Tổng quan luận án

Công trình nghiên cứu khoa học “Chợ ở miền Đông Nam Bộ từ năm 1975 đến năm 2015” (phạm vi khảo cứu chính từ năm 1975 đến năm 2010) là luận án Tiến sĩ Lịch sử, chuyên ngành Lịch sử Việt Nam (mã số: 62.13), do nghiên cứu sinh Lê Quang Cần thực hiện tại Trường Đại học Vinh dưới sự hướng dẫn của PGS.TS. Nguyễn Quang Hồng và PGS.TS. Hồ Sơn Đài, hoàn thành năm 2018.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Miền Đông Nam Bộ là khu vực kinh tế trọng điểm phía Nam với mạng lưới lưu thông phân phối hàng hóa phát triển nhanh. Trong cấu trúc thương mại, chợ truyền thống giữ vai trò hội tụ các nguồn hàng nông - lâm - thủy hải sản và phân phối sản phẩm công nghiệp, kim khí, điện gia dụng phục vụ đời sống dân sinh. Dù vùng đất này có lịch sử khai phá lâu đời, các công trình sử học trước đây chủ yếu dừng lại ở việc biên niên địa chí hoặc khảo cứu cục bộ từng chợ riêng lẻ. Trước thời điểm luận án được công bố, chưa có công trình luận án tiến sĩ sử học nào nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ thống về quá trình hình thành, phát triển, cơ chế quản lý và vai trò kinh tế - xã hội của hệ thống chợ truyền thống trên toàn địa bàn miền Đông Nam Bộ trong giai đoạn lịch sử từ năm 1975 đến năm 2010. Luận án được thực hiện nhằm khỏa lấp khoảng trống học thuật này trong tiến trình nghiên cứu lịch sử kinh tế - xã hội của vùng Đông Nam Bộ và cả nước.

Mục tiêu nghiên cứu

Luận án xác định mục tiêu tổng quát là tái hiện một cách toàn diện, có hệ thống diện mạo của chợ truyền thống ở miền Đông Nam Bộ từ năm 1975 đến năm 2010; đồng thời phân tích, đánh giá sự tác động của chợ truyền thống đối với đời sống kinh tế - xã hội của các tầng lớp nhân dân trong không gian và thời gian được xác định.

Nhiệm vụ nghiên cứu

Luận án thực hiện 4 nhiệm vụ cụ thể được đánh số theo văn bản:

  1. Thứ nhất, nêu các nhân tố tác động đến sự hình thành, phân bố, diện mạo và hoạt động của chợ truyền thống ở miền Đông Nam Bộ.
  2. Thứ hai, trình bày một cách toàn diện về quy mô, hoạt động, phương thức quản lý, đối tượng và hàng hóa trao đổi mua bán tại chợ truyền thống ở miền Đông Nam Bộ trong khoảng thời gian đề tài xác định.
  3. Thứ ba, từ góc độ tiếp cận liên ngành, tập trung phân tích, đánh giá vai trò và tác động của chợ truyền thống đối với đời sống kinh tế, văn hóa - xã hội ở miền Đông Nam Bộ từ năm 1975 đến năm 2010, đặc biệt từ khi thực hiện công cuộc đổi mới đất nước và hội nhập khu vực, quốc tế.
  4. Thứ tư, từ góc độ nghiên cứu lịch sử, chỉ rõ một số tồn tại, hạn chế trong quá trình đầu tư xây dựng chợ mới, mở rộng quy mô chợ cũ và quản lý điều hành chợ ở miền Đông Nam Bộ trong thời gian qua; đưa ra các kiến nghị đối với các cấp chính quyền địa phương nhằm khắc phục tồn tại, phát huy vai trò của chợ truyền thống.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Chợ truyền thống tại miền Đông Nam Bộ. Luận án loại trừ các mô hình thương nghiệp không thuộc loại hình chợ truyền thống như hệ thống cửa hàng lương thực, thực phẩm, hợp tác xã thương nghiệp quốc doanh thời kỳ bao cấp, cũng như các siêu thị, trung tâm thương mại và cửa hàng tiện ích ra đời sau năm 1986.
  • Phạm vi không gian: Địa bàn miền Đông Nam Bộ theo địa giới hành chính hiện hành, bao gồm 6 tỉnh và thành phố: Thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bà Rịa - Vũng Tàu, Bình Dương, Bình Phước và Tây Ninh.
  • Phạm vi thời gian: Từ năm 1975 đến năm 2010 (với mốc mở rộng đến năm 2015 trong tiêu đề tổng thể).
  • Phạm vi nội dung: Tập trung vào các nhân tố tác động; sự chuyển biến của mạng lưới chợ qua hai giai đoạn 1975-1985 và 1986-2010 trên các phương diện quy mô, số lượng, vốn đầu tư, hàng hóa, phương thức quản lý, đối tượng kinh doanh; đánh giá tác động kinh tế - văn hóa - xã hội và đề xuất giải pháp.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tác giả đã hệ thống hóa và phân tích tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài thông qua các nhóm công trình trong nước và quốc tế:

