Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài Chương 2: Chợ ở miền Đông Nam Bộ trong cơ chế quản lý bao cấp (1975-1985) Chương 3: Chợ ở miền Đông Nam Bộ trong thời kỳ đổi mới và hội nhập (1986-2010) Chương 4: Vai trò tác động của chợ ở miền Đông Nam Bộ đối với đời sống kinh tế - xã hội 7 NỘI DUNG Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI 1. Khái niệm về chợ sử dụng trong luận án Khái niệm chợ Theo định nghĩa chợ của “Đại Từ điển tiếng Việt (2003)”, Nxb Từ điển Bách khoa, tr.138; “Đại Từ điển tiếng Việt (2004)”, Nxb Văn hoá Thông tin, tr.155; “Từ điển tiếng Việt” (2005), Nxb Văn hóa Sài Gòn, tr.317 - 318 với các khái niệm về chợ: “Chợ là nơi được cộng đồng dân cư trong vùng thỏa thuận với nhau dùng làm địa điểm mua bán chung hàng ngày hoặc vào những ngày nhất định trong tháng”. Chợ chiều: “Chợ họp lúc về chiều, lúc gần tan, thường dùng để ví cảnh tàn cuộc, rời rạc”. Chợ dinh: “Chợ họp nơi tỉnh thành, gần dinh viên tỉnh thời xưa”.
Chợ đen: “Thị trường mua bán lén lút, bất hợp pháp: Giá chợ đen”. Chợ nổi: “Chợ chuyên nhóm họp trên ghe thuyền ở các sông rạch tại nhiều vùng thuộc đồng bằng sông Cửu Long”. Chợ trời: “Chợ chuyên bán đủ các loại hàng, cũ hoặc mới, thường họp ngoài trời”. Theo định nghĩa về chợ của Từ điển thương mại (Business Dictionary) như sau: “Chợ là khu vực được xác định hay chỉ định danh, nơi đáp ứng nhu cầu về cung cấp, nơi trao đổi mua bán (trực tiếp hay qua trung gian) về hàng hóa, dịch vụ, hợp đồng, hoặc các phương tiện để lấy tiền hay đổi chác.
Chợ bao gồm cơ chế và ý nghĩa với việc: (1) Xác định giá cả của khoản mục buôn bán; (2) Chuyển tải thông tin về giá; (3) Sự dễ dàng về lượng hàng và cách giải quyết; (4) Tính hiệu quả. Thông thường, chợ luôn tạo nên khách hàng tiềm năng, tức những người cần có chợ và sẵn sàng mua bán ở đó” [209]. Thông tư số 15/TM-CSTTTN ngày 16/10/1996 của Bộ Thương mại hướng dẫn tổ chức và quản lý chợ, chỉ rõ: “Chợ là mạng lưới thương nghiệp được hình thành và phát triển cùng với sự phát triển của nền kinh tế xã hội”. Nghị định số 8 02/2003/NĐ-CP ngày 14/01/2003 của Chính Phủ về phát triển và quản lý chợ.
Chợ là loại hình kinh doanh thương mại được hình thành và phát triển mang tính truyền thống, được tổ chức tại một địa điểm theo quy hoạch, đáp ứng nhu cầu mua bán, trao đổi hàng hoá và nhu cầu tiêu dùng của khu vực dân cư. Đối với siêu thị, trung tâm thương mại, cửa hàng tiện ích không phải là chợ truyền thống. Từ nhiều cách lý giải khác nhau về chợ, có thể thống nhất: Chợ là loại hình kinh doanh thương mại được hình thành và phát triển mang tính truyền thống, được tổ chức tại một địa điểm công cộng, tập trung đông người mua bán, trao đổi hàng hoá dịch vụ với nhau, hình thành do yêu cầu của sản xuất, lưu thông, đời sống tiêu dùng xã hội và hoạt động theo các chu kỳ thời gian nhất định, phù hợp với nhu cầu của mọi tầng lớp nhân dân trong vùng. Phân loại chợ: Trên cơ sở của khái niệm về chợ, có nhiều loại hình chợ, tùy theo tiêu chí.
Chợ có thể được phân loại như sau: 1. Chợ truyền thống (có khu vực được xác định, có tên, mua bán trực tiếp); 2. Cửa hàng thương nghiệp (xuất hiện trong thời kỳ kinh tế quan liêu bao cấp); 3. Trung tâm thương mại.
