Tổng quan về luận án

Sự nghiệp Đổi mới năm 1986 đã mở ra một bước ngoặt quyết định cho tiến trình hiện đại hóa văn học Việt Nam, đặc biệt là sự trỗi dậy mạnh mẽ của thể tài tiểu thuyết lịch sử. Không còn đơn thuần đóng vai trò minh họa hay ca ngợi chính sử theo cảm quan sử thi và nguyên tắc phản ánh luận truyền thống, tiểu thuyết lịch sử giai đoạn sau năm 1986 đã có sự chuyển dịch căn bản về hệ hình tư duy nghệ thuật. Nghiên cứu của nghiên cứu sinh Nguyễn Văn Hùng tại Học viện Khoa học Xã hội (thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam), dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Nguyễn Đăng Điệp và TS. Trần Thị Sâm (chuyên ngành Lí luận văn học, mã số 62.20), đã định vị và giải mã bước phát triển mang tính cách tân này thông qua lăng kính của lý thuyết tự sự học (Narratology).

Khoảng trống học thuật (research gap) cốt lõi mà công trình hướng đến giải quyết là sự thiếu vắng các nghiên cứu chuyên sâu, có hệ thống và nhất quán về mặt phương pháp luận trong việc phân tích cấu trúc vi mô và vĩ mô của văn bản tự sự lịch sử đương đại. Trước đây, giới phê bình phần lớn tiếp cận tác phẩm từ góc độ xã hội học văn học, thi pháp học truyền thống hoặc đối chiếu cơ học giữa hư cấu và sự thật lịch sử. Luận án đã thiết lập hệ thống 3 câu hỏi nghiên cứu (Research Questions) trọng tâm:

  1. RQ1: Bản chất thể tài của tiểu thuyết lịch sử Việt Nam sau năm 1986 được xác định như thế nào trong mối quan hệ giữa chân xác lịch sử, hư cấu nghệ thuật và ý thức soi sáng đời sống đương đại?
  2. RQ2: Khung khổ lý thuyết tự sự học (với các bình diện người kể chuyện, điểm nhìn, thời gian, kết cấu, diễn ngôn) có khả năng giải mã hiệu quả tự sự của thể tài này ra sao?
  3. RQ3: Những cách tân đột phá về tư duy tự sự và phương thức trần thuật lịch sử sau năm 1986 so với giai đoạn trước thể hiện cụ thể ở những quy luật hình thức và chiến lược nghệ thuật nào?

Khung lý thuyết của công trình tích hợp lý thuyết tự sự học kinh điển của Gérard Genette, Tzvetan Todorov, Roland Barthes với lý thuyết tự sự học hậu kinh điển, ký hiệu học diễn ngôn của Michel Foucault và lý thuyết đa thanh, đối thoại của Mikhail Bakhtin. Về quy mô khảo sát, luận án bao quát diện mạo của hơn 100 cuốn tiểu thuyết lịch sử và hơn 100 truyện ngắn lịch sử xuất bản từ năm 1986 đến 2014, kết hợp đối sánh liên văn bản với các tác phẩm trước 1986 và tác phẩm của tác giả ngoại quốc viết về lịch sử Việt Nam (như Vạn Xuân, Lãn Ông của Yveline Féray). Ý nghĩa khoa học của luận án nằm ở việc xác lập hệ hình "tự sự học ứng dụng kiểu Việt Nam", chứng minh rằng sự đổi mới của tiểu thuyết lịch sử không chỉ là ảnh xạ của bối cảnh văn hóa - xã hội mà còn là sự trưởng thành vượt bậc về thi pháp tiểu thuyết hiện đại.

Literature Review và Positioning

Diễn trình nghiên cứu tự sự học trên thế giới khởi nguồn từ công trình nền tảng Grammaire du Décaméron (1969) của Tzvetan Todorov, kế thừa chủ nghĩa hình thức Nga (V. Tomachevski, V. Propp) và trường phái Cấu trúc - ký hiệu học Paris (Roland Barthes, Claude Bremond, A.J. Greimas). Tự sự học kinh điển đạt đỉnh cao với hệ thống công cụ phân tích cấu trúc tự sự kín của Gérard Genette (Discours du récit, 1972; Nouveau discours du récit, 1983; Métalepse, 2004) và Franz Stanzel (A Theory of Narrative). Đến thập niên 1980 - 1990, tự sự học hậu kinh điển mở rộng sang mô hình "Tự sự học + X" (nghiên cứu văn hóa, nữ quyền, hậu hiện đại, tu từ học tự sự của James Phelan, tự sự học lịch sử của Hayden White).

