Chương 1 còn dé cập đến các vấn dé của xã hội Nhật Bản giai đoạn hậu chiến như một tiên dé cho các yếu tố “căn tinh” và “bạo luc” được bộc lộ. Đồng thời, chương này còn dành một phan dé đánh giá về vai trò. vị trí của Ryu Murakami trong dòng chảy văn học Nhật Bản qua những đặc điểm sáng tác truyền thống trong văn học Nhật và cả những nét đột phá so với những tác giả trước, sau và cùng thời. CĂN TÍNH NHẬT BẢN THỜI HẬU CHIEN TRONG TIỂU THUYET RYU MURAKAMI Giai đoạn hậu chiến là giai đoạn Nhật Ban có sự thay đổi mạnh mẽ ở nhiều phương điện, từ kinh tế, chính trị đến giáo dục, xã hội.
Không những vậy, sự xâm nhập của văn hoá Phương Tây cũng là một trong những nguyên nhân đây dân tộc Nhật Bản đứng trước những thách thức mới, nôi bật trong số đó là việc gìn giữ căn tính truyền thông của dân tộc. Trong hành trình tìm lại và bảo vệ căn tính ay trước những yếu tổ ngoại lai, con người dần trở nên cô don, lac long, bat định và đôi lúc là bức boi đến cùng cực. Chính những nguyên nhân này đã góp phần hình thành cũng như định hình lại căn tinh cá nhân và căn tinh dân tộc trong mỗi con người. Đây chính là van đẻ nôi bật trong tiêu thuyết của Ryu Murakami và đồng thời cũng 1a nội dung trọng tâm ma Chương 2 tiễn hành nghiên cứu.
BẠO LỰC TRONG MÓI LIÊN HỆ VỚI CĂN TÍNH TRONG TIỂU THUYET RYU MURAKAMI O Chương 3, người viết tiền hành phân tích mối liên hệ hai chiều giữa “can tinh” và “bao lực”, Cụ thé, bao lực được hình thành dựa trên sự giản lược hoá căn tính từ góc nhìn cá nhân và tập thé. Chính điều này đã hạn chế lựa chọn và cách nhìn nhận vẻ đối phương của mỗi cá nhân và từ đó, bạo lực xuất hiện như một sự phản kháng chống lại những khác biệt. Thứ đến, bao lực còn là phương thức con người dùng dé tìm kiếm lại căn tinh của chính mình. Trong tiểu thuyết của Ryu Murakami, có day ray những nhân vật bắt đầu cuộc đời của mình bằng bạo lực, sau quá trình kiếm tìm và định hình căn tính, những nhân vật ấy lại một lần nữa chọn bạo lực như cách để giải thoát bản thân.
Đây chính là những điềm đột phá trong các sáng tác của Ryu mà thông qua Chương 3, người viết sẽ tiền hành phân tích làm rõ. MỘT SO VAN DE CHUNG 1. Về “căn tinh” và “bạo lực” 1. Khái niệm Căn tính từ lâu đã trở thành một trong những vẫn đề trung tâm trong lịch sử phát triển tư tưởng, nhận thức của loài người.
Từ câu cách ngôn của người Hy Lạp cô đại: hãy tự biết mình (know thyself) được khắc trong tiền cảnh của Đền thờ Apollo ở Delphi cho đến những lý thuyết nghiên cứu về bản ngã con người của Pltarch, Socrate, Plato. thì van dé căn tính con người đều được nhìn nhận và nhắc đến theo những kiến giải riêng. Do đó mà thuật ngữ này được sử dụng đẻ diễn tả những sự giống như nhau, giỗng hệt nhau như là một. Cụ thé hơn, căn tính có nghĩa là “sự giống nhau của một người hay một vật tại mọi thời điểm, trong mọi hoàn cảnh rằng nó là chính nó chứ không phải là một điều gì khác"Š.