Trong “chợ truyền thống”, có thể phân chia thành các tiểu loại khác. The o địa bàn, có chợ làng xã, chợ đô thị, chợ vùng biên, chợ ven biển, chợ ven sông rạch; theo thời gian, có chợ phiên, chợ sáng, chợ chiều, chợ đêm; theo loại hàng hóa, có chợ hoa quả, chợ trâu bò, chợ cá, chợ lao động; theo quy mô, có chợ tỉnh, chợ huyện, chợ làng, chợ cóc; theo chức năng, có chợ đầu mối, chợ chuyên doanh,. Theo Nghị định 2003 của Chính Phủ, chợ được phân thành 3 loại: Chợ loại 1 là chợ có trên 400 hộ kinh doanh lập cửa hàng, cửa hiệu, sạp hàng buôn bán cố định, thường xuyên. Chợ loại 2 là chợ có từ 100 đến dưới 400 hộ buôn bán cố định, thường xuyên.
Chợ loại 3 là những chợ còn lại. Trong phạm vi luận án này, chúng tôi lựa chọn phân loại chợ truyền thống theo tiêu chí địa bàn với chợ làng xã, chợ đô thị, chợ biên giới, chợ ven biển, chợ ven trục lộ giao thông và Nghị định 9 2003 của Chính Phủ về phân loại chợ. Nhóm công trình nghiên cứu về chợ ở Việt Nam 1. Những nghiên cứu về chợ ở Việt Nam của tác giả trong nước Trịnh Hoài Đức, từng giữ các chức vụ quan trọng như Thượng thư bộ Hộ, Tổng trấn Gia Định thành, Thượng thư bộ Lại,.
trong bộ máy chính quyền nhà Nguyễn đầu thế kỷ XIX. Trong sự nghiệp văn chương, Trịnh Hoài Đức có nhiều tác phẩm nghiên cứu, tiêu biểu nhất là “Gia Định thành thông chí”. Trong tập hạ, nội dung thành trì chí được tác giả liệt kê sự ra đời một số chợ ở Gia Định xưa [34; tr.90-101]: Chợ Khung Dung, Bến Thành, phố Bến Sạn, Điều Khiển, Nguyễn Thực, Tân Cảnh, Sài Gòn. Trấn Biên Hòa sau đó là tỉnh Biên Hòa, tác giả liệt kê một số chợ [34; tr.112-115]: Chợ Ngư Tân, Băng Bột, Bà Lỵ, Bình Quý, Bàn Lân, Lò Sắt.
Chợ không phải nội dung chính của tác phẩm “Gia Định thành thông chí” nên tác giả dừng lại ở mức độ liệt kê giản lược, chưa đi sâu phân tích, đánh giá. Đây là tài liệu quan trọng giúp chúng tôi khảo cứu, nghiên cứu về chợ truyền thống trên vùng đất Đông Nam Bộ ngày nay. Công trình “Hoàng Việt nhất thống dư địa chí” do Lê Quang Định biên soạn đầu thế kỷ XIX, được Phan Đăng dịch, Nxb Thuận Hóa phát hành năm 2005. Tác phẩm này không chỉ cho biết đường đi từ kinh đô đến các dinh trấn, từ các dinh trấn đến các địa phương cơ sở, làng xã rất tỉ mỉ; mà còn mô tả khá đầy đủ về trạm điếm, cầu cống, bến đò, sông rạch, khe suối, chợ búa, đền, miếu, thành quách, di tích, nhân vật, cửa biển, đồi núi, biên ải…ở nước ta thời bấy giờ.
Địa phận dinh Trấn Biên, tác giả đã nêu và mô tả sơ lược sự thành lập một số chợ quán trên các tuyến đường [36; tr. Từ trạm Mỗi Xoài (Vũng Tàu) đến dinh Trấn Biên: Chợ thôn Phước Liễu, thôn Long Thạnh, Thủ Thiêm, Đồng Môn, thôn Tân Lân, chợ Đồn, Giao Dô. Địa phận dinh Phiên Trấn thành Gia Định trong phần ghi chép về đường trạm thủy bộ [36; tr.88-97], tác giả đã liệt kê: Chợ Ông Bộ, Điếm Lá, chợ Quán, Phú Lâm, Đào Ngõa, Rạch Dừa, Đồng 10 Rìu, chợ Đệm, Mụ Nghi, chợ Bông, Na Cầm, chợ Đũi, Điều Khiển, Tân Lộc, chợ Hôm, chợ Lớn, Lò Rèn, Cây Dầu, chợ Chạy, Ngã Tư. Công trình “Hoàng Việt nhất thống dư địa chí” đã liệt kê sự ra đời khá nhiều chợ ở tỉnh Gia Định và Biên Hòa thời nhà Nguyễn là nguồn tư liệu quý đối với quá trình nghiên cứu về chợ, nhất là chợ truyền thống ở Đông Nam Bộ.