Nhóm công trình nghiên cứu về chợ ở Việt Nam của tác giả trong nước

  • Thời kỳ phong kiến và đầu thế kỷ XX: Trịnh Hoài Đức trong Gia Định thành thông chí (đầu thế kỷ XIX) đã liệt kê các chợ ở Gia Định (chợ Khung Dung, Bến Thành, phố Bến Sạn, Điều Khiển, Nguyễn Thực, Tân Cảnh, Sài Gòn) và Trấn Biên (chợ Ngư Tân, Băng Bột, Bà Lỵ, Bình Quý, Bàn Lân, Lò Sắt). Lê Quang Định trong Hoàng Việt nhất thống dư địa chí (1806, bản dịch của Phan Đăng năm 2005) mô tả chi tiết đường đi, trạm điếm, chợ quán ở dinh Trấn Biên (Phước Liễu, Long Thạnh, Thủ Thiêm, Đồng Môn, Tân Lân, chợ Đồn, Giao Dô) và dinh Phiên Trấn (chợ Ông Bộ, Điếm Lá, chợ Quán, Phú Lâm, Đào Ngõa, Rạch Dừa, Đồng Rìu, chợ Đệm, Mụ Nghi, chợ Bông, Na Cầm, chợ Đũi, Điều Khiển, Tân Lộc, chợ Hôm, Chợ Lớn, Lò Rèn, Cây Dầu, chợ Chạy, Ngã Tư).
  • Các nghiên cứu lịch sử kinh tế và địa chí: Huỳnh Lứa trong Lịch sử khai phá vùng đất Nam Bộ (1987) khái quát quá trình hình thành các chợ ở Gia Định và Biên Hòa gắn liền với tiến trình ngụ cư của người Việt. Lê Quốc Sử trong Một số vấn đề về lịch sử kinh tế Việt Nam (1998) thống kê Gia Định có 12 chợ, Biên Hòa có 19 chợ. Vương Hồng Sển trong Tự vị tiếng nói miền Nam (1999) khảo cứu tên gọi và thống kê danh mục chợ năm 1939 tại Bà Rịa - Vũng Tàu (15 chợ), Đồng Nai và Tân Uyên (15 chợ), Gia Định (26 chợ).
  • Các nghiên cứu chuyên đề về loại hình chợ: Trần Gia Linh trong Chợ quê Việt Nam (2008) khảo sát 42 chợ từ Bắc Giang đến Phú Yên. Nhâm Hùng trong Chợ nổi đồng bằng sông Cửu Long (2009) nghiên cứu hệ thống chợ nổi qua hai giai đoạn 1975-1985 và 1986-2009. Huỳnh Thị Dung trong Chợ Việt (2011) phân loại các dạng thức chợ từ Bắc vào Nam, liệt kê các chợ tiêu biểu ở TP. Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bình Dương, Bình Phước, Tây Ninh. Trịnh Khắc Mạnh trong Chợ truyền thống Việt Nam qua tư liệu văn bia (2015) khảo cứu hệ thống chợ miền Bắc và Bắc Trung Bộ qua văn bia. Đặng Phong trong Phá rào trong kinh tế vào đêm trước đổi mới (2015) và Tư duy kinh tế Việt Nam (1975-1989) (2015) mô tả thực trạng "ngăn sông cấm chợ" và hiện tượng "xé rào" thương nghiệp tại TP. Hồ Chí Minh.
  • Các luận văn, luận án liên quan: Luận văn Thạc sĩ của Nguyễn Văn Hồ (Chợ nổi Cần Thơ, 2007), Nguyễn Thị Hiền (Chợ ở Thanh Hóa từ năm 1802 đến năm 1945, 2006), Nguyễn Thị Thanh Hà (Chợ ở Nghệ An từ thế kỷ XIX đến năm 1945, 2009), Nguyễn Thị Hoa (Chợ trong đời sống người Việt Nam Bộ, 2011).

