Tiểu Thuyết Lịch Sử Việt Nam Sau Năm 1986 Dưới Góc Nhìn Tự Sự Học

Tài liệu nghiên cứu Tiểu thuyết lịch sử việt nam sau năm 1986 dưới góc nhìn tự sự học, tổng hợp lý thuyết và thực hành, cung cấp kiến thức chuyên sâu về .

Trường đại học

Học viện Khoa học xã hội

Chuyên ngành

Lí luận văn học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2014

238
2
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT ĐƯỢC SỬ DỤNG TRONG LUẬN ÁN

MỞ ĐẦU

0.1. Lí do chọn đề tài

0.2. Cơ sở lí thuyết và phương pháp nghiên cứu

0.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

0.4. Đóng góp của luận án

0.5. Cấu trúc của luận án

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

1.1. Tình hình nghiên cứu và vận dụng lí thuyết tự sự học

1.2. Khái lược diễn trình và thành tựu nghiên cứu tự sự học trên thế giới

1.3. Quá trình vận dụng lí thuyết tự sự học vào nghiên cứu văn học Việt Nam

1.4. Những công trình nghiên cứu về thể tài tiểu thuyết lịch sử và tiểu thuyết lịch sử Việt Nam sau năm 1986

1.5. Những công trình nghiên cứu về đặc trưng thể tài tiểu thuyết lịch sử

1.6. Những công trình nghiên cứu về tiểu thuyết lịch sử Việt Nam sau năm 1986

1.7. Những công trình vận dụng lí thuyết tự sự học nghiên cứu tiểu thuyết lịch sử Việt Nam sau 1986

2. CHƯƠNG 2: NGƯỜI KỂ CHUYỆN VÀ ĐIỂM NHÌN TỰ SỰ TRONG TIỂU THUYẾT LỊCH SỬ VIỆT NAM SAU NĂM 1986

2.1. Sự độc đáo của người kể chuyện trong tiểu thuyết lịch sử Việt Nam sau năm 1986

2.2. Một vài giới thuyết về người kể chuyện và các loại hình người kể chuyện trong văn xuôi tự sự

2.3. Đổi mới hình thức kể chuyện từ ngôi thứ ba

2.4. Thể nghiệm hình thức kể chuyện từ ngôi thứ nhất

2.5. Sự đa dạng hóa điểm nhìn tự sự trong tiểu thuyết lịch sử Việt Nam sau năm 1986

2.6. Một số vấn đề về điểm nhìn và các loại hình điểm nhìn trong văn xuôi tự sự

2.7. Điểm nhìn phức hợp của hình thức tự sự từ ngôi thứ ba

2.8. Điểm nhìn đơn tuyến và đa tuyến của hình thức tự sự từ ngôi thứ nhất

3. CHƯƠNG 3: NGHỆ THUẬT TỔ CHỨC THỜI GIAN VÀ KẾT CẤU TỰ SỰ TRONG TIỂU THUYẾT LỊCH SỬ VIỆT NAM SAU NĂM 1986

3.1. Nghệ thuật tổ chức thời gian trong tiểu thuyết lịch sử Việt Nam sau năm 1986

3.2. Vấn đề thời gian nhìn từ lí thuyết tự sự học và trong thể tài tiểu thuyết lịch sử

3.3. Phá vỡ trật tự thời gian tuyến tính bằng hình thức đảo thuật và dự thuật

3.4. Tạo dựng nhịp độ thời gian bằng hình thức đoạn ngưng

3.5. Nghệ thuật tổ chức kết cấu trong tiểu thuyết lịch sử Việt Nam sau năm 1986

3.6. Kết cấu “khung”

3.7. Kết cấu lắp ghép, đồng hiện, đa tầng bậc

3.8. Sự dung hợp thể loại và loại hình nghệ thuật

4. CHƯƠNG 4: DIỄN NGÔN TỰ SỰ TRONG TIỂU THUYẾT LỊCH SỬ VIỆT NAM SAU NĂM 1986

4.1. Quan niệm về diễn ngôn và diễn ngôn trong lịch sử

4.2. Quan niệm mới về lịch sử và diễn ngôn trong lịch sử

4.3. Diễn ngôn và một số hướng tiếp cận diễn ngôn cơ bản

4.4. Diễn ngôn người kể chuyện trong tiểu thuyết lịch sử Việt Nam sau năm 1986

4.5. Thành phần thuật chuyện

4.6. Thành phần miêu tả

4.7. Thành phần bình luận, đánh giá

4.8. Diễn ngôn nhân vật trong tiểu thuyết lịch sử Việt Nam sau năm 1986