Trimble, Ryan Dickson, tr. 1) Khái niệm căn tinh ra đời khi con người bắt đầu quan tâm đến ý nghĩa triết học về sự tồn tại của chính mình. Stets va Peter J. 5), cốt lõi của căn tính là việc phân loại ban thân như là người đóng một vai trò nào đó, kết hợp vào ban thân những ý nghĩa, kỳ vọng liên quan đến vai trò và kết quả của vai trò đó.
Chính những kỳ vọng và ý nghĩa khi cá nhân đóng một vai trò mà chính họ phân loại này sẽ tạo ra các tiêu chuẩn hướng dẫn hành vi. Như vậy, căn tính con người là một tập hợp các ý nghia (meanings) gắn liền với vai trò mà cá nhân chiếm giữ trong cau trúc xã hội (căn tinh vai — role identity), với các nhóm mà cá nhân xác định bản thân thuộc về (cắn tinh nhóm — group identity) và những đặc điểm riêng, nôi bật của cá nhân đó (căn tính cá nhân — personal identity). Không chỉ các triết gia, học giả, nhà khoa học mà ngay cả những chính trị gia. nhà than học, nghệ sĩ cũng đều đi tìm câu trả lời cho van dé vé căn tính.
Trong mỗi lĩnh vực, căn tính được nhìn nhận dưới nhiều góc độ khác nhau, trong những phạm vi khác nhau và do đó, có nhiều kết quả khác nhau. Mặc dù các giả thuyết được đưa ra rất đa dạng và đôi khi có mẫu thuẫn, song tất cả đều nhằm trả lời cho câu hỏi: “Tôi là ai?”, “khi nao thì 5 “TJie sameness of a person or thing at all times in all circumstances; the condition or fact that a person or thing is itself and not something else”. 16 tôi là chính tôi", "giữa các phan: cơ thé, suy nghĩ, hành động và cảm nhận. phần nào mới chính 1a tôi?” và “điều gì đã khiến tôi giống với tôi của trước đó và sau d6?”.
Đây 1a những câu hỏi minh hoạ nền tảng cho van đề Sự liên tực của căn tính (persistence of identity) mà triết học đã từng dé cập: “Lam sao từng bộ phận của một cái gì đó được thay thé mà nó vẫn là chủ thé ban đầu?”. Con người là tập hợp của những phan không ngừng thay đi theo thời gian. Chúng ta phát triển về cả mặt thẻ chất và tinh than. “T6i” của ngày hôm nay chắc chắn đã thay đỏi rat nhiều so với "tôi" của lúc mới chỉ 3 tháng tuôi.
Vậy hai chủ thé “tdi” đó là một hay là hai chủ thê khác nhau? Dé trả lời cho câu hỏi trên, những nhà nghiên cứu theo trường phái Ly thuyết về sự liên tực của cơ thé (Bodily continuity/ body theory) lập luận rang cá nhân ở thời điểm (a) giống với cá nhân đó ở thời điểm (b) khi và chỉ khi cá nhân đó không có sự thay đôi về mặt cơ the. Như vậy, theo lí thuyết nay, cơ thé là yếu tố hình thành và duy trì nên căn tính khi cho răng căn tính đó không thay đôi và sẽ tôn tại theo thời gian vì cá nhân vẫn ở trong cùng một cơ thê từ khi sinh ra đến lúc chết đi. Tuy nhiên, lập luận này cũng vấp phải nhiều tranh cãi vì nó chỉ quan tâm đến sự liên tục vé mat thé chất của các bộ phận cụ thể trong cơ thể mà không chú ý đến những thay đổi bên trong của con người và tác động từ bên ngoài của môi trường. Lý thuyết về sự liên tục của tâm lý ( Psychological continuity) / Lý thuyết kí ức và căn tính cá nhân (Memory theory) bắt nguồn từ công trình của John Locke ® cũng đưa ra dé xuất riêng cho rằng điều khiến chúng ta là chính chúng ta chính là phan phi vật chat của mỗi cá nhân, cụ thé hơn 1a phan ý thức của con người.
