Khóa luận tốt nghiệp lịch sử tìm hiểu quan hệ nhật bản liên bang nga xung quanh vấn đề tranh chấp lãnh thổ bốn đảo kuril từ sau chiến tranh thế giới thứ hai đến nay 1945 2008

Luận văn tốt nghiệp nghiên cứu tốt nghiệp lịch sử tìm hiểu quan hệ nhật bản liên bang nga xung quanh vấn đề tranh chấp lãnh thổ, điều tra thực trạng, phân tích số liệu, đề xuất

Chuyên ngành

Lịch Sử

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2008

92
7
4

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN

NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG PHẢN BIỆN

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ LÃNH THỔ BỐN ĐẢO KURIL VÀ NGUỒN GỐC NẢY SINH TRANH CHẤP

1.1. Sơ lược đặc điểm địa lí và lịch sử

1.2. Tầm quan trọng của các đảo tranh chấp

1.3. Về phía Liên Xô cũ và Liên Bang Nga hiện nay

1.4. Nguồn gốc

2. CHƯƠNG 2: QUÁ TRÌNH GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP

2.1. Giai đoạn thập niên 50 và 60 của thế kỉ XX

2.2. Về phía Nhật Bản

2.3. Tiến trình và những nỗ lực đạt được trong đàm phán

2.4. Giai đoạn từ thập niên 1970 cho đến hết Chiến tranh lạnh

2.5. Những chuyển biến trong quan hệ Liên Xô-Nhật Bản và việc giải quyết tranh chấp từ 1970 đến hết Chiến tranh lạnh

2.6. Thời kì Liên Bang Nga (từ 1991 đến nay)

2.6.1. Những nhân tố ảnh hưởng đến tiến trình giải quyết

2.6.2. Tiến trình đàm phán và những bước tiến mới từ sau Chiến tranh lạnh cho tới nay (1991-2000)

2.6.2.1. Quần đảo Kuril trong quan hệ Liên Bang Nga-Nhật Bản thời Yeltsin
2.6.2.2. Quần đảo Kuril trong quan hệ Liên Bang Nga-Nhật Bản những năm sau

3. CHƯƠNG 3: NHỮNG TRIỂN VỌNG CHO MỘT GIẢI PHÁP CÙNG NHAU NHÂN NHƯỢNG

3.1. Cơ sở và lập trường của hai quốc gia trong quá trình giải quyết

3.1.1. Lập trường của Liên Xô cũ và Liên Bang Nga hiện nay

3.1.2. Lập trường của Nhật Bản

3.2. Lợi ích của Nhật Bản và Liên Bang Nga đối với giải pháp cho tranh chấp đảo Kuril

3.2.1. Đối với Nhật Bản

3.2.2. Đối với Liên Bang Nga

3.3. Giải pháp cho tranh chấp đảo Kuril: những trở ngại chính

3.4. Những thuận lợi và triển vọng giải quyết vấn đề quần đảo Kuril trong quan hệ Nhật Bản-Liên Bang Nga trong thời gian tới

PHỤ LỤC

TÀI LIỆU THAM KHẢO

MỞ ĐẦU

Tóm tắt

I. Tổng quan về quan hệ Nhật Bản Liên Bang Nga và tranh chấp lãnh thổ Kuril

Quan hệ giữa Nhật Bản và Liên Bang Nga đã trải qua nhiều thăng trầm, đặc biệt là vấn đề tranh chấp lãnh thổ bốn đảo Kuril. Từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai, mối quan hệ này luôn bị ảnh hưởng bởi những bất đồng về chủ quyền lãnh thổ. Tranh chấp này không chỉ là một vấn đề lịch sử mà còn là một thách thức lớn trong quan hệ quốc tế hiện đại.

1.1. Lịch sử hình thành tranh chấp lãnh thổ Kuril

Tranh chấp lãnh thổ Kuril bắt nguồn từ những biến động lịch sử phức tạp giữa Nhật Bản và Nga. Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, bốn đảo Kuril đã trở thành điểm nóng trong quan hệ hai nước, gây ra nhiều cuộc đàm phán không thành công.