4.9. Ngôn ngữ đối thoại

4.10. Ngôn ngữ độc thoại nội tâm

4.11. Cách thức tổ chức diễn ngôn tự sự trong tiểu thuyết lịch sử Việt Nam sau năm 1986

4.12. Đan cài đối thoại của nhân vật trong lời người kể chuyện

4.13. Gia tăng lời gián tiếp tự do

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

DANH MỤC TIỂU THUYẾT LỊCH SỬ VIỆT NAM SAU NĂM 1986 ĐƯỢC KHẢO SÁT TRONG ĐỀ TÀI

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng Quan Nghiên Cứu Tiểu Thuyết Lịch Sử Sau 1986

Nghiên cứu tiểu thuyết lịch sử Việt Nam sau năm 1986 dưới góc nhìn tự sự học là một lĩnh vực đầy tiềm năng. Tự sự học (Narratology) là một ngành nghiên cứu còn khá non trẻ so với nhiều lí thuyết văn học khác. Mặc dù khái niệm tự sự đã tồn tại rất lâu trong đời sống tinh thần nhân loại, song tự sự học xuất hiện như một phân môn nghiên cứu khoa học thì chính thức hình thành ở Pháp vào những năm 60 - 70 của thế kỉ XX. Lần đầu tiên khái niệm Narratologie được nhắc đến trong công trình Grammaire du Décaméron (Ngữ pháp Truyện mười ngày) của Tzvetan Todorov vào năm 1969. Một trong những đóng góp lớn của Todorov qua công trình này là ông đã đề xướng thuật ngữ Narratologie, một khoa học nghiên cứu tự sự, khoa học của truyện kể, là lí thuyết môn học cho đến lúc bấy giờ chưa hề có, một lí thuyết đúng nghĩa chứ không phải chỉ thuần túy kinh nghiệm. Sau khi được định hình ở Pháp, tự sự học đã nhanh chóng vượt qua biên giới, trở thành một trong những lĩnh vực học thuật được phổ biến quan tâm trên toàn thế giới.

1.1. Lịch Sử Phát Triển Tự Sự Học Trên Thế Giới

Sau khi được định hình ở Pháp, tự sự học đã nhanh chóng vượt qua biên giới, trở thành một trong những lĩnh vực học thuật được phổ biến quan tâm trên toàn thế giới. Khi chủ nghĩa giải cấu trúc ra đời, một số người vội vàng dự báo, tự sự học với tư cách là một phân nhánh của chủ nghĩa cấu trúc sớm muộn cũng có hồi kết. Thế nhưng, đến những năm 80 - 90 của thế kỷ XX, tự sự học vẫn giữ được niềm hứng thú, còn nguyên (thậm chí là gia tăng) sức hấp dẫn, và theo nhận định của một số học giả Mĩ, nó còn được “Phục hưng” và trung tâm nghiên cứu của nó đã vượt qua biên giới từ Pháp chuyển sang Mĩ. Hàng loạt các nhà nghiên cứu đã thành danh với nhiều công trình có giá trị, mở ra khuynh hướng mới giàu tiềm năng không chỉ đối với văn học nghệ thuật mà còn cho nhiều ngành khoa học xã hội khác.

1.2. Ứng Dụng Tự Sự Học Vào Nghiên Cứu Văn Học Việt Nam

Từ khi được giới thiệu vào Việt Nam, tự sự học đã được hưởng ứng rộng rãi của giới nghiên cứu, đặc biệt ở các trường đại học và viện nghiên cứu. Nhờ vai trò quan trọng trong việc giải mã văn chương dưới một hệ hình mới, tự sự học trở thành ngành nghiên cứu hứa hẹn những thành tựu lớn lao trong việc khám phá tầng sâu cấu trúc văn bản truyện kể. Nhiều công trình đã dành sự quan tâm đặc biệt đến lí thuyết tự sự học bằng việc dịch, giới thiệu những gương mặt ưu tú cùng hệ thống lí thuyết của các trường phái tự sự học Pháp, Nga, Anh, Mĩ, Đức, Trung Quốc… Đặc biệt xuất hiện ngày càng nhiều công trình ứng dụng lí thuyết vào thực tiễn văn học Việt Nam và thế giới.

