Luận Án Tiến Sĩ Nghiên Cứu Thủ Công Nghiệp Quảng Nam - Đà Nẵng Từ Năm 1802 Đến 1945

Luận án tiến sĩ nghiên cứu thủ công nghiệp Quảng Nam - Đà Nẵng giai đoạn 1802-1945, phân tích phát triển và biến đổi ngành nghề truyền thống.

Chuyên ngành

Lịch sử Việt Nam

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2017

253
3
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

NHỮNG CỤM TỪ VIẾT TẮT

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU

0.1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

0.2. MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU

0.2.1. Mục đích nghiên cứu

0.2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu

0.3. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

0.3.1. Đối tượng nghiên cứu

0.3.2. Phạm vi nghiên cứu

0.4. NGUỒN TƯ LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

0.4.1. Nguồn tư liệu

0.4.2. Phương pháp nghiên cứu

0.5. ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN ÁN

0.5.1. Về mặt khoa học

0.5.2. Về mặt thực tiễn

0.6. BỐ CỤC CỦA LUẬN ÁN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1. VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.2. Một số khái niệm thuộc vấn đề nghiên cứu

2. CHƯƠNG 2: THỦ CÔNG NGHIỆP QUẢNG NAM - ĐÀ NẴNG TỪ 1802 ĐẾN 1885

3. CHƯƠNG 3: THỦ CÔNG NGHIỆP QUẢNG NAM - ĐÀ NẴNG TỪ 1885 ĐẾN 1945

4. CHƯƠNG 4: ĐẶC ĐIỂM, VAI TRÒ CỦA THỦ CÔNG NGHIỆP QUẢNG NAM - ĐÀ NẴNG (1802 - 1945)

CHÚ THÍCH

TÀI LIỆU THAM KHẢO

CÁC CÔNG TRÌNH LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN ĐÃ CÔNG BỐ

Tóm tắt

I. Luận án tiến sĩ về thủ công nghiệp Quảng Nam Đà Nẵng giai đoạn 1802 1945

Luận án tiến sĩ này tập trung nghiên cứu sự phát triển của thủ công nghiệp tại Quảng Nam - Đà Nẵng trong giai đoạn từ năm 1802 đến năm 1945. Đây là một công trình nghiên cứu lịch sử sâu rộng, nhằm tái hiện bức tranh toàn diện về các ngành nghề thủ công truyền thống, làng nghề, và tác động của chúng đến kinh tế địa phươngvăn hóa truyền thống. Luận án không chỉ khai thác các nguồn tư liệu lịch sử mà còn kết hợp với phương pháp điền dã để làm rõ quá trình phát triển và biến đổi của ngành thủ công trong bối cảnh thời kỳ Pháp thuộc.

1.1. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích chính của luận án là khôi phục lại bức tranh thủ công nghiệp Quảng Nam - Đà Nẵng trong giai đoạn 1802-1945, qua đó làm rõ các đặc điểm, vai trò và tác động của nó đối với kinh tế, xã hội, và văn hóa địa phương. Nhiệm vụ nghiên cứu bao gồm phân tích các yếu tố tác động đến sự phát triển của thủ công nghiệp, nghiên cứu cụ thể các nghề và làng nghề tiêu biểu, và đề xuất các giải pháp bảo tồn và phát triển các nghề truyền thống.

1.2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận án là thủ công nghiệp Quảng Nam - Đà Nẵng từ năm 1802 đến năm 1945, bao gồm cả thủ công nghiệp nhà nướcthủ công nghiệp dân gian. Phạm vi nghiên cứu được giới hạn về không gian tại Quảng NamĐà Nẵng, và về thời gian từ năm 1802 đến trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, chia thành hai giai đoạn chính: trước và sau thời kỳ Pháp thuộc.

II. Thủ công nghiệp Quảng Nam Đà Nẵng từ 1802 đến 1885

Giai đoạn từ 1802 đến 1885 đánh dấu sự phát triển mạnh mẽ của thủ công nghiệp Quảng Nam - Đà Nẵng dưới thời nhà Nguyễn. Các yếu tố như điều kiện tự nhiên, nguồn tài nguyên, và truyền thống xứ Quảng đã tạo điều kiện thuận lợi cho sự hình thành và phát triển của các nghề thủ công. Các làng nghề như gốm, dệt, và đan lát đã trở thành trung tâm sản xuất hàng hóa, góp phần thúc đẩy kinh tế địa phương.