Điều đó có nghĩa 1a một người tại hai thời điểm sẽ là tương đồng nếu cá nhân vẫn có thể nhớ được những gì đã làm tại một thời điểm nao đó. theo lý thuyết nay, sở di căn tính của con người tôn tại được theo thời gian bởi vì chúng ta có thé nhớ được những kí ức của mình trong các tình huống khác nhau và những kí ức này có sự liên kết với những kí ức trước đó — chúng ta được liên kết với chúng ta của trước kia bởi cùng một bộ nhớ. Ngoài ra, John Locke cũng cho rằng chỉ có chính bản cá nhân mới là người đã sống qua những kí ức này nên có thé xem đây là đặc trưng riêng va từ đó, tạo thành căn tính. Tranh cãi xảy ra với lý thuyết này bởi nếu căn tính đòi hỏi sự hồi tưởng thì sẽ không có ai trong chúng ta là chúng ta của hiện tại cho đến khi chúng ta nhớ lại được kí ức đầu tiên của chính mình ~ ngày mà ban thân được sinh ra.
Sự kiện nay đường như là bat khả trì bởi lẻ trước năm *Là một bắc sĩ, nhà triết học, nhà hoạt động chính trị người Anh thé ki 17. 17 ba tuôi, bộ não của con người vẫn chưa được phát triên day đủ đề có thé tạo thành kí ức !%. Bên cạnh đó, trí nhớ của con người vốn hữu han, có khả năng mắc các bệnh liên quan đến việc suy giảm trí nhớ hoặc cho đù có nhớ được thì cũng không tránh khỏi nguy cơ kí ức đó đã bị sai lệch. Dù cho lý thuyết về tâm lý có phân thuyết phục hơn lý thuyết về cơ thê bởi vì phan ý thức của con người van hoạt động dù cơ thé thay đổi, tuy nhiên, ki ức vẫn là một thành tố quá mỏng manh, không đủ dé cấu thành căn tính.
Thông qua những tranh luận từ hai lý thuyết trên có thé thay rang, căn tính được hình thành không phải chi dựa vào ban chất của mỗi con người mà trên thực tẾ, còn chịu tác động từ xã hội. Nó là “mot dữ kiện chi môi liên hệ giữa một cá nhân với cuộc đời và the giới" (Anh Ð., 2015), cũng 1a kết qua của một quá trình va chạm giữa cá nhân này với cá nhân khác và với môi trường sống nói chung. Chính vì thé, dựa trên những quan điểm lý thuyết về căn tính, có thể nhận thấy hai hướng nghiên cứu chính: (1) căn tính cá nhân — xem xét con người với tư cách là một cá nhân với những đặc trưng riêng độc đáo và (2) căn tính xã hội — xem xét con người là thành viên của một nhóm xã hội cùng có các đặc điểm chung. Căn tính ca nhân Bài báo Cán tính cá nhân (Personal Identity) (Stanford, 2019) định nghĩa căn tính cá nhân theo cách hiệu thông thường là những thuộc tính mà chúng ta sở hữu.
Theo đó, căn tinh cá nhân sẽ bao gồm những thuộc tính nhằm "xác định cá nhân đó như lả một người" hoặc “khiến người đó trở thành người mà họ hiện là” và phân biệt cá nhân này với những cá nhân khác!!. Tuy nhiên cách định nghĩa này là chưa day đủ vì vẫn chưa có một ranh giới cụ thé nào dé phân tach căn tinh cá nhân va căn tinh xã hội. Đặc điểm lớn nhất dé phân biệt hai loại căn tính này chính là tính độc đáo, riêng biệt: “Can tính cá nhân là những gì có ý nghĩa hoặc đặc điểm đại diện cho một người là cá nhân duy nhất" (Phan Thị Mai Hương. Lã Thị Thu Thuỷ.