Tại Việt Nam, tiến trình tiếp nhận tự sự học được khởi xướng bởi GS. Trần Đình Sử qua các tiểu luận then chốt năm 2001 và 2008, tiếp nối bởi công trình dịch thuật, giới thiệu của Lộc Phương Thủy, Trịnh Bá Đĩnh, Lã Nguyên, Đặng Anh Đào, Cao Kim Lan, Trần Huyền Sâm, Lê Phong Tuyết, Nguyễn Thái Hòa. Tuy nhiên, bức tranh nghiên cứu trong nước từng rơi vào tình trạng phân mảnh, minh họa sơ lược hoặc gượng ép cơ học ("đẽo chân vừa giày").

Về thể tài tiểu thuyết lịch sử, tồn tại cuộc tranh luận kéo dài giữa hai luồng quan điểm thẩm mỹ:

  • Luồng quan điểm truyền thống (chịu ảnh hưởng của Georg Lukács và chủ nghĩa hiện thực phản ánh): Đòi hỏi tiểu thuyết gia phải trung thành với chân lý khách quan của chính sử, đặt nặng chức năng giáo huấn đạo đức và cảm hứng ngợi ca anh hùng dân tộc (Phan Cự Đệ, Đinh Công Vĩ).
  • Luồng quan điểm hiện đại/hậu hiện đại: Coi lịch sử như một diễn ngôn, một trò chơi ngôn ngữ có tính kiến tạo (Hayden White, Käte Hamburger). Đại diện tiêu biểu là phát biểu mang tính khiêu khích của Nguyễn Huy Thiệp: "Người ta không đánh nhau với các xác chết. Người ta chỉ tìm cách khai thác các xác chết sao cho có ích cho thời hiện tại thôi", hay quan niệm của Nam Dao trong Gió lửa: "Ở đây, biến cố lịch sử trở thành đối tượng đem soi dưới lăng kính chủ quan, nhào nặn lại để rồi, qua ngòi bút người viết, thành tiểu thuyết dã sử".

Luận án định vị chính xác vị trí học thuật của mình tại giao điểm giữa lý thuyết thi pháp tự sự cấu trúc và ký hiệu học văn hóa. So với các nghiên cứu quốc tế về tiểu thuyết lịch sử hậu hiện đại như công trình của Linda Hutcheon về "Historiographic Metafiction" hay các tiểu thuyết thực hành của Umberto Eco (The Name of the Rose) và Hilary Mantel (Wolf Hall), luận án của Nguyễn Văn Hùng đã làm rõ tính đặc thù của tiến trình giải thiêng, dân chủ hóa diễn ngôn lịch sử trong điều kiện văn hóa và lịch sử riêng biệt của Việt Nam.

Đóng góp lý thuyết và khung phân tích

Đóng góp cho lý thuyết

Luận án đã mở rộng và tái cấu trúc hệ thống phạm trù tự sự học phương Tây nhằm giải thích thỏa đáng các hiện tượng văn xuôi lịch sử trong nền văn học chuyển đổi:

