CHƯƠNG 1 TONG QUAN VỀ LÃNH THO BON ĐẢO KURIL VÀ NGUỒN GOC NAY SINH TRANH CHAP Tranh chấp lãnh thổ là vấn để tương đối phổ biến trong quan hệ giữa các nước. Đó không chỉ là điểm tối trong quan hệ song phương mà còn có thể là nguy cơ tiém ẩn gây mất ổn định an ninh khu vực, cũng như bùng nổ xung đột bất cứ lúc nào. Trong quan hệ giữa Nhật Bản và Liên Bang Xô Viết (nay là Liên Bang Nga), vấn để tranh chấp lãnh thổ tổn tại như một "cái dim” gây nhức nhối khó chịu, nó luôn là nhân tố chủ đạo chi phối quan hệ Xô - Nhật trước đây và Nga - Nhật hiện nay. Hơn sấu thập niên đã trôi qua kể từ khi Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, nhưng cho đến nay lãnh thổ bốn đảo cực Nam của quần đảo Kuril vẫn luôn là điểm “nóng”.
nó tựa như bức tường vô hình ngăn cản việc ký kết Hiệp định hoà bình giữa hai quốc gia cũng như mở rộng quan hệ ngoại giao hai bên.1 Sơ lược đặc điểm địa lí và lịch sử Lãnh thể mà Liên Bang Nga và Nhật Bản đang tranh chấp hiện nay là bốn hòn đảo cực Nam của quần đảo Kuril mà người Nhật quen gọi là “lãnh thổ phương Bắc", còn phía Nga gọi là quẩn đảo Kuril, Khu vực này nằm kéo dài khoảng 1200km bao gồm các hòn đảo lturup (Etorofu-6725km?), Kunashir (1500km?), Shikotan (182km”), và một số hòn đảo nhỏ khác được gọi với tên chung là Habomais: Zeliony (45km?), Polonski (20km), Lantilev (20km”), Yuri (10km”). Anuchina (Skm*) và một số mỏm đá — Shishki, Lisi, Demin, Signal. Tổng cộng bốn đảo và mỏm đá là 12 và tổng diện tích của chúng không quá 8600km” trong đó hai đảo phía trên là Iturup và Kunashir chiếm tới 90% Quần đảo Kuril gồm hơn 30 đảo lớn nhỏ chạy dài chừng 10.000km từ Nam bán đảo Kamtchatka của Liên Bang Nga cho tới gần bờ biển Hokkaido của Nhật Bản tạo thành một hành lang phân chia ranh giới giữa biển Okhotsk và Thái Bình Dương. Từ mỏm đá Shiusho thuộc nhóm đảo Habomais cách mũi Nasappy của SVTH: Pham Thi Vận -6- Khoá luận tốt nghiệp GVHD: TS Trịnh Tiến Thuận đảo Hokkaido chỉ có 5km.
Trên những đảo này hiện vẫn còn nhiều núi lửa đang hoạt động nên có nhiều suối nước nóng, có nhiều mỏ khoáng sản như sa khoáng, quặng sắt, đổng và vàng. Xung quanh đảo là các bãi cá tuyết cá hồi lớn với nguồn đánh bắt trị giá hàng tỉ USD mỗi năm, là một trong những bãi cá lớn nhất thế giới, Về mặt lãnh thổ, Nam Kuril thuộc vé những người thổ dan Ainu (hay còn gọi là Aina). Họ là những cư dân bản địa sinh sống ở đây từ thời xa xưa. Mặc dù nguồn gốc mơ hồ nhưng chắc hẳn họ đã di cư từ vùng Đông Bắc A tới và cách đây nhiều nghìn năm.
Những người này định cư rải rác xuống tận phía Nam, như là vùng đất Hokkaido. Các học giả đã đưa ra nhiều giả thuyết khác nhau về nguồn gốc của tộc người Ainu, tuy nhiên không có bằng chứng xác thực và môt lí thuyết đủ tin cậy về gốc tích của họ. Không còn người Ainu sống ở vùng đảo Kuril ngày nay nhưng có khoảng gần 3 vạn người Nhật được cho là hậu duệ của loc người này. Trở lại thời lịch sử trung đại, từ giữa thế ki XVI, nước Nga quân chủ dang trên đường phát triển, chế độ phong kiến chuyên chế ngày càng vững mạnh.