II. Đổi Mới Tiểu Thuyết Lịch Sử Việt Nam Sau 1986

Tiểu thuyết lịch sử đã xuất hiện từ lâu trong văn học Việt Nam. Cùng những thăng trầm, biến động của dân tộc, thể tài này đã dần khẳng định được sứ mệnh cao cả, ý nghĩa lớn lao không chỉ trong đời sống văn học mà cả đời sống tinh thần người Việt. Với nhu cầu, thực tiễn ở mỗi thời kì khác nhau, tiểu thuyết lịch sử có khi trở thành một trong những thể loại chủ lưu, có lúc lại đánh mất vị thế, thậm chí không ít lần vắng mặt trên văn đàn và trong đời sống văn học nước nhà. Nhìn lại quá trình phát triển, tiểu thuyết lịch sử Việt Nam từ đầu thế kỉ XX đến nay trải qua ba chặng chính: (1) từ đầu thế kỉ đến năm 1945, (2) từ năm 1945 đến năm 1986, (3) từ năm 1986 đến nay.

2.1. Giai Đoạn Phát Triển Tiểu Thuyết Lịch Sử Trước 1986

Với cảm thức chiêm bái, ngưỡng vọng, phần lớn các nhà văn giai đoạn trước năm 1986 đều khai thác lịch sử theo hướng mô tả, minh họa chính sử, phù hợp với kinh nghiệm cộng đồng và tinh thần dân tộc. Mang sứ mệnh tôn vinh truyền thống yêu nước, chống ngoại xâm với những tấm gương anh hùng, danh nhân hào kiệt, tiểu thuyết lịch sử đậm chất kí sự lịch sử mà nhạt chất tiểu thuyết.

2.2. Bối Cảnh Đổi Mới Văn Học Việt Nam Sau 1986

Sau năm 1986, văn học nói chung và tiểu thuyết lịch sử nói riêng có sự vận động và đổi mới trong điều kiện hoàn toàn khác biệt so với những năm tháng đất nước còn chiến tranh. Đời sống văn học nước nhà vận động, phát triển dưới tác động của hàng loạt nhân tố mang tính thời đại như ảnh hưởng của nền kinh tế thị trường, bùng nổ của các phương tiện thông tin đại chúng, chuyển biến trong thị hiếu tiếp nhận, giao lưu, tương tác đa chiều, đa phương của các nền văn hóa/văn học trong kỉ nguyên toàn cầu hóa.

2.3. Xu Hướng Tiểu Thuyết Lịch Sử Sau Đổi Mới

Với việc tự do sáng tác cùng với tinh thần dân chủ được khuyến khích mở rộng, lĩnh vực đề tài lịch sử như được hồi sinh và trở thành thể tài chủ chốt được nhiều nhà văn quan tâm chú ý. Tiểu thuyết bây giờ nghiêng theo mạch cảm thức phân tích, giả định gắn với chiêm nghiệm, luận giải lịch sử từ góc độ cá nhân. Nhiều tác phẩm tiêu biểu nằm trong dòng chảy này không chỉ mở rộng đề tài, chủ đề theo hướng tiếp cận gần gũi hơn với hiện thực đời sống sinh hoạt, đời tư thế sự, đời sống văn hoá, tâm linh, mà quan niệm của các nhà văn trên một số vấn đề về thể loại và về lịch sử cũng mang màu sắc thẩm mĩ mới.

III. Phân Tích Người Kể Chuyện Trong Tiểu Thuyết Lịch Sử

Luận án tập trung vận dụng những phương diện căn bản và quan trọng của nghệ thuật tự sự như người kể chuyện, điểm nhìn tự sự, thời gian tự sự, kết cấu tự sự, diễn ngôn tự sự và các chiến lược tự sự vào khám phá đổi mới tư duy thể loại, phương thức tự sự của một trong những thể tài văn học nổi bật nhất sau Đổi mới - tiểu thuyết lịch sử. Dưới giác độ lí thuyết tự sự học, những đặc trưng của thể loại lần lượt được soi chiếu, qua đó nhiều vấn đề lí luận được giải mã một cách khoa học, thuyết phục, đem lại nhiều phát hiện thú vị cho người nghiên cứu cũng như những ai quan tâm đến văn học viết về đề tài lịch sử Việt Nam.