1.2. Tầm quan trọng của quần đảo Kuril trong quan hệ quốc tế

Quần đảo Kuril không chỉ có giá trị chiến lược về quân sự mà còn là nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú. Điều này khiến cho vấn đề tranh chấp trở nên phức tạp hơn, ảnh hưởng đến an ninh khu vực Đông Bắc Á.

II. Những thách thức trong việc giải quyết tranh chấp lãnh thổ Kuril

Việc giải quyết tranh chấp lãnh thổ Kuril gặp nhiều khó khăn do những yếu tố lịch sử, chính trị và kinh tế. Cả Nhật Bản và Liên Bang Nga đều có lập trường cứng rắn về chủ quyền lãnh thổ, dẫn đến những trở ngại trong đàm phán.

2.1. Lập trường của Nhật Bản về quần đảo Kuril

Nhật Bản khẳng định chủ quyền đối với bốn đảo Kuril, coi đây là lãnh thổ phương Bắc của mình. Lập trường này được củng cố bởi các yếu tố lịch sử và văn hóa, khiến cho việc nhượng bộ trở nên khó khăn.

2.2. Lập trường của Liên Bang Nga về quần đảo Kuril

Liên Bang Nga xem quần đảo Kuril là một phần không thể tách rời của lãnh thổ quốc gia. Chính sách đối ngoại của Nga trong vấn đề này thường mang tính cứng rắn, không dễ dàng chấp nhận nhượng bộ.

III. Phương pháp giải quyết tranh chấp lãnh thổ Kuril hiệu quả

Để giải quyết tranh chấp lãnh thổ Kuril, cần có những phương pháp tiếp cận đa dạng và linh hoạt. Việc xây dựng lòng tin và hợp tác giữa hai nước là rất quan trọng.

3.1. Đàm phán ngoại giao và hợp tác kinh tế

Đàm phán ngoại giao là phương pháp chính để giải quyết tranh chấp. Hợp tác kinh tế có thể tạo ra động lực tích cực, giúp hai bên tìm ra giải pháp hợp lý cho vấn đề lãnh thổ.

3.2. Vai trò của cộng đồng quốc tế trong giải quyết tranh chấp

Cộng đồng quốc tế có thể đóng vai trò trung gian trong việc thúc đẩy đàm phán giữa Nhật Bản và Liên Bang Nga. Sự hỗ trợ từ các tổ chức quốc tế có thể giúp hai bên tìm ra giải pháp hòa bình.

IV. Ứng dụng thực tiễn từ nghiên cứu tranh chấp lãnh thổ Kuril

Nghiên cứu về tranh chấp lãnh thổ Kuril không chỉ mang lại hiểu biết về lịch sử mà còn có thể áp dụng vào các vấn đề hiện tại trong quan hệ quốc tế. Những bài học từ quá trình này có thể giúp các quốc gia khác trong việc giải quyết tranh chấp tương tự.

4.1. Bài học từ quan hệ Nhật Bản Liên Bang Nga

Quá trình giải quyết tranh chấp lãnh thổ giữa Nhật Bản và Liên Bang Nga cho thấy tầm quan trọng của việc duy trì đối thoại và hợp tác. Điều này có thể áp dụng cho các quốc gia khác đang đối mặt với tranh chấp lãnh thổ.

4.2. Tác động của tranh chấp lãnh thổ đến an ninh khu vực

Tranh chấp lãnh thổ Kuril ảnh hưởng đến an ninh khu vực Đông Bắc Á. Việc giải quyết thành công vấn đề này có thể tạo ra một môi trường hòa bình và ổn định hơn cho các quốc gia trong khu vực.

V. Kết luận và triển vọng tương lai của quan hệ Nhật Bản Liên Bang Nga

Mặc dù tranh chấp lãnh thổ Kuril vẫn còn tồn tại, nhưng triển vọng cho một giải pháp hòa bình vẫn có thể đạt được. Cần có sự nỗ lực từ cả hai bên để xây dựng lòng tin và tìm ra những giải pháp hợp lý.