  1. Mở rộng khái niệm "Người kể chuyện" (Narrator): Vượt qua phân loại nhị phân ngôi thứ nhất/ngôi thứ ba đơn thuần, công trình phân lập các loại hình người kể chuyện phức hợp: người kể chuyện toàn tri mang ý thức đối thoại, người kể chuyện hạn tri mang tính trải nghiệm, người kể chuyện phân thân và người kể chuyện "xuyên kiếp".
  2. Bổ sung lý thuyết về "Diễn ngôn lịch sử" (Historical Discourse): Chuyển hóa quan niệm lịch sử từ "sự kiện tĩnh tại" sang "hệ thống diễn ngôn đa thanh", nơi các tiếng nói của nhân vật lịch sử, nhân vật dã sử, nhân vật đời thường và người kể chuyện đan cài bình đẳng theo nguyên tắc phức điệu của Mikhail Bakhtin.
  3. Xác lập mô hình 3 mệnh đề lý thuyết (Theoretical Propositions):
    • Mệnh đề 1: Hiệu quả tự sự của tiểu thuyết lịch sử tỷ lệ thuận với mức độ đa dạng hóa điểm nhìn và sự phi tập trung hóa quyền uy của người kể chuyện.
    • Mệnh đề 2: Sự phá vỡ trật tự thời gian tuyến tính (thông qua đảo thuật, dự thuật và đoạn ngưng) là công cụ giải cấu trúc tính tất yếu định mệnh của lịch sử quan phương.
    • Mệnh đề 3: Sự gia tăng lời gián tiếp tự do (Free indirect discourse) biểu thị bước chuyển từ cảm quan sử thi cộng đồng sang cảm thức cá nhân - nhân bản.

Khung phân tích độc đáo

Khung phân tích của luận án được xây dựng như một ma trận đa tầng tích hợp 5 thành tố cấu trúc:

  • Tầng 1 - Thực thể trần thuật (Narrating Instance): Khảo sát vị thế, khoảng cách trần thuật và các cấp độ tiêu cự hóa (focalization - tiêu cự hóa bậc 0, bên trong, bên ngoài).
  • Tầng 2 - Kiến trúc thời gian (Temporal Architecture): Đo lường độ vênh giữa thời gian truyện kể (story time) và thời gian kể chuyện (narrative time) qua 3 biến số: trật tự (order - analepsis, prolepsis), tốc độ (speed - pause, scene, summary, ellipsis) và tần suất (frequency).
  • Tầng 3 - Cấu hình không gian và kết cấu (Spatial-Structural Configuration): Phân tích kết cấu khung (frame narrative), kết cấu lắp ghép - đồng hiện (montage/simultaneity) và sự dung hợp thể loại (genre hybridity).
  • Tầng 4 - Cấu trúc diễn ngôn (Discursive Structure): Phân lập 3 thành phần cốt lõi: thuật chuyện, miêu tả và bình luận; khảo sát sự tương tác giữa đối thoại ngoại hiện, độc thoại nội tâm và lời nửa trực tiếp.
  • Điều kiện biên (Boundary Conditions): Áp dụng cho các tác phẩm văn xuôi tự sự nghệ thuật viết về đề tài lịch sử; không áp dụng cho biên niên sử thuần túy, ký sự tài liệu hay giáo trình lịch sử thực chứng.

Phương pháp nghiên cứu tiên tiến

Thiết kế nghiên cứu

  • Triết lý nghiên cứu: Thuyết diễn giải (Interpretivism) kết hợp với Thuyết kiến tạo văn hóa (Constructivism) và chủ nghĩa hậu cấu trúc (Post-structuralism).
  • Thiết kế đa tầng bậc (Multi-level Design):
    • Cấp độ vĩ mô: Khảo sát diện mạo, quy luật vận động thể tài trên tổng thể hơn 100 tiểu thuyết lịch sử sau năm 1986.
    • Cấp độ vi mô: Phân tích định lượng cấu trúc văn bản (đo đếm số trang, tỷ lệ phần trăm phân bố ngôi kể, trích xuất cấu trúc cú pháp diễn ngôn) trên các văn bản mẫu tiêu biểu (Hồ Quý Ly, Mẫu Thượng Ngàn, Sông Côn mùa lũ, Giàn thiêu, Tám triều vua Lý, Thế kỉ bị mất, Hội thề, Minh sư, Gió lửa...).