3.1. Sự Độc Đáo Của Người Kể Chuyện Sau 1986

Sự xuất hiện của người kể chuyện đa dạng và phức tạp hơn trong tiểu thuyết lịch sử Việt Nam sau năm 1986. Các nhà văn đã thử nghiệm nhiều hình thức kể chuyện khác nhau, từ người kể chuyện ngôi thứ ba toàn tri đến người kể chuyện ngôi thứ nhất hạn tri, tạo ra những hiệu ứng nghệ thuật độc đáo.

3.2. Đổi Mới Hình Thức Kể Chuyện Ngôi Thứ Ba

Trong tiểu thuyết lịch sử Việt Nam sau năm 1986, hình thức kể chuyện từ ngôi thứ ba đã có những đổi mới đáng kể. Các nhà văn không còn sử dụng người kể chuyện toàn tri một cách đơn thuần mà đã tạo ra những người kể chuyện có điểm nhìn hạn chế, mang đậm dấu ấn cá nhân, góp phần làm tăng tính chủ quan và đa chiều cho câu chuyện.

3.3. Thể Nghiệm Kể Chuyện Ngôi Thứ Nhất

Việc sử dụng hình thức kể chuyện từ ngôi thứ nhất trong tiểu thuyết lịch sử Việt Nam sau năm 1986 là một sự thể nghiệm táo bạo. Hình thức này cho phép người kể chuyện trực tiếp bày tỏ cảm xúc, suy nghĩ, đánh giá của mình về các sự kiện và nhân vật lịch sử, tạo ra một cái nhìn gần gũi, chân thực và đầy tính cá nhân.

IV. Nghệ Thuật Tổ Chức Thời Gian Trong Tiểu Thuyết

Nghệ thuật tổ chức thời gian trong tiểu thuyết lịch sử Việt Nam sau năm 1986 có nhiều đổi mới so với giai đoạn trước. Các nhà văn đã phá vỡ trật tự thời gian tuyến tính truyền thống, sử dụng các kỹ thuật như đảo thuật, dự thuật, hồi ức để tạo ra một cấu trúc thời gian phức tạp, đa chiều, phản ánh sự vận động không ngừng của lịch sử và ký ức.

4.1. Phá Vỡ Trật Tự Thời Gian Tuyến Tính

Trong tiểu thuyết lịch sử Việt Nam sau năm 1986, các nhà văn thường sử dụng các kỹ thuật như đảo thuật, dự thuật, hồi ức để phá vỡ trật tự thời gian tuyến tính truyền thống. Điều này giúp tạo ra một cấu trúc thời gian phức tạp, đa chiều, phản ánh sự vận động không ngừng của lịch sử và ký ức.

4.2. Tạo Dựng Nhịp Độ Thời Gian Bằng Đoạn Ngưng

Kỹ thuật đoạn ngưng được sử dụng để tạo ra những khoảng lặng trong câu chuyện, giúp người đọc có thời gian suy ngẫm về các sự kiện và nhân vật lịch sử. Đồng thời, nó cũng góp phần làm tăng tính kịch tính và hấp dẫn cho tiểu thuyết.

V. Diễn Ngôn Tự Sự Trong Tiểu Thuyết Lịch Sử Việt Nam

Diễn ngôn tự sự trong tiểu thuyết lịch sử Việt Nam sau năm 1986 có nhiều đổi mới so với giai đoạn trước. Các nhà văn đã sử dụng một ngôn ngữ đa dạng, phong phú, kết hợp giữa ngôn ngữ lịch sử, ngôn ngữ đời thường và ngôn ngữ cá nhân để tạo ra một giọng điệu riêng biệt, phản ánh sự phức tạp của lịch sử và đời sống.

5.1. Diễn Ngôn Của Người Kể Chuyện

Diễn ngôn của người kể chuyện trong tiểu thuyết lịch sử Việt Nam sau năm 1986 thường mang đậm dấu ấn cá nhân, thể hiện quan điểm, cảm xúc, suy nghĩ của người kể chuyện về các sự kiện và nhân vật lịch sử. Điều này góp phần làm tăng tính chủ quan và đa chiều cho câu chuyện.