5.1. Triển vọng hòa bình trong quan hệ Nhật Bản Liên Bang Nga

Triển vọng hòa bình trong quan hệ Nhật Bản - Liên Bang Nga phụ thuộc vào khả năng của cả hai bên trong việc nhượng bộ và tìm kiếm giải pháp hợp lý cho vấn đề lãnh thổ.

5.2. Tương lai của quần đảo Kuril trong bối cảnh quốc tế

Quần đảo Kuril sẽ tiếp tục là một vấn đề quan trọng trong quan hệ quốc tế. Sự thay đổi trong bối cảnh chính trị toàn cầu có thể ảnh hưởng đến cách thức giải quyết tranh chấp này.

09/07/2025
Khóa luận tốt nghiệp lịch sử tìm hiểu quan hệ nhật bản liên bang nga xung quanh vấn đề tranh chấp lãnh thổ bốn đảo kuril từ sau chiến tranh thế giới thứ hai đến nay 1945 2008

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TONG QUAN VỀ LÃNH THO BON ĐẢO KURIL VÀ NGUỒN GOC NAY SINH TRANH CHAP Tranh chấp lãnh thổ là vấn để tương đối phổ biến trong quan hệ giữa các nước. Đó không chỉ là điểm tối trong quan hệ song phương mà còn có thể là nguy cơ tiém ẩn gây mất ổn định an ninh khu vực, cũng như bùng nổ xung đột bất cứ lúc nào. Trong quan hệ giữa Nhật Bản và Liên Bang Xô Viết (nay là Liên Bang Nga), vấn để tranh chấp lãnh thổ tổn tại như một "cái dim” gây nhức nhối khó chịu, nó luôn là nhân tố chủ đạo chi phối quan hệ Xô - Nhật trước đây và Nga - Nhật hiện nay. Hơn sấu thập niên đã trôi qua kể từ khi Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, nhưng cho đến nay lãnh thổ bốn đảo cực Nam của quần đảo Kuril vẫn luôn là điểm “nóng”.

nó tựa như bức tường vô hình ngăn cản việc ký kết Hiệp định hoà bình giữa hai quốc gia cũng như mở rộng quan hệ ngoại giao hai bên.1 Sơ lược đặc điểm địa lí và lịch sử Lãnh thể mà Liên Bang Nga và Nhật Bản đang tranh chấp hiện nay là bốn hòn đảo cực Nam của quần đảo Kuril mà người Nhật quen gọi là “lãnh thổ phương Bắc", còn phía Nga gọi là quẩn đảo Kuril, Khu vực này nằm kéo dài khoảng 1200km bao gồm các hòn đảo lturup (Etorofu-6725km?), Kunashir (1500km?), Shikotan (182km”), và một số hòn đảo nhỏ khác được gọi với tên chung là Habomais: Zeliony (45km?), Polonski (20km), Lantilev (20km”), Yuri (10km”). Anuchina (Skm*) và một số mỏm đá — Shishki, Lisi, Demin, Signal. Tổng cộng bốn đảo và mỏm đá là 12 và tổng diện tích của chúng không quá 8600km” trong đó hai đảo phía trên là Iturup và Kunashir chiếm tới 90% Quần đảo Kuril gồm hơn 30 đảo lớn nhỏ chạy dài chừng 10.000km từ Nam bán đảo Kamtchatka của Liên Bang Nga cho tới gần bờ biển Hokkaido của Nhật Bản tạo thành một hành lang phân chia ranh giới giữa biển Okhotsk và Thái Bình Dương. Từ mỏm đá Shiusho thuộc nhóm đảo Habomais cách mũi Nasappy của SVTH: Pham Thi Vận -6- Khoá luận tốt nghiệp GVHD: TS Trịnh Tiến Thuận đảo Hokkaido chỉ có 5km.