Nhóm công trình nghiên cứu về chợ của tác giả nước ngoài

  • Jean-Pierre Aumiphin trong luận án tiến sĩ Sự hiện diện tài chính và kinh tế của Pháp ở Đông Dương từ năm 1858 đến năm 1939 (Đinh Xuân Lâm dịch, 1994) phân tích vai trò của người Hoa và người Việt trong mạng lưới phân phối chợ.
  • John Barrow trong Một chuyến du hành đến xứ Nam Hà (1792-1793) (Nguyễn Thừa Hỷ dịch, 2008) và Li Tana trong Xứ Đàng Trong, lịch sử kinh tế - xã hội Việt Nam thế kỷ 17-18 (Nguyễn Nghị dịch, 2014) ghi chép hoạt động thương mại chợ truyền thống thời chúa Nguyễn và phong trào Tây Sơn.
  • Kirsten W. Endres nghiên cứu cấu trúc không gian và sự chuyển đổi của chợ truyền thống tại miền Bắc trong tương quan so sánh quốc tế. Caroline Grillot (2014) khảo sát chợ cửa khẩu Móng Cái; Esther Horat (2014) nghiên cứu tính năng động giới tại chợ vải Ninh Hiệp; Lisa Barthelmes (2014) nghiên cứu sinh kế của người bán hàng rong tại Hà Nội; Christine Bonnin (2014) nghiên cứu chợ trâu chuyên doanh tại Lào Cai; Paul Doumer trong Hồi ký xứ Đông Dương (2016) phản ánh mạng lưới chợ tại các đô thị đầu thế kỷ XX.

Nhóm công trình nghiên cứu riêng về miền Đông Nam Bộ

  • Tài liệu địa chí và nghiên cứu trong nước: Địa phương chí tỉnh Phước Tuy năm 1961, Địa phương chí Gia Định năm 1971; Lê Hương trong Chợ trời biên giới Việt Nam - Cao Miên (1970) khảo cứu chợ biên giới tại Tây Ninh và Bình Phước; Lương Văn Lựu trong Biên Hòa sử lược toàn biên (1971); Nguyễn Đình Đầu trong Địa bạ triều Nguyễn Biên Hòa (1994); Địa chí văn hóa thành phố Hồ Chí Minh (1998); Địa chí Đồng Nai (2001); Nguyễn Hoàng Tố Uyên trong Chợ và siêu thị trong đời sống văn hóa (2006); Nguyễn Ngọc Cát trong Chợ Bến Thành qua cuộc trăm năm (2014); Nguyễn Thanh Lợi trong Sài Gòn đất và người (2015) khảo cứu tên gọi của 362 chợ tại TP. Hồ Chí Minh.
  • Chuyên khảo của các tác giả người Pháp: Monographie de la province de Thu Dau Mot (1910); Fasgigule với Monographie de la Province de Baria et Ville du Cap Saint-Jacques (1902); Monographie de la Province de Gia Dinh (1902); M. Robert với Monographie de la province de Biên Hòa 1923 (Nguyễn Yên Tri dịch năm 1993, 2000).

Khoảng trống luận án giải quyết

Các công trình đi trước phần lớn dừng lại ở việc liệt kê tên chợ, khảo sát địa chí mang tính biên niên hoặc nghiên cứu các chợ ở giai đoạn trước năm 1975. Luận án của Lê Quang Cần là công trình sử học đầu tiên tái hiện một cách hệ thống và toàn diện mạng lưới chợ truyền thống trên toàn vùng Đông Nam Bộ trong giai đoạn bản lề 1975-2010, phân tích sự thay đổi cơ chế quản lý từ thời kỳ bao cấp sang đổi mới và hội nhập, đồng thời đánh giá tác động nhiều mặt của chợ đối với cơ cấu kinh tế - xã hội địa phương.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khái niệm và khung phân loại

  • Khái niệm chợ: Luận án đối chiếu định nghĩa từ Đại Từ điển tiếng Việt (2003, 2004), Từ điển tiếng Việt (2005), Từ điển thương mại (Business Dictionary), Thông tư số 15/TM-CSTTTN (16/10/1996) của Bộ Thương mại và Nghị định số 02/2003/NĐ-CP (14/01/2003) của Chính phủ. Tác giả xác lập khái niệm làm việc: Chợ là loại hình kinh doanh thương mại mang tính truyền thống, được tổ chức tại một địa điểm công cộng tập trung đông người để mua bán, trao đổi hàng hóa và dịch vụ, hình thành do nhu cầu sản xuất, lưu thông và tiêu dùng xã hội, hoạt động theo các chu kỳ thời gian nhất định.
  • Tiêu chí phân loại chợ trong luận án:
    1. Phân loại theo quy mô quản lý (Nghị định 02/2003/NĐ-CP): Chợ loại 1 (trên 400 hộ kinh doanh cố định), Chợ loại 2 (từ 100 đến dưới 400 hộ kinh doanh cố định), Chợ loại 3 (dưới 100 hộ kinh doanh hoặc chợ tạm, chợ dân sinh quy mô nhỏ).
    2. Phân loại theo địa bàn cư trú: Chợ làng xã (nông thôn), chợ đô thị, chợ vùng biên giới, chợ ven biển, chợ ven trục lộ giao thông.
    3. Phân loại theo công năng và thời gian: Chợ đầu mối, chợ chuyên doanh, chợ phiên, chợ sáng, chợ chiều, chợ đêm.
Tiêu chí phân loại Các phân nhóm cụ thể theo luận án
Quy mô kinh doanh cố định (Nghị định 02/2003/NĐ-CP) • Chợ loại 1 (> 400 điểm kinh doanh/hộ cố định)
• Chợ loại 2 (100 – dưới 400 điểm kinh doanh/hộ cố định)
• Chợ loại 3 (Dưới 100 điểm kinh doanh, chợ dân sinh còn lại)
Không gian địa lý và địa bàn • Chợ làng xã (nông thôn)
• Chợ đô thị
• Chợ biên giới (giáp Campuchia)
• Chợ ven biển, hải đảo
• Chợ ven các trục lộ giao thông thủy/bộ
Thời gian và tính chất nhóm họp • Chợ phiên định kỳ
• Chợ sáng, chợ chiều, chợ đêm
• Chợ tạm, chợ cóc dân sinh
Chức năng lưu thông hàng hóa • Chợ đầu mối nông sản, thủy hải sản
• Chợ bách hóa tổng hợp
• Chợ chuyên doanh ngành hàng