5.2. Diễn Ngôn Của Nhân Vật Lịch Sử

Diễn ngôn của nhân vật lịch sử trong tiểu thuyết lịch sử Việt Nam sau năm 1986 thường được xây dựng một cách công phu, tỉ mỉ, phản ánh tính cách, tâm lý, tư tưởng của nhân vật. Các nhà văn thường sử dụng ngôn ngữ đối thoại, độc thoại nội tâm để khắc họa sâu sắc thế giới bên trong của nhân vật.

VI. Kết Luận Về Nghiên Cứu Tiểu Thuyết Lịch Sử

Nghiên cứu tiểu thuyết lịch sử Việt Nam sau năm 1986 dưới góc nhìn tự sự học là một hướng đi đầy tiềm năng, giúp chúng ta hiểu sâu sắc hơn về sự vận động và phát triển của thể loại này trong bối cảnh văn học đương đại. Đồng thời, nó cũng góp phần làm phong phú thêm lý luận văn học Việt Nam.

6.1. Giá Trị Của Nghiên Cứu Tự Sự Học

Việc vận dụng lý thuyết tự sự học vào nghiên cứu tiểu thuyết lịch sử giúp chúng ta có một cái nhìn hệ thống, khoa học về các yếu tố cấu thành nên tác phẩm, từ đó giải mã được những ý nghĩa sâu xa mà nhà văn muốn gửi gắm.

6.2. Hướng Nghiên Cứu Tiếp Theo

Trong tương lai, cần tiếp tục nghiên cứu tiểu thuyết lịch sử Việt Nam sau năm 1986 dưới nhiều góc độ khác nhau, như văn hóa học, xã hội học, tâm lý học, để có một cái nhìn toàn diện và sâu sắc hơn về thể loại này.

06/06/2025
Tiểu thuyết lịch sử việt nam sau năm 1986 dưới góc nhìn tự sự học

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, phần Nội dung của luận án được triển khai thành 4 chương: Chƣơng 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu Chƣơng 2. Người kể chuyện và điểm nhìn tự sự trong tiểu thuyết lịch sử Việt Nam sau năm 1986 Chƣơng 3. Nghệ thuật tổ chức thời gian và kết cấu tự sự trong tiểu thuyết lịch sử Việt Nam sau năm 1986 Chƣơng 4.

Diễn ngôn tự sự trong tiểu thuyết lịch sử Việt Nam sau năm 1986 8 NỘI DUNG Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1. Tình hình nghiên cứu và vận dụng lí thuyết tự sự học 1. Khái lƣợc diễn trình và thành tựu nghiên cứu tự sự học trên thế giới Tự sự học (TSH) đã xuất hiện từ lâu ở phương Tây. Nó vốn thực chất là một nhánh của thi pháp học cấu trúc.

Đặt nền móng cho cơ sở ban đầu của lí thuyết này là trường phái hình thức Nga với một số tên tuổi tiêu biểu như V.Tomachevski (1890 - 1957)… Trong công trình của các nhà hình thức chủ nghĩa, mặc dù không có chủ đích tìm hiểu riêng về nghệ thuật tự sự với hệ thống thuật ngữ công cụ như sau này, song trong khi chú ý đến các “thủ pháp”, họ đã bước đầu đề cập đến nhiều phương diện cơ bản của lí thuyết TSH như kết cấu văn bản tự sự, truyện kể và cốt truyện, thời gian của truyện kể và thời gian của kể chuyện, thời gian “giả”. Nếu chủ nghĩa hình thức Nga đặt những viên gạch đầu tiên cho lí thuyết TSH thì chủ nghĩa cấu trúc đã góp phần hình thành bộ môn TSH với nhiều nhà TSH xuất sắc (vốn xuất thân từ chủ nghĩa cấu trúc). TSH ra đời khi chủ nghĩa cấu trúc phát triển ở đỉnh cao. Nhà nghiên cứu gọi đấy là thời kì giải cấu trúc hay hậu cấu trúc.

