về hình thái kinh tế - xã hội, phân công lao động xã hội và sự phát triển của sản xuất hàng hóa. Các khái niệm công cụ được tác giả hệ thống hóa gồm:
- Nghề và nghề thủ công truyền thống: Hoạt động sản xuất phi nông nghiệp sử dụng lao động chân tay và công cụ thô sơ để chế tác vật phẩm sinh hoạt, nghệ thuật mang giá trị kinh tế và văn hóa.
- Làng nghề truyền thống: Tiếp thu định nghĩa của GS. Trần Quốc Vượng, làng nghề là thực thể địa lý - xã hội nơi cư dân vừa làm nông nghiệp vừa nổi trội một nghề cổ truyền tinh xảo, có cơ cấu tổ chức phường hội (ông trùm, phó cả), có quy trình công nghệ ổn định, sản xuất sản phẩm hàng hóa phục vụ thị trường địa phương, đô thị và xuất khẩu.
- Tiểu thủ công nghiệp / Tiểu công nghiệp / Petty industry: Khảo cứu định nghĩa của Bách khoa toàn thư Liên Xô, Ủy ban Kinh tế Châu Á - Viễn Đông (ECAFE, 1962: cơ sở dưới 50 công nhân không dùng máy hoặc dưới 20 công nhân dùng máy dưới 50 mã lực), quan điểm của Phan Gia Bền và Phạm Quốc Sử để xác định đối tượng nghiên cứu là các hoạt động công nghệ thủ công và cơ khí nhỏ.
Về phương pháp nghiên cứu, tác giả sử dụng phương pháp lịch sử kết hợp phương pháp logic làm chủ đạo. Đi kèm là các phương pháp bổ trợ: phương pháp so sánh (đồng đại và lịch đại giữa các thời kỳ và giữa xứ Quảng với các vùng miền khác), phương pháp thống kê, phân loại, phân tích và tổng hợp tư liệu.
Nguồn tư liệu khai thác bao gồm:
- Thư tịch cổ: Ô Châu cận lục (Dương Văn An), Phủ biên tạp lục (Lê Quý Đôn), Đại Nam thực lục, Đại Nam nhất thống chí, Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ của Quốc sử quán triều Nguyễn.
- Tư liệu lưu trữ: Châu bản triều Nguyễn, các văn bản hành chính, nghị định của chính quyền thực dân Pháp.
- Tư liệu điền dã thực địa: Văn bia, gia phả dòng họ, sắc phong, hương ước, khoán ước, văn tế tổ nghề tại các làng nghề; tư liệu văn hóa dân gian (ca dao, truyền thuyết, hò vè); tư liệu phỏng vấn sâu các nghệ nhân và người cao tuổi tại địa phương.
Nội dung chính theo từng chương
Bố cục phần nội dung chính của luận án gồm 4 chương với cơ cấu số trang như sau:
| Chương |
Tên chương |
Số trang |
| Chương 1 |
Tổng quan về vấn đề nghiên cứu |
18 trang |
| Chương 2 |
Thủ công nghiệp Quảng Nam - Đà Nẵng từ năm 1802 đến năm 1885 |
80 trang |
| Chương 3 |
Thủ công nghiệp Quảng Nam - Đà Nẵng từ năm 1885 đến năm 1945 |
45 trang |
| Chương 4 |
Đặc điểm, vai trò của thủ công nghiệp Quảng Nam - Đà Nẵng (1802 - 1945) |
25 trang |
Chương 1: Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
Chương này trình bày lý luận về vị trí của thủ công nghiệp trong nền kinh tế truyền thống, hệ thống hóa các khái niệm then chốt (nghề, nghề thủ công, làng nghề, tiểu thủ công nghiệp) và điểm luận toàn diện tình hình nghiên cứu trong nước, quốc tế liên quan đến đề tài. Tác giả chỉ rõ những kết quả đã được khẳng định cần kế thừa và xác định rõ các nội dung khoa học cần tiếp tục đi sâu giải quyết.