Trên những đảo này hiện vẫn còn nhiều núi lửa đang hoạt động nên có nhiều suối nước nóng, có nhiều mỏ khoáng sản như sa khoáng, quặng sắt, đổng và vàng. Xung quanh đảo là các bãi cá tuyết cá hồi lớn với nguồn đánh bắt trị giá hàng tỉ USD mỗi năm, là một trong những bãi cá lớn nhất thế giới, Về mặt lãnh thổ, Nam Kuril thuộc vé những người thổ dan Ainu (hay còn gọi là Aina). Họ là những cư dân bản địa sinh sống ở đây từ thời xa xưa. Mặc dù nguồn gốc mơ hồ nhưng chắc hẳn họ đã di cư từ vùng Đông Bắc A tới và cách đây nhiều nghìn năm.

Những người này định cư rải rác xuống tận phía Nam, như là vùng đất Hokkaido. Các học giả đã đưa ra nhiều giả thuyết khác nhau về nguồn gốc của tộc người Ainu, tuy nhiên không có bằng chứng xác thực và môt lí thuyết đủ tin cậy về gốc tích của họ. Không còn người Ainu sống ở vùng đảo Kuril ngày nay nhưng có khoảng gần 3 vạn người Nhật được cho là hậu duệ của loc người này. Trở lại thời lịch sử trung đại, từ giữa thế ki XVI, nước Nga quân chủ dang trên đường phát triển, chế độ phong kiến chuyên chế ngày càng vững mạnh.

Đặc biệt dưới thời trị vì của hai vị Hoàng đế vi đại Piot 1 và Ekaterina Il vào thế ki XVIII, lãnh thổ của Nga không ngừng được mở rộng về mọi phía. Cho đến cuối thế kỉ XVIH, lãnh thổ của Nga đã kéo dài từ bờ biển Ban Tích ở phía Bắc cho tới biển Đen ở phía Nam, phía Tây của Nga bao gồm cả Látvia, Lítva ngày nay và trải rộng tới bờ Thái Bình Dương ở phía Đông. Nga trở thành cường quốc Biển Đen. Không dừng lại ở đó, các thương nhân và nhà thám hiểm Nga vẫn tiếp tục tìm kiếm những miền đất mới, đặc biệt là vùng Viễn Đông xa xôi đầy bí ẩn.

Những cuộc thám hiểm tìm vùng đất mới của người Nga đã diễn ra từ nửa đầu thế kỉ XVIL Năm 1648, người Nga dau tiên là Phê-đốt Põö-pốp đã tới Kamtchatka, nửa thế kỉ sau, năm 1697, một người Cô-dắc tên là V-la-di-mia At- la-xốp báo tin về các đảo Kuril. At-la-xốp viết rằng đứng ở đầu phía nam bán đảo Kamtchatka, ông “nhìn thấy ở trên biển dường như có các đảo "{29, 27}. Như vậy vào cuối thế ki XVII, người Nga đã phát hiện ra sự tổn tai của các hòn đảo SVTH: Phạm Thị Van -7- Khoá luận tốt nghiệp GVHD: TS Trịnh Tiến Thuận thuộc quần đảo Kuril. Tuy nhiên, họ cũng không phải là người đầu tiên biết điều đó.

Ngay từ năm 1635, nam Kuril đã được dưa lên bản đồ bởi võ sĩ đạo Sironori. Năm 1644 bản d6 được tặng cho triéu đại Tokogawa, do đó Nhật Ban đã biết về các đảo Kuril trước người Nga. Mặc dù vậy, lúc này nước Nhật đang thi hành chính sách biệt lập với thế giới bên ngoài (1639-1853) nên không quan tâm tới sự tổn tại của các hòn đảo rất gần với Hokkaido này|{ 10, 30]. Cũng trong khoảng thời gian đó (1643) thuyền trưởng người Hà Lan Martin Friz đã lập bản đổ Nam Kuril, và vì thế Hà Lan về hình thức coi chúng là của mình trong gần một thế ki (eo biển giữa Urup và Iturup giờ vẫn đang mang tên De Friz).