Phương pháp nghiên cứu

Luận án kết hợp giữa phương pháp chuyên ngành lịch sử và phương pháp liên ngành:

  • Phương pháp chuyên ngành: Phương pháp lịch sử và phương pháp logic nhằm tái hiện tiến trình vận động khách quan của hệ thống chợ gắn với các bước ngoặt thể chế kinh tế của đất nước (1975, 1986, 1995, 2007).
  • Phương pháp liên ngành:
    • Phương pháp điền dã và khảo cứu thực tế: Khảo sát mạng lưới chợ cũ và chợ mới xây dựng tại 6 tỉnh, thành phố miền Đông Nam Bộ.
    • Phương pháp điều tra xã hội học và phỏng vấn: Sử dụng bảng hỏi điều tra giới tiểu thương buôn bán lâu năm qua hai giai đoạn: giai đoạn 1975-1985 (bảng hỏi 20 câu) và giai đoạn 1986-2010 (bảng hỏi 20 câu), có sự xác nhận của Ban quản lý chợ hoặc chính quyền địa phương.
    • Phương pháp thống kê, so sánh, đối chiếu: Xử lý số liệu lưu trữ về số lượng chợ, hộ kinh doanh, doanh thu thương nghiệp, ngân sách, nhân khẩu học.
    • Phương pháp phân tích ma trận SWOT: So sánh năng lực cạnh tranh giữa hệ thống chợ truyền thống với siêu thị và trung tâm thương mại.
    • Phương pháp chuyên gia: Tham vấn ý kiến các nhà nghiên cứu lịch sử, văn hóa, kinh tế tại khu vực Nam Bộ.

Nguồn tư liệu và dữ liệu

  • Tài liệu lưu trữ: Khai thác tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II; các văn bản chỉ đạo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, VIII; Luật của Quốc hội; Nghị định của Chính phủ; Thông tư, Quyết định của Bộ Thương mại (nay là Bộ Công Thương); Nghị quyết Đại hội Đảng bộ và quyết định quản lý thương nghiệp của các tỉnh, thành phố miền Đông Nam Bộ.
  • Tài liệu thống kê: Niên giám thống kê của Cục Thống kê các địa phương (TP. Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bà Rịa - Vũng Tàu, Bình Dương, Bình Phước, Tây Ninh) qua các mốc 5 năm, 10 năm; báo cáo tổng kết định kỳ của Sở Thương mại (Sở Công Thương).
  • Tài liệu chuyên khảo và tạp chí: Sách địa chí, chuyên khảo lịch sử - kinh tế, bài báo trên các tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, Khoa học Xã hội Việt Nam, Khoa học Xã hội TP. Hồ Chí Minh.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài

Chương này thực hiện việc hệ thống hóa toàn bộ các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến chợ ở Việt Nam và miền Đông Nam Bộ từ thế kỷ XVII đến năm 2017. Tác giả phân chia tình hình nghiên cứu thành hai nhóm lớn: nhóm công trình nghiên cứu chung về chợ ở Việt Nam và nhóm công trình nghiên cứu chuyên biệt về miền Đông Nam Bộ, đồng thời phân tích rõ các khía cạnh địa chí, văn hóa, kinh tế mà các tác giả tiền nhiệm đã tiếp cận. Trên cơ sở đó, chương 1 xác định rõ các khái niệm công cụ, khung pháp lý phân loại chợ và xác lập 4 nhiệm vụ khoa học trọng tâm mà luận án cần giải quyết để bổ khuyết khoảng trống học thuật.