Các nhà cấu trúc thuộc trường phái Cấu trúc - kí hiệu học Paris tiêu biểu như R.Bremond… còn được gọi là những nhà cấu trúc mới, bởi họ nghiên cứu cấu trúc tự sự của văn bản. Các tác giả lập nên một chuyên ngành riêng gọi là TSH cấu trúc. Hệ hình lí thuyết này đã thừa kế những thành tựu lí luận của chủ nghĩa cấu trúc và phát triển lên thành hệ thống lí thuyết nghiên cứu độc lập, riêng biệt. Đến khi chủ nghĩa giải cấu trúc ra đời, TSH bắt đầu có những chuyển động trong hệ hình lí thuyết, đối tượng, phương pháp nghiên cứu.

Từ đó, ngành học này không chỉ quan tâm đến yếu tố nội tại của văn bản, mà còn mở rộng đến các thể loại “phi văn học”, “phi ngôn ngữ” khác. Đó thực sự là cuộc phiêu lưu dấn thân, một thử nghiệm mới của các nhà cấu trúc/giải cấu trúc - kí hiệu học tiêu biểu mang khát vọng vượt thoát mọi giới hạn của khoa học để truy tìm những miền đất mới. 9 Xuất phát từ công trình Grammaire du Décaméron (Ngữ pháp “Truyện mười ngày”) (1969) của Tz.Todorov, từ đó đến nay lí thuyết TSH không ngừng được các nhà nghiên cứu quan tâm. Những thay đổi phương pháp nghiên cứu, đối tượng tiếp cận cùng với sự ra đời của các hệ hình lí thuyết đã cho thấy quá trình vận động mạnh mẽ cũng như sự triển nở vô hạn của ngành học.

Hệ hình TSH kinh điển (đại diện tiêu biểu như R.Stanzel…, các công trình chính: Nhập môn phân tích cấu trúc truyện kể, Ngữ pháp “Truyện mười ngày”, Diễn ngôn truyện kể, Diễn ngôn mới về truyện kể…) tập trung nghiên cứu cấu trúc của truyện, mối quan hệ của các sự kiện tạo nên truyện, nghiên cứu diễn ngôn tự sự và yếu tố tạo nên nó: người kể chuyện, điểm nhìn, ngôi kể, hành động kể, giọng điệu… Lí thuyết TSH đã cung cấp một hệ thống khái niệm công cụ hiệu quả để phân tích diễn ngôn tự sự. Tuy nhiên, hệ hình lí thuyết này mới chỉ dừng lại ở việc miêu tả các yếu tố hình thức cấu trúc tự sự trong thế tĩnh tại, khép kín, mà chưa đi sâu tìm hiểu cơ chế vận hành của tự sự trong ngữ cảnh tiếp nhận và văn hóa. TSH hậu kinh điển (đại diện chủ chốt như Tz.Barthes vào những năm 70 của thế kỉ XX, G.Revaz…, các công trình chính: Đọc tựa như xây dựng, Sự khoái lạc của văn bản, Dẫn luận tự sự học…) là một hướng nghiên cứu “mở”. Hệ hình này đã thoát khỏi mô hình TSH kinh điển khi chỉ tập trung phân tích cấu trúc văn bản truyện kể bằng việc mở rộng đối tượng tiếp cận ra với người đọc, ngữ cảnh và các lĩnh vực tự sự ngoài văn học.

Đến hôm nay, TSH tiếp tục mở ra với mô hình “tự sự học + X”, trong đó nhân tố “X” có thể là chủ nghĩa nữ quyền hay nghiên cứu giới tính, nghiên cứu văn hóa hay nghiên cứu hậu thực dân, nghiên cứu TSH tâm lí, TSH pháp luật, TSH lịch sử (như H.White), TSH hậu hiện đại (như M.Coli), TSH tu từ (Phelan, Karl Kao)… [132, tr. Nếu trước đây, TSH cấu trúc chỉ chú ý đến chức năng, ngữ pháp truyện, ngữ nghĩa truyện ở tầng sâu cấu trúc văn bản, thì nay các học giả đang chú ý đến tu từ học TSH như là phương diện biểu hiện tư tưởng, tình cảm của tự sự. Ngoài những vấn đề cơ bản như điểm nhìn, người kể chuyện, thì kí hiệu tượng trưng, khoảng cách trần thuật được đặc biệt quan tâm. TSH là một khuynh hướng nghiên cứu “mở”, giàu tiềm năng.