Tuy nhiên, Hà Lan không tiến hành khai thác các đảo này nên trong thực tế, cho đến đầu thế ki XVIII những người Ainu vẫn hoàn toàn làm chủ các hòn đảo của họ. Về phía người Nga, sau phát hiện mới của At-la-x6p, năm 1771, một đội Cô-dắc do Đa-ni-la An-txi-phe-rôp và I-van Cô-dư-rép-xki cẩm đầu đã tới hai hòn đảo phía Bắc ShumShu và Pa-ra-mu-sia của quần đảo Kuril lập “bản vẽ” (bản đổ) và mô tả các hòn đảo đó. Quần đảo có tên gọi là Kuril theo tiếng dân tộc Ainu là “người” (*Cu-ri-a"). Năm 1713, Cô-dư-rép-xki tiếp tục tiến theo hướng Nam và trên “ban vẽ” xuất hiện một chuỗi đảo (hiện nay một hòn đảo trong quẩn đảo Kuril mang tên nhà thám hiểm Át-la-xốp).

Năm 1720 theo lệnh của Piốt đại đế, hai nhà trắc địa Evan E-vre-i-nôp và Phê-đo Lu-gin đã tới đây để vẽ bản dé các đảo. Năm 1739, Mac-tun Span-be, đội trưởng một đội thám hiểm đã ghi lên bản đổ các đảo Kuril phía Nam và đặt tên cho quần đảo này. Cho đến năm 1745 ở Peterburg (thủ đô đế chế Nga khi đó) đã xuất hiện tập bản đổ viện Han lâm mà trên đó phan lớn các đảo Kuril đã được ghi tên trên bản 46 và mang tên gọi theo tiếng Nga. Về phía Nhật Bản, mặc dù đã biết có sự tổn tại của những đảo Nam Kuril nhưng chính phủ Tokugawa lại tỏ ra không quan tâm tới diéu đó.

Vì thế, suốt một thời gian dài những hòn đảo Hokkaido vẫn chỉ là những chấm nhỏ trên bản đổ của Hoàng gia mà không hé bị xâm lấn. Trong khoảng thời gian Nga tiến hành SVTH: Phạm Thị Van -§- Khoá luận tốt nghiệp GVHD: TS Trịnh TiếnThuận thám hiểm và vẽ bản đồ các hòn đảo Kuril thì những người Nhật ở lãnh địa của Lãnh chúa Matsumaie đã biết đến Kunasir. nhưng đến thế ki XVII họ vẫn không tim cách bành trướng sang hòn đảo này vì nước Nhật Bản phong kiến tuân thủ nghiêm ngặt nguyên tắc tự cô lập. Như vậy, cho đến cuối thế ki XVII, mặc dù đều biết về Nam Kuril nhưng cả người Nga và người Nhật đều tỏ ra không mấy chú ý đến các hòn đảo này, cả hai bên vẫn chưa tiến hành các biện pháp khai thác tài nguyên ở đây.

Sang đầu thế kỉ XIX, tình hình thay đổi hẳn khi người Nga bất đầu khai khẩn Bắc Kuril thì người Nhật cũng bắt đầu ddm ngó Nam Kuril. Theo một tài liệu từ phía Nga cho biết, ngay từ năm 1798 người Nhật đã tới hai đảo lturup va Kunasir, họ đã đuổi những người Nga sống trên đảo, thủ tiêu những cột mốc và những dấu vết chứng thực người Nga sống trên hòn đảo này. Sau đó người Nhật đơn phương công bố hai đảo Iturup và Kunasir là lãnh thé nước mình. Triểu đình Peterburg không coi những vụ rắc rối đó là chuyện quan trọng do một phẩn không đủ sức bảo vệ những vùng biên khu xa xôi như thế, phần khác là lúc này nước Nga đang tìm cách thiết lập quan hệ thương mại và ngoại giao với Nhật Bản.