Chương 2: Chợ ở miền Đông Nam Bộ trong cơ chế quản lý bao cấp (1975-1985)

Chương 2 phân tích các nhân tố tự nhiên, dân cư và kinh tế - xã hội tác động đến sự hình thành, phân bố và tổ chức hoạt động của mạng lưới chợ miền Đông Nam Bộ trong 10 năm đầu sau ngày thống nhất đất nước.

  • Về điều kiện tự nhiên: Miền Đông Nam Bộ có diện tích 23.590,8 km², nằm trên vùng đồng bằng và bình nguyên chuyển tiếp (độ cao 100 - 200 m). Đất nông nghiệp chiếm 27,1% tổng diện tích canh tác (chủ yếu là đất nâu đỏ, nâu vàng trên nền bazan và đất xám phù sa cổ). Hệ sinh thái rừng còn khoảng 532.200 ha (chiếm 2,8% cả nước). Tài nguyên nước dựa vào hệ thống sông Đồng Nai và các hồ chứa nhân tạo (Trị An, Dầu Tiếng, Thác Mơ) với dung tích khoảng 300 triệu m³. Bờ biển dài 350 km với ngư trường có trữ lượng cá ước tính từ 290.000 đến 704.000 tấn (chiếm 40% trữ lượng cá vùng biển Nam Bộ). Các điều kiện tự nhiên này tạo nguồn hàng hóa phong phú cho chợ nông thôn, chợ rừng và chợ ven biển (như chợ Bến Đình, Bến Đá, Vũng Tàu, Long Hải, Cần Giờ).
  • Về nhân tố dân cư và di cư lịch sử: Trước năm 1975, mạng lưới chợ miền Đông Nam Bộ chịu ảnh hưởng sâu sắc từ cuộc di cư năm 1954 của gần 1 triệu đồng bào miền Bắc. Tại Đồng Nai, các cộng đồng di cư đã thành lập nên các chợ mang tên gốc làng xã miền Bắc như: chợ Sặt (thành lập bởi dân làng Kẻ Sặt, Bình Giang, Hải Dương tại phường Tân Biên, Biên Hòa), chợ Bùi Chu (dân làng Bùi Chu, Phát Diệm, Nam Định tại Trảng Bom), chợ Phúc Hải (dân di cư Hải Phòng tại phường Tân Phong, Biên Hòa), chợ Quảng Biên (dân di cư năm 1972 tại xã Quảng Tiến, Trảng Bom).
  • Thực trạng thời kỳ 1975-1985: Sau năm 1975, cơ chế quản lý kinh tế hành chính quan liêu, bao cấp với chủ trương cải tạo công thương nghiệp tư doanh và áp dụng các biện pháp kiểm soát lưu thông ("ngăn sông cấm chợ") đã làm suy giảm nghiêm trọng mạng lưới chợ truyền thống. Nhà nước thực hiện độc quyền phân phối nhu yếu phẩm qua hệ thống mậu dịch quốc doanh và hợp tác xã mua bán. Số lượng chợ truyền thống giảm sút, quy mô thu hẹp, hoạt động buôn bán chuyển sang các hình thức phân tán hoặc "chợ đen", dẫn đến khủng hoảng phân phối hàng hóa tiêu dùng trước khi bước vào công cuộc Đổi mới.

Chương 3: Chợ ở miền Đông Nam Bộ trong thời kỳ đổi mới và hội nhập

Chương này phản ánh tiến trình hồi sinh, mở rộng và hiện đại hóa của mạng lưới chợ gắn liền với các mốc đổi mới kinh tế từ năm 1986 và hội nhập kinh tế quốc tế (gia nhập ASEAN năm 1995, ASEM năm 1996, APEC năm 1998, WTO năm 2007).