Chương 2: Thủ công nghiệp Quảng Nam - Đà Nẵng từ năm 1802 đến năm 1885
Chương 2 phân tích các nhân tố tác động và diện mạo thủ công nghiệp dưới thời Nguyễn độc lập qua các luận điểm chính:
-
Điều kiện tự nhiên và tài nguyên: Địa hình đa dạng với diện tích tự nhiên 11.400 km²; vùng đồi núi chiếm gần 3/4 diện tích cung cấp nguồn lâm sản phong phú (gỗ quý, tre, nứa, mây, đoác, lá nón, trầm hương, quế); dãy Ngũ Hành Sơn cung cấp đá cẩm thạch; đồng bằng nhỏ hẹp (khoảng 1.500 km²) với đất phù sa ven sông (57.050 ha) và đất cát pha, thích hợp trồng dâu, mía, bông, gai, đay, cói. Mạng lưới sông ngòi dày đặc gồm sông Thu Bồn, sông Cổ Cò, sông Hàn, sông Trường Giang nối liền thông suốt Bắc - Nam, Đông - Tây, tạo điều kiện vận chuyển nguyên liệu và lưu thông hàng hóa. Vịnh Đà Nẵng sâu và kín gió giữ vai trò tiền cảng tiếp nhận thương thuyền quốc tế.
-
Yếu tố lịch sử, con người và di sản truyền thống: Luồng di dân từ Thanh - Nghệ - Tĩnh và đồng bằng Bắc Bộ mang theo kỹ nghệ truyền thống; quá trình cộng cư tiếp thu kỹ thuật của người Chăm (kỹ thuật luyện vàng, chế biến mắm cái, mắm nước, làm đường cát, đường phèn, kỹ thuật đóng ghe bầu). Di sản từ thời các chúa Nguyễn để lại các làng nghề phát triển quanh đô thị cổ Hội An như gốm Thanh Hà, mộc Kim Bồng, đúc đồng Phước Kiều, dệt lụa Thi Lai, dệt chiếu Bàn Thạch, đóng ghe Chu Tượng, khai thác đá Quán Khái (văn bia chùa Phổ Khánh năm 1678 xác nhận nghệ nhân Lê Phúc Thông, Lê Hữu Thái). Tơ lụa phủ Điện Bàn và phủ Thăng Hoa từng đạt trình độ dệt lăng, la, thái đoạn tinh xảo; nghề mía đường từng cung ứng cho triều đình hàng chục ngàn cân đường phèn, đường cát (sách Phủ biên tạp lục ghi nhận hai xã Đông Thẩm và châu Xuân Đài nộp 48.320 cân đường thay thuế sai dư).
-
Tình hình chính trị, xã hội, kinh tế: Năm 1806 đặt dinh Quảng Nam là dinh "trực lệ"; năm 1832 đổi thành tỉnh Quảng Nam; năm 1834 định danh là tỉnh "Nam Trực". Năm 1822 đào sông Vĩnh Điện; năm 1833 dời tỉnh lỵ từ Thanh Chiêm ra La Qua. Hệ thống trạm dịch ("thất trạm") hoàn thành năm 1809 củng cố giao thông đường bộ. Dân số ghi nhận qua số đinh tăng từ 36.900 đinh (thời Gia Long) lên 51.000 đinh (thời Tự Đức).
-
Chính sách của triều Nguyễn: Áp dụng chế độ công tượng và chế độ biệt nạp. Chế độ công tượng tổ chức trưng dụng thợ giỏi địa phương vào làm việc tại các xưởng đúc tiền, đóng thuyền, chế tạo vũ khí, xây dựng lăng tẩm ở kinh đô Huế (năm 1829 chuyển giao cho Bộ Công quản lý). Chế độ biệt nạp cho phép các làng nghề chuyên nghiệp nộp sản phẩm thủ công (đường, tơ lụa, chiếu, đồ đồng, nón lá, mắm) để trừ thuế đinh và thuế sai dư.