Có lẽ vì thế nên trong “Ti điển Địa lí nhà nước Nga” in năm 1804 đã khẳng định chủ quyền của Nhật Bản đối với Nam Kuril: “Các hòn đảo phía Bắc (quần đảo Kuril) thuộc về Nga, còn các hòn đảo phía Nam thuộc về Nhật Ban"[34, 15]. Như thế vào những năm dau thế ki XIX, các hòn đảo phía Nam Kuril thực chất đã nằm dưới quyển kiểm soát của Nhật Bản, còn phía Bắc quần đảo thuộc quyển kiểm soát của người Nga. Tình hình cứ kéo dài như vậy cho tới giữa thế ki XIX, lúc này nước Nga đã là một quốc gia hùng mạnh ở châu Âu, muốn thiết lập quan hệ ngoại giao với những nước láng giểng xung quanh. Đồng thời cũng vào thời điểm này, sau hơn hai thế kỉ thực hiện chính sách biệt lập, năm 1854 Nhật Bản bãi bỏ lệnh đóng cửa do sức ép của phương Tây, mở cửa cho Mỹ vào buôn bán, sau đó là Anh và Pháp.

Điều này đã giúp Nga thực hiện được ý định của minh, Ngay trong năm 1854, một phái bộ Nga dau tiên đến Nhật Bản để bàn về biên giới và thiết lập quan hệ ngoại giao giữa hai nhà nước. Năm sau, Hiệp ước về thương mại, hàng hải và SVTH: Pham Thị Vin 9. Khoá luận tốt nghiệ GVHD: TS Trinh TiếnThuân phần định ranh giới (được gọi là Hiệp ước Shimoda) được ký kết giữa chính phú hai nước (tháng 2/1855). Đây được coi là hiệp định lãnh thổ đầu tiên giữa Nga và Nhật.

Nội dung của hiệp ước này cung cấp cơ sở cho một hiệp định về đường biên giới quốc gia giữa hai nước. Điều khoản thứ hai của hiệp định này tuyên bố rằng đường biên giới chung giữa Nga và Nhật Bản sẽ nam giữa các hòn đảo có tên [turup và Urup. Toàn bộ hòn đảo lturup sẽ thuộc Nhật Bản và các hòn đảo Kuril nằm dai tới hướng Bắc và bao gồm cả đảo Urup sẽ thuộc Nga. Liên quan tới đảo Sakhalin, lẻ ra hai bên cũng có một tuyên bố về đường biến giới chung, nhưng cả hai đều cho rằng nên chấp nhận các thực tế nguyên trạng do lịch sử lâu đời đã để lại ở hòn đảo này.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu này cung cấp cái nhìn tổng quan về quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học trong giáo dục, đặc biệt là ở cấp trung học cơ sở và phổ thông. Nó nhấn mạnh tầm quan trọng của việc phát triển năng lực nghiên cứu cho học sinh và giáo viên, từ đó nâng cao chất lượng giáo dục và khuyến khích sự sáng tạo trong học tập. Độc giả sẽ nhận thấy rằng việc quản lý hiệu quả các hoạt động nghiên cứu không chỉ giúp cải thiện kết quả học tập mà còn góp phần xây dựng thương hiệu cho các cơ sở giáo dục.

Để tìm hiểu sâu hơn về các khía cạnh liên quan, bạn có thể tham khảo các tài liệu sau: Luận văn thạc sĩ quản lý giáo dục quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của học sinh ở các trường trung học cơ sở huyện Chợ Lách tỉnh Bến Tre, nơi khám phá cách thức quản lý nghiên cứu khoa học cho học sinh. Bên cạnh đó, Luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của giáo viên các trường trung học phổ thông tỉnh An Giang sẽ cung cấp cái nhìn sâu sắc về vai trò của giáo viên trong việc thúc đẩy nghiên cứu khoa học. Cuối cùng, bạn cũng có thể tham khảo Luận án mối quan hệ giữa năng lực kết quả nghiên cứu khoa học của giảng viên và thương hiệu trường đại học trường hợp khảo sát ở thành phố Hồ Chí Minh để hiểu rõ hơn về mối liên hệ giữa năng lực nghiên cứu của giảng viên và thương hiệu của trường đại học. Những tài liệu này sẽ giúp bạn mở rộng kiến thức và có cái nhìn toàn diện hơn về lĩnh vực này.