  • Giai đoạn 1986-1995 (Đầu thời kỳ Đổi mới): Đường lối đổi mới của Đại hội Đảng lần thứ VI (1986) thừa nhận nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, bãi bỏ các trạm kiểm soát ngăn sông cấm chợ, cho phép lưu thông tự do hàng hóa nông sản và hàng tiêu dùng. Mạng lưới chợ truyền thống phục hồi nhanh chóng; các địa phương ban hành cơ chế khuyến khích tiểu thương bỏ vốn đầu tư sạp hàng, ki-ốt, nâng cấp cơ sở vật chất chợ huyện, chợ xã.
  • Giai đoạn 1995-2010 (Thời kỳ hội nhập sâu rộng): Mạng lưới chợ được quy hoạch bài bản theo các cấp độ quản lý của Nghị định 02/2003/NĐ-CP. Chợ đầu mối nông sản thực phẩm hình thành tại các cửa ngõ đô thị (TP. Hồ Chí Minh, Đồng Nai) để tiếp nhận luồng hàng hóa liên vùng. Số lượng chợ dân sinh tăng nhanh tại các khu công nghiệp, khu chế xuất nhằm phục vụ lực lượng lao động nhập cư.
  • Động thái dân số và áp lực hạ tầng: Theo kết quả Tổng điều tra dân số năm 2009, Đông Nam Bộ là vùng tiếp nhận người di cư lớn nhất cả nước với hơn 1,6 triệu người nhập cư (dân số di cư liên tỉnh chiếm trên 14% dân số toàn vùng). Luồng di cư lớn nhất đến từ Đồng bằng sông Cửu Long (hơn 714.000 người), Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung (hơn 570.000 người), Đồng bằng sông Hồng (hơn 195.000 người). Mạng lưới chợ truyền thống đóng vai trò thiết yếu trong việc đảm bảo cung cấp thực phẩm tươi sống giá rẻ cho lực lượng lao động này.
  • Tương quan với thương mại hiện đại: Sự xuất hiện của các siêu thị, trung tâm thương mại và cửa hàng tiện lợi tạo ra áp lực cạnh tranh. Luận án phân tích ma trận SWOT chỉ ra chợ truyền thống vẫn giữ ưu thế vượt trội về tính tiện lợi, giá cả hàng tươi sống và thói quen tiêu dùng hàng ngày của đa số dân cư.
Địa bàn tỉnh/thành Đặc điểm mạng lưới chợ theo kết quả khảo cứu của luận án
TP. Hồ Chí Minh Tập trung hệ thống chợ bán buôn, chợ đầu mối lớn (Bình Điền, Thủ Đức, Hóc Môn) và các chợ trung tâm lịch sử (Bến Thành, Bình Tây, Bà Chiểu, Tân Bình, Kim Biên); mật độ phân bố chợ đô thị dày đặc.
Đồng Nai Mạng lưới chợ phân bố đồng đều từ đô thị công nghiệp (Biên Hòa, Long Thành) đến nông thôn, gắn liền với các khu dân cư di cư (chợ Sặt, Tân Biên, Hố Nai) và chợ ven các trục giao thông huyết mạch.
Bình Dương Chuyển biến nhanh chóng từ chợ nông thôn sang chợ dân sinh phục vụ công nhân tại các thị xã công nghiệp phát triển (Dĩ An, Thuận An, Bến Cát, Thủ Dầu Một).
Bà Rịa - Vũng Tàu Phát triển mạnh hệ thống chợ ven biển, chợ đầu mối thủy hải sản gắn liền các cảng cá (chợ Vũng Tàu, Bến Đình, Bến Đá, Long Hải, Bà Rịa).
Tây Ninh Hệ thống chợ bách hóa trung tâm (chợ Long Hoa, Tây Ninh) kết hợp mạng lưới chợ cửa khẩu, chợ đường biên phục vụ giao thương với Campuchia.
Bình Phước Mạng lưới chợ phân tán theo địa bàn huyện lỵ, phục vụ vùng trồng cây công nghiệp dài ngày và đồng bào dân tộc thiểu số (chợ Đồng Xoài, Phước Long, Bình Long, Hoa Lư).

Chương 4: Vai trò tác động của chợ ở miền Đông Nam Bộ đối với đời sống kinh tế - xã hội

Chương 4 tổng kết các tác động đa chiều của hệ thống chợ truyền thống:

  • Tác động kinh tế:
    • Nông nghiệp: Chợ là kênh tiêu thụ chủ yếu cho nông sản tươi sống, thịt gia súc gia cầm và thủy hải sản, liên kết trực tiếp giữa vùng sản xuất chuyên canh với thị trường tiêu dùng.
    • Công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp: Chợ truyền thống phân phối sản phẩm công nghiệp tiêu dùng, hàng may mặc, đồ gia dụng, vật tư cơ khí nhỏ từ các nhà máy và làng nghề truyền thống đến tận tay người tiêu dùng.
    • Thương nghiệp và ngân sách: Chợ đóng góp tỷ trọng lớn trong tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng của các tỉnh Đông Nam Bộ, tạo nguồn thu thuế môn bài, phí chợ và tiền thuê mặt bằng ổn định cho ngân sách địa phương.
  • Tác động văn hóa - xã hội:
    • Giải quyết sinh kế và việc làm: Tạo việc làm trực tiếp cho hàng chục vạn hộ tiểu thương và việc làm gián tiếp cho các nhóm lao động dịch vụ phụ trợ (bốc vác, vận chuyển xe thồ, giao hàng, bảo vệ, thu gom rác thải).
    • Hình thành tầng lớp tiểu thương mới: Tạo điều kiện cho một bộ phận lớn lao động nữ và người dân nông thôn chuyển dịch từ sản xuất nông nghiệp sang hoạt động kinh doanh dịch vụ thương mại.
    • Giao lưu văn hóa và định hình lối sống đô thị: Chợ là không gian giao tiếp cộng đồng, bảo lưu các nét sinh hoạt văn hóa ẩm thực và thói quen giao thương truyền thống của cư dân Nam Bộ.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt khoa học và lịch sử