2.1. Nhân tố tác động đến thủ công nghiệp

Các nhân tố chính bao gồm điều kiện tự nhiên như đất đai, khí hậu, và nguồn tài nguyên phong phú. Bên cạnh đó, truyền thống xứ Quảngchính sách của triều Nguyễn đã tạo nền tảng vững chắc cho sự phát triển của thủ công nghiệp. Các nghề thủ công không chỉ đáp ứng nhu cầu địa phương mà còn trở thành hàng hóa xuất khẩu.

2.2. Các nghề và làng nghề tiêu biểu

Các nghề thủ công tiêu biểu trong giai đoạn này bao gồm gốm, dệt, và đan lát. Các làng nghề như làng gốm Thanh Hà, làng dệt Mỹ Sơn đã trở thành trung tâm sản xuất hàng hóa, góp phần thúc đẩy kinh tế địa phương và tạo nên bản sắc văn hóa riêng của Quảng Nam - Đà Nẵng.

III. Thủ công nghiệp Quảng Nam Đà Nẵng từ 1885 đến 1945

Giai đoạn từ 1885 đến 1945 chứng kiến sự biến đổi mạnh mẽ của thủ công nghiệp Quảng Nam - Đà Nẵng dưới tác động của chính sách khai thác thuộc địa của Pháp. Mặc dù bị lệ thuộc vào nền kinh tế thuộc địa, các nghề thủ công vẫn tiếp tục phát triển và có những đóng góp quan trọng vào kinh tế địa phương.

3.1. Tác động của chính sách thuộc địa

Chính sách khai thác thuộc địa của Pháp đã làm thay đổi cơ cấu kinh tế của Quảng Nam - Đà Nẵng. Các nghề thủ công truyền thống bị ảnh hưởng bởi sự cạnh tranh từ hàng hóa nhập khẩu, nhưng vẫn duy trì được vị thế nhờ vào sự linh hoạt và sáng tạo của các nghệ nhân.

3.2. Sự phát triển của các làng nghề mới

Trong giai đoạn này, nhiều làng nghề mới đã hình thành và phát triển, đặc biệt là các nghề liên quan đến chế biến nông sản và sản xuất hàng tiêu dùng. Các làng nghề này không chỉ đáp ứng nhu cầu địa phương mà còn góp phần vào kinh tế thị trường thời kỳ thuộc địa.

IV. Đặc điểm và vai trò của thủ công nghiệp Quảng Nam Đà Nẵng

Thủ công nghiệp Quảng Nam - Đà Nẵng trong giai đoạn 1802-1945 có những đặc điểm nổi bật như sự đa dạng về ngành nghề, sự gắn kết chặt chẽ với văn hóa truyền thống, và vai trò quan trọng trong kinh tế địa phương. Các nghề thủ công không chỉ tạo ra nguồn thu nhập mà còn góp phần bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống.

4.1. Đặc điểm nổi bật

Các nghề thủ công ở Quảng Nam - Đà Nẵng phong phú và đa dạng hơn so với các tỉnh khác ở Nam Trung Bộ. Sự phát triển của các nghề thủ công gắn liền với kinh tế hàng hóađô thị hóa, tạo nên những bước tiến mới trong lịch sử kinh tế của vùng đất này.

4.2. Vai trò và tác động

Thủ công nghiệp đã có những đóng góp quan trọng vào kinh tếđời sống của người dân Quảng Nam - Đà Nẵng. Ngoài ra, nó còn góp phần bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống và tạo nên sự gắn kết cộng đồng, đặc biệt là trong các lễ hội địa phương.

01/03/2025
Luận án tiến sĩ thủ công nghiệp quảng nam đà nẵng 1802 1945

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU Từ bao đời nay, cha ông ta đã biết kết hợp giữa nông nghiệp, thủ công nghiệp và thương nghiệp vừa để phục vụ thiết yếu cho đời sống sinh hoạt, vừa đảm bảo sản xuất và kinh tế ngày một phát triển. Thủ công nghiệp tồn tại như một bộ phận không thể tách rời của nền kinh tế nông nghiệp. Thủ công nghiệp có vai trò bổ trợ cho nông nghiệp trên nhiều phương diện như cung cấp công cụ sản xuất, hàng tiêu dùng, là nơi tiêu thụ sản phẩm cho nông nghiệp, giải quyết lao động dư thừa, tăng thu nhập cho các hộ nông dân… Thợ thủ công đồng thời là người nông dân, các gia đình nông dân làm ruộng và làm thêm một số nghề thủ công.