Quy trình nghiên cứu rigorous

  • Chiến lược lấy mẫu (Sampling Strategy): Lấy mẫu mục đích (Purposive Sampling) đại diện cho 3 khuynh hướng sáng tác chính: tiểu thuyết lịch sử chương hồi khách quan, tiểu thuyết lịch sử giáo huấn và tiểu thuyết lịch sử luận giải/hư cấu hiện đại.
  • Quy trình tam giác hóa (Triangulation):
    • Tam giác hóa dữ liệu: Đối chiếu giữa chính sử (Đại Việt sử ký toàn thư), dã sử/huyền thoại (Thiền uyển tập anh, Việt điện u linh, Lĩnh Nam chích quái) và văn bản tiểu thuyết.
    • Tam giác hóa lý thuyết: Kết hợp tự sự học cấu trúc Genette, lý thuyết diễn ngôn Foucault và thi pháp Bakhtin.
    • Tam giác hóa phương pháp: Kết hợp phương pháp loại hình học, phương pháp cấu trúc - hệ thống, phương pháp so sánh lịch đại - đồng đại và phương pháp phân tích diễn ngôn liên ngành.
  • Độ tin cậy và giá trị: Đảm bảo giá trị nội tại (internal validity) qua việc trích dẫn nguyên văn dữ liệu khảo sát từ các ấn bản chính thức, duy trì tính nhất quán của khung mã hóa phân tích tự sự.

Data và phân tích

Luận án tiến hành định lượng và phân tích thống kê cấu trúc văn bản chi tiết:

  • Trong Tám triều vua Lý (Hoàng Quốc Hải), dung lượng 3.509 trang trải dài 216 năm (1009 - 1225): Tác giả dành tới 3.288 trang (chiếm 94%) cho 4 triều đại thịnh trị (Lý Thái Tổ, Lý Thái Tông, Lý Thánh Tông, Lý Nhân Tông) và chỉ dành 221 trang (chiếm 6%) cho 4 triều đại suy tàn (Lý Thần Tông, Lý Anh Tông, Lý Cao Tông, Lý Huệ Tông), phản ánh rõ dụng ý tái lập mô hình hưng vong của lịch sử.
  • Trong Hồ Quý Ly (Nguyễn Xuân Khánh), người kể chuyện ngôi thứ ba chiếm 637/802 trang (gần 80%), người kể chuyện ngôi thứ nhất Hồ Nguyên Trừng xưng "tôi" chiếm 165/802 trang (khoảng 20,5% tại các chương II, VI, XII, XIII).
  • Trong Mẫu Thượng Ngàn (Nguyễn Xuân Khánh), ngôi thứ nhất qua lời kể bà ba Váy chiếm 46/807 trang (khoảng 5,7%).
  • Trong Thế kỉ bị mất (Phạm Ngọc Cảnh Nam), ngôi thứ nhất của nhân vật Cả Hinh chiếm tỷ trọng áp đảo với 255/467 trang (khoảng 55%).
  • Tần suất sử dụng ngôi thứ nhất trong toàn bộ kho tàng tiểu thuyết lịch sử sau 1986 đạt dưới 10%, minh chứng cho tính chất thể nghiệm độc đáo nhưng thận trọng của các nhà văn đương đại.