  • Luận án là công trình khoa học đầu tiên nghiên cứu có hệ thống, toàn diện về quá trình vận động, phát triển của mạng lưới chợ truyền thống ở miền Đông Nam Bộ trong suốt 35 năm (1975-2010).
  • Dưới góc độ sử học kinh tế, công trình đã phục dựng bức tranh chân thực về sự chuyển dịch cơ chế quản lý lưu thông hàng hóa: từ giai đoạn quản lý hành chính quan liêu bao cấp triệt tiêu chợ tự do (1975-1985) sang giai đoạn tự do hóa lưu thông, đa dạng hóa thành phần kinh tế và tổ chức quản lý chợ theo quy hoạch (1986-2010).
  • Hệ thống hóa nguồn tư liệu lịch sử, kinh tế, địa chí và các số liệu thống kê liên ngành phong phú, làm cơ sở dữ liệu tin cậy cho việc nghiên cứu lịch sử địa phương các tỉnh Đông Nam Bộ.

Đóng góp về mặt thực tiễn và kiến nghị giải pháp

  • Luận án tổng kết các bài học kinh nghiệm và chỉ rõ những hạn chế trong công tác quy hoạch, đầu tư cơ sở hạ tầng, phòng cháy chữa cháy, vệ sinh an toàn thực phẩm và quản lý trật tự đô thị tại các chợ truyền thống.
  • Đưa ra hệ thống kiến nghị với chính quyền các địa phương miền Đông Nam Bộ:
    1. Quy hoạch mạng lưới chợ phù hợp với quy hoạch phát triển đô thị, khu công nghiệp và tốc độ gia tăng dân số nhập cư.
    2. Nâng cấp hạ tầng kỹ thuật chợ truyền thống (hệ thống thoát nước, xử lý rác thải, PCCC, phân khu ngành hàng hợp lý).
    3. Đổi mới mô hình quản lý chợ: chuyển đổi từ Ban quản lý hành chính sự nghiệp sang mô hình doanh nghiệp hoặc hợp tác xã quản lý chợ theo cơ chế tự chủ, minh bạch.
    4. Hỗ trợ tiểu thương nâng cao kỹ năng kinh doanh, văn minh thương mại, thực hiện niêm yết giá và kiểm soát an toàn vệ sinh thực phẩm nhằm duy trì sức cạnh tranh trong môi trường hội nhập.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Luận án tập trung khảo cứu đối tượng chợ truyền thống, do đó không đi sâu phân tích toàn diện các mô hình phân phối bán lẻ hiện đại (siêu thị, trung tâm thương mại, chuỗi cửa hàng tiện ích) mà chỉ đề cập dưới dạng so sánh tương quan thị phần và năng lực cạnh tranh. Nguồn tư liệu lưu trữ của một số chợ huyện, chợ xã vùng sâu, vùng xa trong giai đoạn 1975-1985 còn tản mạn, chủ yếu phải dựa vào phương pháp hồi cố và điền dã thực tế.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu sự biến đổi của mạng lưới chợ truyền thống trong bối cảnh bùng nổ thương mại điện tử và các chuỗi bán lẻ đa kênh; nghiên cứu chuyên sâu về mô hình quản lý kinh tế chợ biên giới Tây Nam kết nối thị trường tiểu vùng sông Mê Kông sau năm 2015.

Giá trị tham khảo

Luận án mang lại giá trị tham khảo thiết thực cho các nhóm đối tượng:

  • Giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên: Cung cấp nguồn tư liệu lịch sử kinh tế, lịch sử địa phương và khung phương pháp tiếp cận liên ngành (sử học - xã hội học - kinh tế học) cho các chuyên ngành Lịch sử Việt Nam, Việt Nam học, Địa lý kinh tế và Văn hóa học.
  • Cơ quan quản lý nhà nước (Sở Công Thương, UBND các cấp): Là tài liệu tham khảo trong việc xây dựng đề án quy hoạch mạng lưới thương mại bán lẻ, phê duyệt các dự án nâng cấp, cải tạo chợ truyền thống và xây dựng chính sách quản lý tiểu thương tại các đô thị công nghiệp vùng Đông Nam Bộ.
  • Nhà biên soạn địa chí: Cung cấp danh mục, niên đại và đặc điểm hình thành của hàng trăm chợ truyền thống trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bình Dương, Bà Rịa - Vũng Tàu, Tây Ninh, Bình Phước.

Câu hỏi thường gặp

1. Đối tượng nghiên cứu cụ thể của luận án có bao gồm các siêu thị và trung tâm thương mại hiện đại không?