-
Thủ công nghiệp dân gian: Phát triển đa dạng gồm các nghề dệt vải, ươm tơ dệt lụa (Mã Châu, Thi Lai), làm đường mía (Điện Bàn), rèn sắt, đúc đồng (Phước Kiều), mộc dân dụng và chạm khắc mỹ thuật (Kim Bồng), gốm đất nung (Thanh Hà), điêu khắc đá mỹ nghệ (Quán Khái - Non Nước), làm nón, đan lát mây tre, sản xuất nước mắm (Nam Ô), làm muối mặn, khai thác khoáng sản (vàng Bồng Miêu, than đá Nông Sơn, trầm hương Bàng Tân).
Chương 3: Thủ công nghiệp Quảng Nam - Đà Nẵng từ năm 1885 đến năm 1945
Chương 3 trình bày sự chuyển biến của thủ công nghiệp dưới tác động của công cuộc khai thác thuộc địa của thực dân Pháp:
-
Bối cảnh lịch sử mới: Sau Hiệp ước Giáp Thân (1884), Đạo dụ vua Đồng Khánh ngày 3/10/1888 biến Đà Nẵng thành nhượng địa của Pháp; Nghị định ngày 3/1/1893 thành lập thành phố Đà Nẵng (Ville de Tourane) tách biệt khỏi tỉnh Quảng Nam. Chính quyền thuộc địa đẩy mạnh xây dựng cảng biển, đường sắt, mở rộng khai thác mỏ than Nông Sơn, Ngọc Kinh và mỏ vàng Bồng Miêu.
-
Sự biến đổi của sản xuất thủ công: Thủ công nghiệp truyền thống chịu sự cạnh tranh gay gắt từ hàng hóa công nghiệp nhập khẩu của tư bản Pháp. Tuy nhiên, ngành nghề địa phương không bị triệt tiêu mà từng bước thích ứng. Xuất hiện các cơ sở sản xuất có trang bị động cơ cơ khí nhỏ, máy móc sơ chế (như xưởng ươm tơ, dệt lụa bằng máy, lò ép mía cải tiến, máy xay xát). Nhiều làng nghề mới hình thành phục vụ nhu cầu thị trường đô thị Tourane và xuất khẩu sang Lào, Campuchia và các thị trường khu vực. Tác động của phong trào Duy Tân (đầu thế kỷ XX) do Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Trần Quý Cáp, Tiểu La Nguyễn Thành khởi xướng đã thúc đẩy các hội buôn, hợp tác xã thủ công nghiệp, khuyến khích sản xuất hàng nội hóa.
Chương 4: Đặc điểm, vai trò của thủ công nghiệp Quảng Nam - Đà Nẵng (1802 - 1945)
Chương 4 đúc kết các nhận xét mang tính quy luật và đánh giá tác động của thủ công nghiệp:
-
Ba đặc điểm nổi bật:
- Thủ công nghiệp phát triển trên một vùng đất có điều kiện tự nhiên và vị thế giao thương thuận lợi, gắn kết chặt chẽ với kinh tế hàng hóa và mạng lưới đô thị (cảng thị Hội An, thành phố nhượng địa Tourane, các thị trấn Vĩnh Điện, Tam Kỳ).
- Cơ cấu ngành nghề và mạng lưới làng nghề phong phú, đa dạng hơn hẳn các tỉnh khu vực Nam Trung Bộ, thể hiện sự hội tụ kỹ thuật của cư dân phía Bắc và cư dân bản địa Champa.
- Từng bước tiếp cận và phát triển theo cơ chế kinh tế thị trường, xuất hiện mầm mống và các yếu tố quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa ở giai đoạn đầu (thuê mướn nhân công, đầu tư vốn, cải tiến công cụ cơ khí nhỏ).
-
Vai trò và tác động lịch sử:
- Kinh tế - đời sống: Cung cấp tư liệu sản xuất cho nông nghiệp, hàng tiêu dùng cho xã hội; giải quyết lao động nông nhàn, tăng thu nhập cho hộ gia đình; tạo nguồn hàng hóa chủ lực cho nội thương và xuất khẩu.
- Chính trị - xã hội: Cung cấp vật phẩm, thợ giỏi xây dựng công trình phòng thủ và kinh đô; định hình tầng lớp thợ thủ công lành nghề và thị dân; gắn bó với phong trào Duy Tân canh tân đất nước.