Giáo sư Huỳnh Lứa dành nhiều tâm sức để hoàn thành công trình “Lịch sử khai phá vùng đất Nam Bộ” được xuất bản năm 1987. Tác giả khái quát quá trình khai phá vùng đất Nam Bộ với sự thay đổi của xóm làng trù phú, ruộng đồng phì nhiêu của các thế hệ người Việt, các tộc người thiểu số đã định ở đây. Khi dân cư ngày một đông đúc và nhu cầu tất yếu diễn ra hoạt động trao đổi, mua bán hàng hóa của cộng đồng ngụ cư. Chợ là nơi diễn ra các hoạt động buôn bán, trao đổi hàng hóa của cư dân miền Đông Nam Bộ được tác giả đề cập [65; tr.50-63] một số chợ ra đời ở Gia Định: Chợ Quán, Nguyễn Thực, Điều Khiển, chợ Sỏi, Bến Nghé và [65; tr.90-93] liệt kê các chợ Biên Hòa: Đồng Nai, Bến Cá, Đồng Sử, chợ Lò, Bàn Lân, Dầu Miệt, Thủ Đức, chợ Đò, Bà Rịa, Đồng Môn, Lò Thiếc.
“Lịch sử khai phá vùng đất Nam Bộ”, đề cập một số chợ ra đời ở Biên Hòa, Gia Định trở thành nguồn tư liệu quý đối với nghiên cứu về chợ giai đoạn sau. Tuy nhiên, còn nhiều chợ khác ở Bình Dương: Chợ Lái Thiêu, Thị Tính, chợ Búng,…tác giả chưa đề cập. Ngoài ra, tác giả chỉ mới dừng lại ở mức độ nêu khái lược sự ra đời của các chợ ở miền Đông Nam Bộ mà chưa đi sâu nghiên cứu hoạt động mua bán, mối liên hệ giữa các chợ trong cùng một không gian địa lý hoặc có thể vượt ra ngoài không gian địa lý được giới hạn bởi bộ máy chính quyền đương đại và đánh giá vai trò của nó đối với sự phát triển kinh tế, xã hội của miền Đông Nam Bộ. Tác phẩm “Một số vấn đề về lịch sử kinh tế Việt Nam” của Lê Quốc Sử (1998), nghiên cứu về lịch sử kinh tế Việt Nam khá toàn diện và đầy đủ.
Trong nghiên cứu tổng thể thương mại Việt Nam có nhiều chợ từ Bắc chí Nam được 11 tác giả liệt kê và tóm tắt hoạt động khá nhộn nhịp, trong đó chợ ở miền Đông Nam Bộ [156; tr.436-448] ghi nhận Gia Định có 12 chợ: Chợ Phố Thành, chợ Sỏi, Điều Khiển, Nguyễn Thực, Tân Kiểng, Sài Gòn (chợ Lớn), Bến Nghé, Rạch Cát, Lò Rèn… Biên Hòa có 19 chợ: Đồng Nai, Bến Cá, Đồng Sử, chợ Lò, Bàn Lân, Dầu Miệt, Thủ Đức, chợ Đò, Bà Rịa, Tân Uyên, Lái Thiêu, chợ Búng, chợ Đồn, Lò sắt, Đồng Môn… Tuy nhiên, tác giả chưa đi sâu nghiên cứu đầy đủ diện mạo chợ từ các góc độ như: Cách thức mua bán, đặc trưng sản phẩm hàng hóa của từng chợ, chưa đánh giá vai trò của chợ đối với sự hình thành và phát triển vùng đất miền Đông Nam Bộ xưa và nay. Trong công trình “Tự vị tiếng nói miền Nam” (1999) của Vương Hồng Sển với độ dày 710 trang. Trong tác phẩm này, Vương Hồng Sển đi sâu nghiên cứu, điền dã, khảo cứu, so sánh, đối chiếu nhiều tên gọi địa danh. Với cách sắp xếp theo thứ tự a, b, c…nhiều địa danh chợ đã được tác giả lần lượt giải thích ngắn gọn, súc tích, dễ hiểu.
Địa phận tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu ngày nay, tác giả liệt kê sự hoạt động sơ lượt một số chợ [155; tr.127-128] năm 1939 có 15 chợ: Long Xuyên, chợ Dinh, chợ Thành, chợ Mới, chợ Bến, Bờ Đập, chợ Dốc, Lưới Rê. Địa bàn tỉnh Đồng Nai và huyện Tân Uyên (tỉnh Bình Dương) ngày nay, Vương Hồng Sển liệt kê các chợ [155; tr.