Thủ công nghiệp phát triển đã hình thành nhiều làng chuyên một nghề như đan lát, dệt vải, dệt chiếu, làm gốm… Thủ công nghiệp với những sản phẩm là nguồn hàng được trao đổi, buôn bán trong các phiên chợ làng, chợ vùng. Cùng với sự phát triển của thủ công nghiệp, các sản phẩm thủ công ngày càng phong phú, đa dạng và chất lượng trở thành hàng hóa được các thương nhân nước ngoài ưa chuộng. Như vậy, thủ công nghiệp cũng đã góp phần thúc đẩy thương nghiệp (cả nội thương và ngoại thương) phát triển. Bên cạnh kinh tế, thủ công nghiệp còn có tác động tích cực đến các lĩnh vực chính trị, xã hội, văn hóa dưới nhiều góc độ.

Thời Nguyễn và thời Pháp thuộc, thủ công nghiệp tiếp tục phát triển và có những đóng góp vào sự phát triển của nền kinh tế. “Nhìn một cách tổng quát trong thời kỳ từ khi Pháp nổ súng xâm lược Việt Nam đến trước cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất (1858-1896), nền thủ công nghiệp Việt Nam đã bắt đầu có những chuyển biến mới mẻ trên con đường tiến triển” [80, tr. Xuất phát từ vai trò đối với nền kinh tế cũng như những dấu ấn về mặt lịch sử, thủ công nghiệp cần được nghiên cứu một cách toàn diện bao gồm hoạt động của các ngành nghề, làng nghề trong mối quan hệ tổng thể với các ngành kinh tế khác và mối tương quan giữa các vùng, miền và trên phạm vi cả nước. Một số khái niệm thuộc vấn đề nghiên cứu 6 Nghề là một lĩnh vực hoạt động lao động mà trong đó nhờ được đào tạo mà con người có được những tri thức, những kỹ năng để làm ra các loại sản phẩm vật chất hay tinh thần, đáp ứng được nhu cầu của xã hội.

Nghề thủ công là lĩnh vực hoạt động lao động chân tay là chủ yếu tạo ra những vật dụng dùng trong sinh hoạt, hay chế biến một số sản phẩm từ nông nghiệp, chế biến những sản phẩm mang tính nghệ thuật. Khái niệm về nghề thủ công hay nghề thủ công truyền thống bao gồm: Là một nghề lâu đời được lưu truyền và có sức lan tỏa mạnh mẽ. Hoạt động sản xuất phi nông nghiệp, bằng tay và những công cụ thô sơ. Sản phẩm vừa có ý nghĩa kinh tế vừa mang những giá trị vật thể, phi vật thể phản ánh được lịch sử, văn hóa và xã hội.

Hiện nay vẫn chưa có một khái niệm thống nhất về làng nghề truyền thống nhưng có thể hiểu làng nghề truyền thống là làng nghề làm nghề thủ công truyền thống được gọi tắt là làng nghề. Trần Quốc Vượng: Làng nghề là làng ấy, tuy vẫn có trồng trọt theo lối tiểu nông và chăn nuôi nhỏ (gà, lợn, trâu, bò.) cũng có một nghề phụ khác (thêu, rèn, đan lát.) song đã nổi trội một nghề cổ truyền, tinh xảo với một tầng lớp thủ công chuyên nghiệp hay bán chuyên nghiệp, có phường (cơ cấu tổ chức), có ông trùm, ông phó cả cùng một số thợ và phó nhỏ, đã chuyên tâm, có quy trình công nghệ “nhất định sinh ư nghệ”, “tử ư nghệ, nhất nghệ tinh nhất thân vinh”, sống chủ yếu bằng nghề đó và sản xuất ra những hàng thủ công, những mặt hàng có tính mỹ nghệ, đã trở thành sản phẩm hàng hóa và có quan hệ tiếp thị với một thị trường là vùng xung quanh với thị trường đô thị, thủ đô (Kẻ chợ, Huế, Sài Gòn.) và tiến tới mở rộng ra cả nước và có thể xuất khẩu ra cả nước ngoài [15, tr. Như vậy, làng nghề là một thực thể được tồn tại ổn định về mặt địa lý, ổn định về nghề nghiệp hay một nhóm các nghề có mối liên hệ mật thiết với nhau để làm ra một sản phẩm, có bề dày lịch sử và tồn tại, lưu truyền trong dân gian. Khái niệm về làng nghề bao hàm các nội dung: Là một địa danh gắn với một cộng đồng dân cư có một nghề truyền thống lâu đời được lưu truyền và có sức lan tỏa mạnh mẽ.