- Văn hóa - tinh thần: Bảo tồn tri thức bản địa và kỹ nghệ dân gian; làm phong phú sinh hoạt lễ hội truyền thống (lễ hội cúng tổ nghề mộc, nghề đồng, nghề đá); tạo mối dây liên kết, giữ gìn tâm hồn cộng đồng người con xứ Quảng xa quê.
-
Đề xuất giải pháp: Đặt ra hệ thống giải pháp nhằm bảo tồn, khôi phục và phát triển các làng nghề thủ công truyền thống trước áp lực của quá trình đô thị hóa và hội nhập kinh tế hiện đại.
Kết quả và những đóng góp mới
Về mặt khoa học:
- Luận án hệ thống hóa và bổ sung nguồn tư liệu lịch sử xác thực về tình hình thủ công nghiệp tỉnh Quảng Nam và thành phố Đà Nẵng trong giai đoạn từ năm 1802 đến năm 1945 từ các nguồn thư tịch cổ, Châu bản triều Nguyễn, hồ sơ lưu trữ thời Pháp thuộc và tư liệu điền dã thực địa.
- Phục dựng bức tranh lịch sử kinh tế thủ công nghiệp toàn diện qua hai thời kỳ chính trị - xã hội khác nhau (thời Nguyễn độc lập và thời thuộc địa Pháp), làm rõ quá trình vận động, cơ cấu ngành nghề, mối quan hệ giữa thủ công nghiệp nhà nước và thủ công nghiệp dân gian.
- Xác định rõ ba đặc trưng cốt lõi của thủ công nghiệp xứ Quảng trong mối tương quan với các tỉnh miền Trung và cả nước; làm sáng tỏ các giá trị lịch sử, văn hóa, kinh tế mà ngành nghề truyền thống đóng góp cho vùng đất.
Về mặt thực tiễn:
- Đóng góp nguồn tư liệu phục vụ nghiên cứu và giảng dạy lịch sử kinh tế địa phương của Quảng Nam, Đà Nẵng và lịch sử kinh tế Việt Nam cận đại.
- Cung cấp luận cứ khoa học cho các cơ quan quản lý văn hóa, quy hoạch đô thị tại Quảng Nam và Đà Nẵng trong việc xây dựng chính sách bảo tồn làng nghề, gắn kết phát triển du lịch di sản với phát triển kinh tế - xã hội bền vững trong thời kỳ hội nhập.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế:
- Nguồn tư liệu lưu trữ thời Nguyễn và thời thuộc địa về một số ngành nghề thủ công nhỏ lẻ ở vùng nông thôn sâu chưa thực sự đồng đều; nhiều số liệu về sản lượng, giá cả thị trường từng năm chưa được ghi chép liên tục.
- Một số tư liệu điền dã, hồi ức truyền miệng của nghệ nhân dân gian mang tính chủ quan, đòi hỏi tiếp tục giám định qua các chứng tích vật thể.
Hướng nghiên cứu tiếp:
- Mở rộng nghiên cứu chuyên khảo sâu vào từng làng nghề cụ thể (như gốm Thanh Hà, đúc đồng Phước Kiều, mộc Kim Bồng) với phương pháp liên ngành khảo cổ học, dân tộc học và nhân học văn hóa.
- Nghiên cứu đối sánh chi tiết sự biến đổi kỹ thuật và mô hình tổ chức phường hội thủ công giữa xứ Quảng với các trung tâm thủ công nghiệp lớn ở đồng bằng Bắc Bộ và Nam Bộ thời cận hiện đại.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo giá trị đối với:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên ngành Lịch sử, Văn hóa học, Việt Nam học, Địa lý kinh tế phục vụ tra cứu chuyên đề lịch sử kinh tế Việt Nam thế kỷ XIX - XX.
- Giảng viên các trường đại học, cao đẳng khi biên soạn giáo trình lịch sử địa phương tỉnh Quảng Nam và thành phố Đà Nẵng.
