Chương 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU Từ bao đời nay, cha ông ta đã biết kết hợp giữa nông nghiệp, thủ công nghiệp và thương nghiệp vừa để phục vụ thiết yếu cho đời sống sinh hoạt, vừa đảm bảo sản xuất và kinh tế ngày một phát triển. Thủ công nghiệp tồn tại như một bộ phận không thể tách rời của nền kinh tế nông nghiệp. Thủ công nghiệp có vai trò bổ trợ cho nông nghiệp trên nhiều phương diện như cung cấp công cụ sản xuất, hàng tiêu dùng, là nơi tiêu thụ sản phẩm cho nông nghiệp, giải quyết lao động dư thừa, tăng thu nhập cho các hộ nông dân… Thợ thủ công đồng thời là người nông dân, các gia đình nông dân làm ruộng và làm thêm một số nghề thủ công.
Thủ công nghiệp phát triển đã hình thành nhiều làng chuyên một nghề như đan lát, dệt vải, dệt chiếu, làm gốm… Thủ công nghiệp với những sản phẩm là nguồn hàng được trao đổi, buôn bán trong các phiên chợ làng, chợ vùng. Cùng với sự phát triển của thủ công nghiệp, các sản phẩm thủ công ngày càng phong phú, đa dạng và chất lượng trở thành hàng hóa được các thương nhân nước ngoài ưa chuộng. Như vậy, thủ công nghiệp cũng đã góp phần thúc đẩy thương nghiệp (cả nội thương và ngoại thương) phát triển. Bên cạnh kinh tế, thủ công nghiệp còn có tác động tích cực đến các lĩnh vực chính trị, xã hội, văn hóa dưới nhiều góc độ.
Thời Nguyễn và thời Pháp thuộc, thủ công nghiệp tiếp tục phát triển và có những đóng góp vào sự phát triển của nền kinh tế. “Nhìn một cách tổng quát trong thời kỳ từ khi Pháp nổ súng xâm lược Việt Nam đến trước cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất (1858-1896), nền thủ công nghiệp Việt Nam đã bắt đầu có những chuyển biến mới mẻ trên con đường tiến triển” [80, tr. Xuất phát từ vai trò đối với nền kinh tế cũng như những dấu ấn về mặt lịch sử, thủ công nghiệp cần được nghiên cứu một cách toàn diện bao gồm hoạt động của các ngành nghề, làng nghề trong mối quan hệ tổng thể với các ngành kinh tế khác và mối tương quan giữa các vùng, miền và trên phạm vi cả nước. Một số khái niệm thuộc vấn đề nghiên cứu 6 Nghề là một lĩnh vực hoạt động lao động mà trong đó nhờ được đào tạo mà con người có được những tri thức, những kỹ năng để làm ra các loại sản phẩm vật chất hay tinh thần, đáp ứng được nhu cầu của xã hội.
Nghề thủ công là lĩnh vực hoạt động lao động chân tay là chủ yếu tạo ra những vật dụng dùng trong sinh hoạt, hay chế biến một số sản phẩm từ nông nghiệp, chế biến những sản phẩm mang tính nghệ thuật. Khái niệm về nghề thủ công hay nghề thủ công truyền thống bao gồm: Là một nghề lâu đời được lưu truyền và có sức lan tỏa mạnh mẽ. Hoạt động sản xuất phi nông nghiệp, bằng tay và những công cụ thô sơ. Sản phẩm vừa có ý nghĩa kinh tế vừa mang những giá trị vật thể, phi vật thể phản ánh được lịch sử, văn hóa và xã hội.