7 Ổn định về một nghề hay một số nghề có quan hệ mật thiết với nhau trong quá trình sản xuất ra một loại sản phẩm. Có một đội ngũ nghệ nhân và thợ có tay nghề cao, có bí quyết nghề nghiệp được lưu truyền lại cho con cháu hoặc thế hệ sau. Sản phẩm vừa có ý nghĩa kinh tế để nuôi sống một bộ phận dân cư và quan trọng hơn là nó mang những giá trị vật thể và phi vật thể phản ánh được lịch sử, văn hóa và xã hội liên quan đến chính họ. Thuật ngữ tiểu thủ công nghiệp (hay tiểu công nghiệp và thủ công nghiệp) mới xuất hiện thời cận đại, từ sau cách mạng công nghiệp tại các nước Âu – Mỹ (từ cuối thế kỷ XVIII đến cuối thế kỷ XIX), để phân biệt đại công nghiệp cơ khí với nền sản xuất nhỏ, thô sơ và vốn là tiền thân của nó trước đây.

Tuy vậy, định nghĩa về thuật ngữ này đến nay vẫn chưa thống nhất. Theo Bách khoa toàn thư Liên Xô: “Thủ công nghiệp là sản xuất thủ công sử dụng lao động thô sơ chế biến nguyên liệu thành sản phẩm” [120, tr. Một số nước khác không dùng thuật ngữ “thủ công nghiệp” mà dùng thuật ngữ “tiểu công nghiệp”. Tại Anh, người ta dùng “petty industry” để chỉ sản xuất tiểu công nghiệp có quy mô nhỏ, không dùng máy móc, lao động thủ công dưới 4 người.

Tại Ấn Độ, năm 1960, người ta quy định các cơ sở sản xuất nhỏ hơn 100 người, không dùng máy móc hoặc cơ sở sản xuất nhỏ hơn 50 người có dùng máy móc đều thuộc tiểu công nghiệp. Tuy nhiên, sau đó, thuật ngữ này được thay thế bằng quy định khác như: Vốn đầu tư không quá 500.000 rupi (tương đương 100.000 USD) đều thuộc tiểu công nghiệp. Một số nước như Hàn Quốc, Philippin, Nhật Bản, Trung Quốc, Singapore, Mỹ… đều lấy chỉ tiêu về vốn, số lượng công nhân (vốn nhỏ hơn 100.000 USD, số lượng công nhân từ 5-300 người) để xác định thuộc tiểu công nghiệp. Năm 1962, một nhóm chuyên gia về tiểu công nghiệp trong Uỷ ban kinh tế Châu Á ở Viễn Đông (The Economic Commission for ASie and the for East-Ecafe ) đã định nghĩa “Tiểu kỹ nghệ là các xí nghiệp kỹ nghệ sử dụng không quá 50 công nhân trường hợp xưởng cơ khí không có máy móc hoặc không quá 20 công nhân trong trường hợp xưởng cơ khí sử dụng máy móc ứng với một công suất dưới 50 mã lực ” [77, tr.

Ở nước ta, thời Pháp thuộc đã có nhiều cụm từ được sử dụng để chỉ các hoạt động công nghệ tiểu sản xuất như “tiểu thủ công nghệ”, “công nghệ gia đình”, “công nghệ nông dân”, “công nghệ thôn xóm”, “công nghệ cổ truyền”. 8 Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, các văn bản của nhà nước đã sử dụng các thuật ngữ “thủ công nghiệp”, “tiểu công nghiệp”, hay “tiểu công nghệ”. Từ điển tiếng Việt, Hà Nội, 1997 giải thích: “thủ công – công việc chế tạo vật dụng bằng tay, không dùng máy móc. Thủ công nghiệp – nghề chế tạo vật dụng bằng tay và tiểu công nghệ - nghề thủ công (cũ)”.

Như vậy, quan niệm phổ biến trước đây thủ công nghiệp và tiểu công nghiệp là một. Tiểu công nghiệp cũng được hiểu theo nghĩa chế tạo vật dụng bằng tay. Trong tác phẩm Sơ thảo lịch sử phát triển thủ công nghiệp Việt Nam, tác giả Phan Gia Bền chỉ sử dụng thuật ngữ “thủ công nghiệp”. Ông đưa ra quan niệm về thủ công nghiệp Việt Nam: “Thủ công nghiệp là một bộ phận – bộ phận trình độ thấp của công nghiệp”, “thủ công nghiệp là từ nông nghiệp mà ra, và có thể nói thủ công nghiệp là nền sản xuất trung gian giữa nông nghiệp và công nghiệp”, “phạm vi của thủ công nghiệp đi từ những nghề phụ nông thôn đến những nghề thủ công cá thể tiểu sản xuất hàng hóa, rồi đến hình thức công trường thủ công tư bản chủ nghĩa” [17, tr.