Ngành khoa học này vận động không ngừng suốt hơn nửa thập kỉ vừa qua. Mặc dù còn tồn tại một số bất đồng (và bất cập) ở các thế hệ nghiên cứu F2, F3, F4…, song cùng với các hệ 10 hình lí thuyết khác, TSH đã, đang và sẽ tiếp tục góp phần quan trọng làm phong phú diện mạo nghiên cứu văn chương nói riêng và các ngành khoa học xã hội nói chung. Quá trình vận dụng lí thuyết tự sự học vào nghiên cứu văn học Việt Nam Hệ thống lí luận về TSH xuất hiện trên thế giới vào khoảng những năm 60 của thế kỷ XX nhưng ở Việt Nam mãi đến những năm cuối thế kỉ XX, đầu thế kỷ XXI mới được các nhà nghiên cứu quan tâm đúng mức. Một trong những người đầu tiên đưa TSH vào giới thiệu ở Việt Nam là Trần Đình Sử.

Trong hai tiểu luận có tính chất nghiên cứu dẫn nhập “Tự sự học - một bộ môn nghiên cứu liên ngành giàu tiềm năng” (2001) và “Tự sự học không ngừng mở rộng và phát triển” (2008) được trình bày ở Hội thảo về tự sự học, tác giả đã hệ thống, khái lược nhiều vấn đề liên quan đến lí thuyết tự sự. Đặc biệt ở đó, nhà nghiên cứu nhấn mạnh cơ sở hình thành hệ thống lí thuyết từ nền tảng của chủ nghĩa hình thức Nga cùng những thành tựu đột phá trong ngôn ngữ học của F.de Saussure và lịch sử hình thành từ Platon, Aristote đến Tz. Cùng với đó, một vài công trình lí thuyết TSH ở nước ngoài đã được dịch thuật và giới thiệu ở Việt Nam, chẳng hạn: “Cấu trúc truyện kể” của A.Greimas (Nguyễn Đức Dân giới thiệu và lược dịch), “Tự sự học” của M.Bal (Nguyễn Thị Ngọc Minh giới thiệu và lược dịch), “Tự sự học” của S.Landa (Lê Lưu Oanh và Nguyễn Đức Nga giới thiệu và lược dịch), “Lí thuyết tự sự” của H.White (Trần Ngọc Hiếu giới thiệu và lược dịch), “Điểm nhìn nghệ thuật” của R.Kellogg (Cao Kim Lan giới thiệu), “Lí thuyết về người nghe chuyện trong tác phẩm tự sự” của G.Prince (Nguyễn Thị Hải Phương giới thiệu và lược dịch), Trần thuật học nhập môn lí thuyết trần thuật của M.Jahn (Nguyễn Thị Như Trang dịch), “Proust và lời gián tiếp” của G.Genette (Phùng Kiên dịch),… Bên cạnh đó, các tiểu luận quan trọng của Tz.Lotman (“Kết cấu tác phẩm nghệ thuật ngôn từ”) cũng được giới thiệu và dịch thuật bởi hai nhà nghiên cứu Trịnh Bá Đĩnh và Lã Nguyên. Ngoài ra phải kể đến những công trình dịch thuật và nghiên cứu diễn ngôn của Trần Đình Sử, Lã Nguyên, Lê Thời Tân, Nguyễn Thị Ngọc Minh… như là nỗ lực kiến giải một trong những thuật ngữ gây tranh luận bậc nhất trong lí thuyết TSH hiện nay.