Đặc biệt dưới thời trị vì của hai vị Hoàng đế vi đại Piot 1 và Ekaterina Il vào thế ki XVIII, lãnh thổ của Nga không ngừng được mở rộng về mọi phía. Cho đến cuối thế kỉ XVIH, lãnh thổ của Nga đã kéo dài từ bờ biển Ban Tích ở phía Bắc cho tới biển Đen ở phía Nam, phía Tây của Nga bao gồm cả Látvia, Lítva ngày nay và trải rộng tới bờ Thái Bình Dương ở phía Đông. Nga trở thành cường quốc Biển Đen. Không dừng lại ở đó, các thương nhân và nhà thám hiểm Nga vẫn tiếp tục tìm kiếm những miền đất mới, đặc biệt là vùng Viễn Đông xa xôi đầy bí ẩn.
Những cuộc thám hiểm tìm vùng đất mới của người Nga đã diễn ra từ nửa đầu thế kỉ XVIL Năm 1648, người Nga dau tiên là Phê-đốt Põö-pốp đã tới Kamtchatka, nửa thế kỉ sau, năm 1697, một người Cô-dắc tên là V-la-di-mia At- la-xốp báo tin về các đảo Kuril. At-la-xốp viết rằng đứng ở đầu phía nam bán đảo Kamtchatka, ông “nhìn thấy ở trên biển dường như có các đảo "{29, 27}. Như vậy vào cuối thế ki XVII, người Nga đã phát hiện ra sự tổn tai của các hòn đảo SVTH: Phạm Thị Van -7- Khoá luận tốt nghiệp GVHD: TS Trịnh Tiến Thuận thuộc quần đảo Kuril. Tuy nhiên, họ cũng không phải là người đầu tiên biết điều đó.
Ngay từ năm 1635, nam Kuril đã được dưa lên bản đồ bởi võ sĩ đạo Sironori. Năm 1644 bản d6 được tặng cho triéu đại Tokogawa, do đó Nhật Ban đã biết về các đảo Kuril trước người Nga. Mặc dù vậy, lúc này nước Nhật đang thi hành chính sách biệt lập với thế giới bên ngoài (1639-1853) nên không quan tâm tới sự tổn tại của các hòn đảo rất gần với Hokkaido này|{ 10, 30]. Cũng trong khoảng thời gian đó (1643) thuyền trưởng người Hà Lan Martin Friz đã lập bản đổ Nam Kuril, và vì thế Hà Lan về hình thức coi chúng là của mình trong gần một thế ki (eo biển giữa Urup và Iturup giờ vẫn đang mang tên De Friz).
Tuy nhiên, Hà Lan không tiến hành khai thác các đảo này nên trong thực tế, cho đến đầu thế ki XVIII những người Ainu vẫn hoàn toàn làm chủ các hòn đảo của họ. Về phía người Nga, sau phát hiện mới của At-la-x6p, năm 1771, một đội Cô-dắc do Đa-ni-la An-txi-phe-rôp và I-van Cô-dư-rép-xki cẩm đầu đã tới hai hòn đảo phía Bắc ShumShu và Pa-ra-mu-sia của quần đảo Kuril lập “bản vẽ” (bản đổ) và mô tả các hòn đảo đó. Quần đảo có tên gọi là Kuril theo tiếng dân tộc Ainu là “người” (*Cu-ri-a"). Năm 1713, Cô-dư-rép-xki tiếp tục tiến theo hướng Nam và trên “ban vẽ” xuất hiện một chuỗi đảo (hiện nay một hòn đảo trong quẩn đảo Kuril mang tên nhà thám hiểm Át-la-xốp).
Năm 1720 theo lệnh của Piốt đại đế, hai nhà trắc địa Evan E-vre-i-nôp và Phê-đo Lu-gin đã tới đây để vẽ bản dé các đảo. Năm 1739, Mac-tun Span-be, đội trưởng một đội thám hiểm đã ghi lên bản đổ các đảo Kuril phía Nam và đặt tên cho quần đảo này. Cho đến năm 1745 ở Peterburg (thủ đô đế chế Nga khi đó) đã xuất hiện tập bản đổ viện Han lâm mà trên đó phan lớn các đảo Kuril đã được ghi tên trên bản 46 và mang tên gọi theo tiếng Nga. Về phía Nhật Bản, mặc dù đã biết có sự tổn tại của những đảo Nam Kuril nhưng chính phủ Tokugawa lại tỏ ra không quan tâm tới diéu đó.