Phát hiện đột phá và implications

Những phát hiện then chốt

  1. Sự giải ảo vị thế độc tôn của người kể chuyện toàn tri: Luận án chỉ ra sự chuyển dịch từ điểm nhìn sử thi bất biến sang điểm nhìn đa tiêu cự. Người kể chuyện ngôi thứ nhất xuất hiện với tư cách người tham dự - nếm trải bi kịch, tạo ra độ tin cậy và sự cộng cảm tâm lý sâu sắc. Minh chứng trong Hồ Quý Ly, Hồ Nguyên Trừng khi quan sát cha mình đã thấu suốt: "chợt nhận ra nỗi cô đơn khủng khiếp của người… bảo là nỗi cô đơn của kẻ thoán nghịch cũng được… bảo là nỗi cô đơn của kẻ làm một việc lớn cũng được".
  2. Kỹ thuật phi tuyến tính hóa thời gian và tạo nhịp điệu tự sự: Các tác giả triệt để sử dụng hình thức đảo thuật (analepsis) và dự thuật (prolepsis) để xóa bỏ tính chất một chiều của thời gian lịch sử. Việc sử dụng kỹ thuật đoạn ngưng (pause) thông qua các trường đoạn miêu tả phong tục, lễ hội, triết luận đã chuyển trọng tâm từ "sự kiện" sang "trạng thái văn hóa".
  3. Sự trỗi dậy của cảm thức Đời tư - Thế sự và biểu tượng Thiên tính nữ: Lịch sử không còn là sân khấu độc diễn của đấng quân vương mà được nhìn từ góc độ tính dục, bản năng và tình mẫu tử. Điển hình trong Mẫu Thượng Ngàn, hành động bà ba Váy cứu chồng thoát khỏi cơn nguy kịch thể hiện bản năng phồn sinh: "Tôi ngồi xếp bằng, nâng đầu lão nghếch lên lòng mình, sau đó áp bầu vú vào mặt lão. Cái vú mềm mại và bóng mượt của tôi hình như cũng có cách gọi riêng của nó […] Tôi biết khi nào lão đã bám vào đôi vú của tôi, thì tôi nhất định sẽ lôi lão ra khỏi được cõi chết".
  4. Cấu trúc liên thể loại và lắp ghép - đồng hiện: Sự dung hợp giữa tiểu thuyết với khảo cứu lịch sử, địa lý học, văn hóa dân gian và triết học tôn giáo (như trong Sông Côn mùa lũ của Nguyễn Mộng Giác, Giàn thiêu của Võ Thị Hảo, Minh sư của Thái Bá Lợi) tạo nên những không gian tự sự đa tầng bậc, thách thức các quy ước thể loại truyền thống.

Implications đa chiều

  • Về lý thuyết văn học: Đóng góp mô hình tiếp cận tự sự học liên văn hóa, chứng minh tính tương thích và khả năng bản địa hóa các lý thuyết thi pháp học hiện đại vào bối cảnh văn học phương Đông.
  • Về phương pháp luận phê bình: Cung cấp bộ công cụ giải mã cấu trúc hình thức mang tính khách quan, khoa học, giúp giới phê bình vượt qua lối tán tụng cảm tính hoặc quy kết chính trị học dung tục.
  • Về thực tiễn sáng tác: Mở ra chân trời tự do sáng tạo cho các tiểu thuyết gia đương đại, khẳng định quyền năng hư cấu và tính hợp thức của các hình thức "giải thiêng", "tái tạo quá khứ" trên tinh thần nhân bản.
  • Về chính sách và giáo dục văn hóa: Cung cấp góc nhìn đa chiều cho việc giảng dạy văn học lịch sử trong nhà trường, khuyến khích tư duy phản biện và tiếp nhận lịch sử như một quá trình đối thoại mở.

Limitations và Future Research

  • Giới hạn nghiên cứu:

    1. Giới hạn thời gian và tư liệu: Luận án giới hạn khảo sát đến thời điểm năm 2014, chưa thể bao quát các tác phẩm xuất bản trong thập niên gần đây (giai đoạn 2015 - nay).
    2. Giới hạn phương pháp: Trọng tâm nghiên cứu đặt vào tự sự học thi pháp và ký hiệu học diễn ngôn, chưa tích hợp sâu các phương pháp của tự sự học nhận thức (Cognitive Narratology) hoặc phân tích dữ liệu lớn (Digital Humanities).
    3. Giới hạn tiếp nhận: Chủ yếu tập trung vào văn bản nghệ thuật (văn bản tạo sinh), chưa triển khai điều tra xã hội học định lượng về phản ứng của các nhóm độc giả khác nhau.
  • Định hướng nghiên cứu tương lai:

    1. Mở rộng nghiên cứu tiểu thuyết lịch sử dưới góc nhìn Tự sự học Nữ quyền (Feminist Narratology) để làm sâu sắc hơn hình tượng người phụ nữ và căn tính giới trong lịch sử.
    2. Ứng dụng Tự sự học không gian (Spatial Narratology) và Địa văn hóa học (Geocriticism) nhằm khảo sát cấu trúc không gian kinh thành, làng xã, biên viễn trong văn xuôi lịch sử.
    3. Nghiên cứu đối sánh tự sự học giữa tiểu thuyết lịch sử Việt Nam và các quốc gia Đông Á (Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản) cùng chia sẻ nền tảng văn hóa đồng văn.