Trong công trình hai tập Lý luận phê bình văn học thế giới (Lộc Phương Thủy chủ biên và nhiều tác giả tham gia dịch thuật) đã tuyển dịch một số công trình quan 11 trọng liên quan đến TSH của Tz. Ngoài ra, công trình Thi pháp văn xuôi của Tz.Todorov (Đặng Anh Đào, Lê Hồng Sâm dịch) cũng đã tập hợp những bài nghiên cứu liên quan đến truyện kể, đặc biệt trong đó có công trình Ngữ pháp “Câu chuyện mười ngày” (Grammaire du Décameron) mà chúng tôi đã có dịp nhắc tới trên đây. Gần đây, Trung tâm nghiên cứu Quốc học và Nhà xuất bản Văn học đã phối hợp cho ra mắt công trình Những vấn đề văn học phương Tây hiện đại - Tự sự học kinh điển. Đây là công trình dịch thuật những tiểu luận của một số nhà TSH (nhóm dịch giả Duy Châu và Xuân Lộc), trong đó đáng chú ý là R.Booth (Khoảng cách và điểm nhìn)… Cũng nằm trong sự quan tâm ấy, Ban Văn học nước ngoài của Viện Văn học đang thực hiện đề tài Tự sự học, lí luận và ứng dụng, tập trung nghiên cứu TSH từ những vấn đề lịch sử, lí thuyết đến ứng dụng ở một số nền văn học như Trung Quốc, Nga, Pháp, Anh, Mỹ, Ấn Độ, Nhật Bản và chủ yếu là Việt Nam.

Những kết quả nghiên cứu đầu tiên đã được chọn lựa, giới thiệu trên Tạp chí Nghiên cứu Văn học số 9/2010 với chuyên đề Tự sự học. Nghiên cứu chuyên sâu về các phương diện trần thuật học, Lê Phong Tuyết đã giới thiệu G.Genette cùng lí thuyết của ông một cách hệ thống. Với hai bài viết “Tiếp cận Genette qua một vài khái niệm trần thuật”, “Người kể chuyện trong văn xuôi”, tác giả đã tập trung làm rõ một số vấn đề liên quan đến lí thuyết TSH vốn còn khá mới mẻ với giới nghiên cứu Việt Nam: những tình huống trần thuật, người nghe chuyện, người kể chuyện, điểm nhìn tự sự. Cũng quan tâm đến phương diện người kể chuyện, Cao Kim Lan với tiểu luận “Mối quan hệ giữa người kể chuyện và tác giả” đã chỉ ra sự thống nhất chứ không đồng nhất của hai phạm trù quan trọng trong hệ thống lí thuyết TSH cùng với nhiều vấn đề cốt yếu liên quan.

Tiếp tục hướng nghiên cứu đó, trong tiểu luận “Tu từ học tiểu thuyết - một phương pháp tiếp cận giàu tiềm năng”, tác giả đã giới thiệu một khuynh hướng tiếp cận mới, khả dụng của TSH vào thực tiễn nghiên cứu tiểu thuyết ở Việt Nam. 12 Trần Huyền Sâm là một trong những người có nhiều tâm huyết trong việc đưa bộ môn TSH vào giảng dạy và nghiên cứu ở Việt Nam.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nghiên Cứu Tiểu Thuyết Lịch Sử Việt Nam Sau Năm 1986 Dưới Góc Nhìn Tự Sự Học" mang đến cái nhìn sâu sắc về sự phát triển của tiểu thuyết lịch sử Việt Nam từ năm 1986 đến nay, với trọng tâm là cách thức tự sự được vận dụng để phản ánh các vấn đề xã hội và văn hóa. Tác giả phân tích các yếu tố tự sự trong các tác phẩm tiêu biểu, giúp người đọc hiểu rõ hơn về bối cảnh lịch sử và những biến chuyển trong tư duy sáng tác của các nhà văn.

Tài liệu không chỉ cung cấp kiến thức về tiểu thuyết lịch sử mà còn mở ra những góc nhìn mới mẻ về nghệ thuật tự sự trong văn học Việt Nam. Để mở rộng thêm kiến thức, bạn có thể tham khảo các tài liệu liên quan như Luận án tiến sĩ vấn đề vận dụng phương thức huyền thoại hoá trong tiểu thuyết việt nam từ 1986 đến nay, nơi khám phá cách thức huyền thoại hóa được áp dụng trong tiểu thuyết. Ngoài ra, Luận văn thạc sĩ văn học nghệ thuật tự sự của dư hoa qua tiểu thuyết chuyện hứa tam quan bán máu cũng sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về nghệ thuật tự sự trong các tác phẩm văn học. Cuối cùng, Hỗn độn của nguyễn khắc phục từ góc nhìn tự sự học sẽ mang đến cái nhìn sâu sắc về sự phức tạp trong tiểu thuyết hiện đại. Những tài liệu này sẽ là cơ hội tuyệt vời để bạn khám phá thêm về chủ đề này.