Vì thế, suốt một thời gian dài những hòn đảo Hokkaido vẫn chỉ là những chấm nhỏ trên bản đổ của Hoàng gia mà không hé bị xâm lấn. Trong khoảng thời gian Nga tiến hành SVTH: Phạm Thị Van -§- Khoá luận tốt nghiệp GVHD: TS Trịnh TiếnThuận thám hiểm và vẽ bản đồ các hòn đảo Kuril thì những người Nhật ở lãnh địa của Lãnh chúa Matsumaie đã biết đến Kunasir. nhưng đến thế ki XVII họ vẫn không tim cách bành trướng sang hòn đảo này vì nước Nhật Bản phong kiến tuân thủ nghiêm ngặt nguyên tắc tự cô lập. Như vậy, cho đến cuối thế ki XVII, mặc dù đều biết về Nam Kuril nhưng cả người Nga và người Nhật đều tỏ ra không mấy chú ý đến các hòn đảo này, cả hai bên vẫn chưa tiến hành các biện pháp khai thác tài nguyên ở đây.
Sang đầu thế kỉ XIX, tình hình thay đổi hẳn khi người Nga bất đầu khai khẩn Bắc Kuril thì người Nhật cũng bắt đầu ddm ngó Nam Kuril. Theo một tài liệu từ phía Nga cho biết, ngay từ năm 1798 người Nhật đã tới hai đảo lturup va Kunasir, họ đã đuổi những người Nga sống trên đảo, thủ tiêu những cột mốc và những dấu vết chứng thực người Nga sống trên hòn đảo này. Sau đó người Nhật đơn phương công bố hai đảo Iturup và Kunasir là lãnh thé nước mình. Triểu đình Peterburg không coi những vụ rắc rối đó là chuyện quan trọng do một phẩn không đủ sức bảo vệ những vùng biên khu xa xôi như thế, phần khác là lúc này nước Nga đang tìm cách thiết lập quan hệ thương mại và ngoại giao với Nhật Bản.
Có lẽ vì thế nên trong “Ti điển Địa lí nhà nước Nga” in năm 1804 đã khẳng định chủ quyền của Nhật Bản đối với Nam Kuril: “Các hòn đảo phía Bắc (quần đảo Kuril) thuộc về Nga, còn các hòn đảo phía Nam thuộc về Nhật Ban"[34, 15]. Như thế vào những năm dau thế ki XIX, các hòn đảo phía Nam Kuril thực chất đã nằm dưới quyển kiểm soát của Nhật Bản, còn phía Bắc quần đảo thuộc quyển kiểm soát của người Nga. Tình hình cứ kéo dài như vậy cho tới giữa thế ki XIX, lúc này nước Nga đã là một quốc gia hùng mạnh ở châu Âu, muốn thiết lập quan hệ ngoại giao với những nước láng giểng xung quanh. Đồng thời cũng vào thời điểm này, sau hơn hai thế kỉ thực hiện chính sách biệt lập, năm 1854 Nhật Bản bãi bỏ lệnh đóng cửa do sức ép của phương Tây, mở cửa cho Mỹ vào buôn bán, sau đó là Anh và Pháp.
Điều này đã giúp Nga thực hiện được ý định của minh, Ngay trong năm 1854, một phái bộ Nga dau tiên đến Nhật Bản để bàn về biên giới và thiết lập quan hệ ngoại giao giữa hai nhà nước. Năm sau, Hiệp ước về thương mại, hàng hải và SVTH: Pham Thị Vin 9. Khoá luận tốt nghiệ GVHD: TS Trinh TiếnThuân phần định ranh giới (được gọi là Hiệp ước Shimoda) được ký kết giữa chính phú hai nước (tháng 2/1855). Đây được coi là hiệp định lãnh thổ đầu tiên giữa Nga và Nhật.
Nội dung của hiệp ước này cung cấp cơ sở cho một hiệp định về đường biên giới quốc gia giữa hai nước. Điều khoản thứ hai của hiệp định này tuyên bố rằng đường biên giới chung giữa Nga và Nhật Bản sẽ nam giữa các hòn đảo có tên [turup và Urup. Toàn bộ hòn đảo lturup sẽ thuộc Nhật Bản và các hòn đảo Kuril nằm dai tới hướng Bắc và bao gồm cả đảo Urup sẽ thuộc Nga. Liên quan tới đảo Sakhalin, lẻ ra hai bên cũng có một tuyên bố về đường biến giới chung, nhưng cả hai đều cho rằng nên chấp nhận các thực tế nguyên trạng do lịch sử lâu đời đã để lại ở hòn đảo này.