Hiện nay vẫn chưa có một khái niệm thống nhất về làng nghề truyền thống nhưng có thể hiểu làng nghề truyền thống là làng nghề làm nghề thủ công truyền thống được gọi tắt là làng nghề. Trần Quốc Vượng: Làng nghề là làng ấy, tuy vẫn có trồng trọt theo lối tiểu nông và chăn nuôi nhỏ (gà, lợn, trâu, bò.) cũng có một nghề phụ khác (thêu, rèn, đan lát.) song đã nổi trội một nghề cổ truyền, tinh xảo với một tầng lớp thủ công chuyên nghiệp hay bán chuyên nghiệp, có phường (cơ cấu tổ chức), có ông trùm, ông phó cả cùng một số thợ và phó nhỏ, đã chuyên tâm, có quy trình công nghệ “nhất định sinh ư nghệ”, “tử ư nghệ, nhất nghệ tinh nhất thân vinh”, sống chủ yếu bằng nghề đó và sản xuất ra những hàng thủ công, những mặt hàng có tính mỹ nghệ, đã trở thành sản phẩm hàng hóa và có quan hệ tiếp thị với một thị trường là vùng xung quanh với thị trường đô thị, thủ đô (Kẻ chợ, Huế, Sài Gòn.) và tiến tới mở rộng ra cả nước và có thể xuất khẩu ra cả nước ngoài [15, tr. Như vậy, làng nghề là một thực thể được tồn tại ổn định về mặt địa lý, ổn định về nghề nghiệp hay một nhóm các nghề có mối liên hệ mật thiết với nhau để làm ra một sản phẩm, có bề dày lịch sử và tồn tại, lưu truyền trong dân gian. Khái niệm về làng nghề bao hàm các nội dung: Là một địa danh gắn với một cộng đồng dân cư có một nghề truyền thống lâu đời được lưu truyền và có sức lan tỏa mạnh mẽ.
7 Ổn định về một nghề hay một số nghề có quan hệ mật thiết với nhau trong quá trình sản xuất ra một loại sản phẩm. Có một đội ngũ nghệ nhân và thợ có tay nghề cao, có bí quyết nghề nghiệp được lưu truyền lại cho con cháu hoặc thế hệ sau. Sản phẩm vừa có ý nghĩa kinh tế để nuôi sống một bộ phận dân cư và quan trọng hơn là nó mang những giá trị vật thể và phi vật thể phản ánh được lịch sử, văn hóa và xã hội liên quan đến chính họ. Thuật ngữ tiểu thủ công nghiệp (hay tiểu công nghiệp và thủ công nghiệp) mới xuất hiện thời cận đại, từ sau cách mạng công nghiệp tại các nước Âu – Mỹ (từ cuối thế kỷ XVIII đến cuối thế kỷ XIX), để phân biệt đại công nghiệp cơ khí với nền sản xuất nhỏ, thô sơ và vốn là tiền thân của nó trước đây.
Tuy vậy, định nghĩa về thuật ngữ này đến nay vẫn chưa thống nhất. Theo Bách khoa toàn thư Liên Xô: “Thủ công nghiệp là sản xuất thủ công sử dụng lao động thô sơ chế biến nguyên liệu thành sản phẩm” [120, tr. Một số nước khác không dùng thuật ngữ “thủ công nghiệp” mà dùng thuật ngữ “tiểu công nghiệp”. Tại Anh, người ta dùng “petty industry” để chỉ sản xuất tiểu công nghiệp có quy mô nhỏ, không dùng máy móc, lao động thủ công dưới 4 người.
Tại Ấn Độ, năm 1960, người ta quy định các cơ sở sản xuất nhỏ hơn 100 người, không dùng máy móc hoặc cơ sở sản xuất nhỏ hơn 50 người có dùng máy móc đều thuộc tiểu công nghiệp. Tuy nhiên, sau đó, thuật ngữ này được thay thế bằng quy định khác như: Vốn đầu tư không quá 500.000 rupi (tương đương 100.000 USD) đều thuộc tiểu công nghiệp. Một số nước như Hàn Quốc, Philippin, Nhật Bản, Trung Quốc, Singapore, Mỹ… đều lấy chỉ tiêu về vốn, số lượng công nhân (vốn nhỏ hơn 100.000 USD, số lượng công nhân từ 5-300 người) để xác định thuộc tiểu công nghiệp. Năm 1962, một nhóm chuyên gia về tiểu công nghiệp trong Uỷ ban kinh tế Châu Á ở Viễn Đông (The Economic Commission for ASie and the for East-Ecafe ) đã định nghĩa “Tiểu kỹ nghệ là các xí nghiệp kỹ nghệ sử dụng không quá 50 công nhân trường hợp xưởng cơ khí không có máy móc hoặc không quá 20 công nhân trong trường hợp xưởng cơ khí sử dụng máy móc ứng với một công suất dưới 50 mã lực ” [77, tr.