Không. Luận án xác định đối tượng nghiên cứu duy nhất là chợ truyền thống tại 6 tỉnh, thành phố miền Đông Nam Bộ. Hệ thống cửa hàng lương thực thực phẩm quốc doanh thời kỳ 1975-1985, cũng như siêu thị, trung tâm thương mại và chuỗi cửa hàng tiện ích ra đời sau năm 1986 chỉ được sử dụng làm đối tượng so sánh, đối chiếu nhằm làm rõ vị trí và đặc điểm hoạt động của chợ truyền thống.

2. Cơ chế quản lý thời kỳ 1975-1985 đã tác động như thế nào đến mạng lưới chợ truyền thống miền Đông Nam Bộ?

Trong giai đoạn 1975-1985, việc thực hiện cơ chế quản lý hành chính quan liêu bao cấp và các biện pháp "ngăn sông cấm chợ" nhằm cải tạo công thương nghiệp tư doanh đã làm số lượng chợ truyền thống sụt giảm nhanh chóng. Nhà nước độc quyền thu mua, phân phối nhu yếu phẩm qua các cửa hàng mậu dịch quốc doanh và hợp tác xã thương nghiệp, khiến hoạt động trao đổi tự do tại chợ bị thu hẹp hoặc chuyển sang các hình thức buôn bán không chính thức.

3. Biến động dân cư sau năm 1954 đã để lại dấu ấn lịch sử nào trong mạng lưới chợ tại Đồng Nai?

Cuộc di cư năm 1954 từ Bắc vào Nam của gần 1 triệu dân đã dẫn tới việc thành lập hàng loạt làng xóm mới tại Đồng Nai mang tên quê hương gốc miền Bắc. Kèm theo đó, các chợ truyền thống mới ra đời mang tên gốc làng xã phương Bắc, tiêu biểu như chợ Sặt (gắn với người dân di cư làng Kẻ Sặt, Hải Dương), chợ Bùi Chu (gắn với người dân huyện Xuân Trường, Nam Định), chợ Phúc Hải (gắn với giáo dân Hải Phòng), chợ Quảng Biên (gắn với người dân di cư năm 1972).

4. Tác giả đã sử dụng những công cụ điều tra thực địa nào để thu thập dữ liệu về giới tiểu thương?

Để bổ trợ cho nguồn tư liệu lưu trữ, tác giả đã trực tiếp điền dã khảo sát hệ thống chợ tại 6 tỉnh thành và tiến hành điều tra xã hội học bằng bảng hỏi đối với giới tiểu thương kinh doanh lâu năm qua hai giai đoạn: giai đoạn 1975-1985 gồm 20 câu hỏi và giai đoạn 1986-2010 gồm 20 câu hỏi. Các bảng điều tra này đều có sự xác nhận của Ban quản lý chợ hoặc chính quyền địa phương để đảm bảo độ tin cậy.

5. Dòng di cư lao động trong thời kỳ Đổi mới có mối quan hệ như thế nào với sự phát triển của chợ truyền thống miền Đông Nam Bộ?

Theo số liệu Tổng điều tra dân số năm 2009 được luận án trích dẫn, miền Đông Nam Bộ đã tiếp nhận hơn 1,6 triệu người nhập cư (lớn nhất từ Đồng bằng sông Cửu Long với 714.000 người và Miền Trung với 570.000 người). Lực lượng lao động nhập cư tập trung đông đảo tại các khu công nghiệp, khu chế xuất đã tạo ra nhu cầu tiêu thụ lương thực, thực phẩm tươi sống giá rẻ rất lớn, thúc đẩy sự ra đời và mở rộng mạnh mẽ của các chợ dân sinh và chợ đầu mối trên toàn vùng.


Kết luận

Luận án Tiến sĩ Lịch sử của Lê Quang Cần đã phục dựng toàn diện tiến trình hình thành, biến đổi và hoạt động của mạng lưới chợ truyền thống ở miền Đông Nam Bộ từ năm 1975 đến năm 2010. Bằng việc kết hợp phương pháp sử học với điều tra xã hội học và số liệu thống kê kinh tế, công trình đã làm sáng tỏ sự thích ứng của chợ truyền thống qua các bước ngoặt thể chế từ cơ chế bao cấp sang kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Luận án khẳng định chợ truyền thống tiếp tục giữ vai trò huyết mạch trong lưu thông hàng hóa nông sản, giải quyết sinh kế xã hội và duy trì bản sắc văn hóa giao thương của khu vực kinh tế trọng điểm phía Nam. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học tin cậy phục vụ công tác giảng dạy lịch sử địa phương và hoạch định chính sách phát triển thương mại tại các tỉnh, thành phố miền Đông Nam Bộ.