Tác giả cũng cho rằng, cần có sự phân biệt giữa những nghề thủ công và những nghề dịch vụ vốn không sản xuất ra vật phẩm tiêu dùng cho xã hội. Nhưng các nghề như chữa xe đạp, hàn nồi, chữa kính, chữa đồng hồ, chữa giày, chữa khóa… dù không tạo nên những sản phẩm mới, nhưng cũng có thể sắp xếp vào thủ công nghiệp vì chức năng tái tạo sản phẩm của chúng. Nhà nghiên cứu Vũ Huy Phúc trong tác phẩm Tiểu thủ công nghiệp Việt Nam 1858-1945 cho rằng thủ công nghiệp và công nghiệp cùng tồn tại, phát triển song hành, đồng thời thâm nhập lẫn nhau cả về trình độ sản xuất lẫn quan hệ sản xuất. Sự thâm nhập lẫn nhau đã làm nảy sinh một hình thức sản xuất có tính chất cầu nối giữa thủ công nghiệp và công nghiệp, đó là tiểu thủ công nghiệp.

Trong tác phẩm Tiểu thủ công nghiệp tỉnh Thái Bình 1954 – 1995 (lịch sử và di sản), tác giả Phạm Quốc Sử cho rằng để có một quan niệm phù hợp đối với tiểu thủ công nghiệp Việt Nam cần chú ý đến trình độ kỹ thuật (thủ công thô sơ hay máy móc hiện đại) của các cơ sở công nghệ. Đấy cũng là căn cứ chủ yếu để xác định thuật ngữ “tiểu công nghiệp”, “thủ công nghiệp” và “tiểu thủ công nghiệp”. Theo tác giả, sự khác nhau giữa thủ công nghiệp và công nghiệp là ở việc sử dụng phương tiện lao động. Thủ công nghiệp là những nghề chỉ sử dụng công cụ thô sơ, bằng tay, trong khi đó công cụ chủ yếu của công nghiệp là máy móc và 9 phương tiện kỹ thuật hiện đại.

Tuy vậy, ngày càng nhiều cơ sở thủ công nghiệp được trang bị máy móc và các thiết bị kỹ thuật, cũng như sử dụng các vật liệu vốn là sản phẩm công nghiệp. Không ít cơ sở thủ công nghiệp đã trở thành “vệ tinh”, đảm trách phần việc nào đó cho các cơ sở công nghiệp lớn.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận Án Tiến Sĩ Về Thủ Công Nghiệp Quảng Nam - Đà Nẵng Giai Đoạn 1802-1945 là một nghiên cứu chuyên sâu về sự phát triển của ngành thủ công nghiệp tại khu vực Quảng Nam - Đà Nẵng trong giai đoạn từ năm 1802 đến 1945. Tài liệu này không chỉ cung cấp cái nhìn toàn diện về lịch sử, quá trình hình thành và biến đổi của các làng nghề truyền thống, mà còn phân tích các yếu tố kinh tế, xã hội và văn hóa ảnh hưởng đến sự phát triển của ngành này. Đây là nguồn tài liệu quý giá cho những ai quan tâm đến lịch sử kinh tế, văn hóa và sự phát triển bền vững của các ngành nghề truyền thống tại Việt Nam.

Để mở rộng kiến thức về các nghiên cứu liên quan đến lịch sử và văn hóa, bạn có thể tham khảo Luận văn thạc sĩ sạp thái ở tây bắc xưa và nay nghiên cứu địa bàn huyện điện biên tỉnh điện biên 02, một nghiên cứu sâu về văn hóa và lịch sử địa phương. Ngoài ra, Luận văn thạc sĩ đảng bộ tỉnh thái nguyên lãnh đạo thực hiện chính sách dân tộc từ 1997 đến 2005 cung cấp thêm góc nhìn về chính sách và sự phát triển vùng miền. Cuối cùng, Luận văn thạc sĩ giáo dục lý tưởng cách mạng cho sinh viên các trường cao đẳng ở tỉnh nam định hiện nay là một tài liệu hữu ích để hiểu thêm về giáo dục và tư tưởng trong bối cảnh lịch sử. Mỗi liên kết là cơ hội để bạn khám phá sâu hơn các chủ đề liên quan.