Ở nước ta, thời Pháp thuộc đã có nhiều cụm từ được sử dụng để chỉ các hoạt động công nghệ tiểu sản xuất như “tiểu thủ công nghệ”, “công nghệ gia đình”, “công nghệ nông dân”, “công nghệ thôn xóm”, “công nghệ cổ truyền”. 8 Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, các văn bản của nhà nước đã sử dụng các thuật ngữ “thủ công nghiệp”, “tiểu công nghiệp”, hay “tiểu công nghệ”. Từ điển tiếng Việt, Hà Nội, 1997 giải thích: “thủ công – công việc chế tạo vật dụng bằng tay, không dùng máy móc. Thủ công nghiệp – nghề chế tạo vật dụng bằng tay và tiểu công nghệ - nghề thủ công (cũ)”.
Như vậy, quan niệm phổ biến trước đây thủ công nghiệp và tiểu công nghiệp là một. Tiểu công nghiệp cũng được hiểu theo nghĩa chế tạo vật dụng bằng tay. Trong tác phẩm Sơ thảo lịch sử phát triển thủ công nghiệp Việt Nam, tác giả Phan Gia Bền chỉ sử dụng thuật ngữ “thủ công nghiệp”. Ông đưa ra quan niệm về thủ công nghiệp Việt Nam: “Thủ công nghiệp là một bộ phận – bộ phận trình độ thấp của công nghiệp”, “thủ công nghiệp là từ nông nghiệp mà ra, và có thể nói thủ công nghiệp là nền sản xuất trung gian giữa nông nghiệp và công nghiệp”, “phạm vi của thủ công nghiệp đi từ những nghề phụ nông thôn đến những nghề thủ công cá thể tiểu sản xuất hàng hóa, rồi đến hình thức công trường thủ công tư bản chủ nghĩa” [17, tr.
Tác giả cũng cho rằng, cần có sự phân biệt giữa những nghề thủ công và những nghề dịch vụ vốn không sản xuất ra vật phẩm tiêu dùng cho xã hội. Nhưng các nghề như chữa xe đạp, hàn nồi, chữa kính, chữa đồng hồ, chữa giày, chữa khóa… dù không tạo nên những sản phẩm mới, nhưng cũng có thể sắp xếp vào thủ công nghiệp vì chức năng tái tạo sản phẩm của chúng. Nhà nghiên cứu Vũ Huy Phúc trong tác phẩm Tiểu thủ công nghiệp Việt Nam 1858-1945 cho rằng thủ công nghiệp và công nghiệp cùng tồn tại, phát triển song hành, đồng thời thâm nhập lẫn nhau cả về trình độ sản xuất lẫn quan hệ sản xuất. Sự thâm nhập lẫn nhau đã làm nảy sinh một hình thức sản xuất có tính chất cầu nối giữa thủ công nghiệp và công nghiệp, đó là tiểu thủ công nghiệp.
Trong tác phẩm Tiểu thủ công nghiệp tỉnh Thái Bình 1954 – 1995 (lịch sử và di sản), tác giả Phạm Quốc Sử cho rằng để có một quan niệm phù hợp đối với tiểu thủ công nghiệp Việt Nam cần chú ý đến trình độ kỹ thuật (thủ công thô sơ hay máy móc hiện đại) của các cơ sở công nghệ. Đấy cũng là căn cứ chủ yếu để xác định thuật ngữ “tiểu công nghiệp”, “thủ công nghiệp” và “tiểu thủ công nghiệp”. Theo tác giả, sự khác nhau giữa thủ công nghiệp và công nghiệp là ở việc sử dụng phương tiện lao động. Thủ công nghiệp là những nghề chỉ sử dụng công cụ thô sơ, bằng tay, trong khi đó công cụ chủ yếu của công nghiệp là máy móc và 9 phương tiện kỹ thuật hiện đại.
Tuy vậy, ngày càng nhiều cơ sở thủ công nghiệp được trang bị máy móc và các thiết bị kỹ thuật, cũng như sử dụng các vật liệu vốn là sản phẩm công nghiệp. Không ít cơ sở thủ công nghiệp đã trở thành “vệ tinh”, đảm trách phần việc nào đó cho các cơ sở công nghiệp lớn.