- Các nhà quản lý, hoạch định chính sách kinh tế - văn hóa, cán bộ ngành du lịch tại địa phương trong việc xây dựng đề án bảo tồn không gian văn hóa làng nghề truyền thống và khai thác sản phẩm du lịch làng nghề.
- Phần đáng tham khảo nhất là Chương 2 và Chương 4, nơi tập hợp hệ thống tư liệu lịch sử phong phú về chế độ công tượng, biệt nạp, các làng nghề cổ truyền và các đúc kết về đặc điểm kinh tế hàng hóa của vùng đất xứ Quảng.
Câu hỏi thường gặp
1. Cơ chế quản lý thủ công nghiệp của triều đình nhà Nguyễn đối với thợ thủ công xứ Quảng được thực hiện như thế nào?
Triều Nguyễn áp dụng hai chế độ chính: Chế độ công tượng (trưng tập thợ giỏi từ các địa phương về kinh đô Huế làm việc trong các công xưởng nhà nước dưới sự quản lý của Bộ Công từ năm 1829) và Chế độ biệt nạp (cho phép các làng nghề chuyên nghiệp nộp các sản phẩm thủ công đặc sản như đường cát, đường phèn, tơ lụa, đồ đồng, chiếu cói thay cho thuế thân và lao dịch sai dư).
2. Nghề điêu khắc đá Non Nước có chứng tích lịch sử sớm nhất từ thời gian nào được luận án ghi nhận?
Chứng tích văn bản sớm nhất được luận án trích dẫn từ văn bia tại chùa Phổ Khánh (xã Đại An, huyện Đại Lộc) dựng năm Mậu Ngọ, niên hiệu Vĩnh Trị thứ 3 (năm 1678 thời vua Lê Hy Tông), trên đó khắc rõ tên hai người thợ khắc bia là Lê Phúc Thông và Lê Hữu Thái quê ở xã Quán Khái (làng Non Nước xưa).
3. Vì sao Quảng Nam - Đà Nẵng lại phát triển mạnh nghề sản xuất đường mía và tơ lụa từ trước thời Nguyễn?
Do điều kiện tự nhiên có dải đất phù sa màu mỡ ven sông Thu Bồn thích hợp cho việc trồng dâu nuôi tằm và trồng mía; đồng thời chịu tác động mạnh mẽ từ thị trường xuất khẩu quốc tế qua thương cảng Hội An trong các thế kỷ XVII-XVIII khi thương nhân Nhật Bản, Trung Quốc và phương Tây thu mua số lượng lớn tơ lụa và đường cát, đường phèn.
4. Dưới thời thuộc Pháp (1885-1945), thủ công nghiệp Quảng Nam - Đà Nẵng có bị triệt tiêu hoàn toàn không?
Không. Mặc dù chịu sự chèn ép và cạnh tranh gay gắt từ hàng hóa công nghiệp nhập khẩu của tư bản Pháp, thủ công nghiệp Quảng Nam - Đà Nẵng đã có sự chuyển biến thích nghi, du nhập máy móc cơ khí nhỏ, mở rộng một số làng nghề mới và tham gia vào chuỗi cung ứng cho đô thị Tourane cùng hoạt động giao thương khu vực.
Kết luận
Luận án "Thủ công nghiệp Quảng Nam - Đà Nẵng (1802-1945)" của tác giả Nguyễn Minh Phương là công trình chuyên khảo lịch sử kinh tế được thực hiện bài bản, nghiêm túc. Tác giả đã tái hiện có hệ thống diện mạo, cơ cấu tổ chức và quá trình phát triển của thủ công nghiệp xứ Quảng qua các giai đoạn lịch sử đầy biến động từ thời Nguyễn độc lập đến thời thuộc Pháp. Công trình khẳng định rõ vị trí của thủ công nghiệp trong mối liên hệ với kinh tế hàng hóa, quá trình đô thị hóa và giao lưu văn hóa Việt - Chăm, đồng thời cung cấp nguồn dữ liệu khoa học thực tiễn phục vụ công tác bảo tồn di sản làng nghề hiện nay.