Tác động và ảnh hưởng

Công trình của nghiên cứu sinh Nguyễn Văn Hùng là một trong những khảo cứu toàn diện và có hệ thống đầu tiên tại Việt Nam giải mã thể tài tiểu thuyết lịch sử thời kỳ Đổi mới bằng công cụ tự sự học hiện đại.

  • Tác động học thuật: Định hình một chuẩn mực mới trong nghiên cứu thi pháp học văn xuôi, đóng vai trò tài liệu tham khảo cốt lõi cho các chương trình đào tạo sau đại học chuyên ngành Lí luận văn học và Văn học Việt Nam.
  • Tác động văn hóa - xã hội: Đóng góp tiếng nói khoa học xác đáng, góp phần hạ nhiệt những cuộc tranh luận gay gắt xung quanh các hiện tượng văn học gây tranh cãi như Hồ Quý Ly, Hội thề, chùm truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp; giúp công chúng và các nhà quản lý văn hóa nhận diện rõ ranh giới học thuật giữa sự thật lịch sử và hư cấu nghệ thuật.

Đối tượng hưởng lợi

  • Nghiên cứu sinh và học viên cao học: Tiếp cận mô hình nghiên cứu tự sự học chuẩn mực, tường minh về phương pháp và giàu có về tư liệu khảo sát thực chứng.
  • Các nhà nghiên cứu văn học và giảng viên đại học: Sở hữu khung lý thuyết và hệ thống dẫn chứng chuẩn xác để giảng dạy về văn học Việt Nam đương đại và thi pháp học tự sự.
  • Nhà văn, tác giả sáng tác: Rút ra những bài học thi pháp quý báu về kỹ thuật tổ chức người kể chuyện, kiểm soát điểm nhìn, điều phối thời gian và tổ chức ngôn ngữ đối thoại.
  • Cơ quan quản lý văn hóa và xuất bản: Có căn cứ lý luận khoa học vững chắc để thẩm định, đánh giá và định hướng tiếp nhận các tác phẩm văn học viết về đề tài lịch sử.

Câu hỏi chuyên sâu

1. Đóng góp lý thuyết độc đáo nhất của luận án là gì và đã mở rộng lý thuyết nào?
Luận án đã bản địa hóa và mở rộng lý thuyết cấu trúc tự sự của Gérard Genette và lý thuyết đối thoại của Mikhail Bakhtin vào thể tài tiểu thuyết lịch sử Việt Nam. Đóng góp độc đáo nhất là việc chứng minh sự chuyển dịch từ "tự sự đơn thoại sử thi" (monologic epic narrative) sang "tự sự phức điệu - đời tư thế sự" (polyphonic private-historical narrative), trong đó người kể chuyện không còn đóng vai trò phát ngôn chân lý tối hậu mà trở thành một chủ thể đối thoại bình đẳng.

2. Đổi mới phương pháp luận của luận án khi so sánh với các công trình trước đây?
So với các công trình của Phan Cự Đệ (thiên về lịch sử văn học truyền thống) hay các bài phê bình riêng lẻ của Lại Nguyên Ân, Phạm Xuân Thạch, luận án này áp dụng phương pháp định lượng văn bản học kết hợp phân tích cấu trúc tự sự học hệ thống. Luận án thống kê chính xác tỷ lệ phân bổ trang viết, tần suất ngôi kể, các biến thể điểm nhìn trên quy mô hơn 100 tác phẩm, tạo nên bằng chứng định lượng vững chắc thay vì nhận định cảm tính.

3. Phát hiện bất ngờ và thú vị nhất được hỗ trợ bởi dữ liệu văn bản là gì?
Mặc dù tiểu thuyết lịch sử sau 1986 có sự cách tân mạnh mẽ về mặt ý thức nghệ thuật, nhưng tỷ lệ sử dụng hình thức trần thuật ngôi thứ nhất thực tế chỉ chiếm dưới 10% tổng số tác phẩm khảo sát. Điều này cho thấy quán tính của mô hình người kể chuyện ngôi thứ ba vẫn rất đậm nét; tuy nhiên, các nhà văn đã "hiện đại hóa từ bên trong" bằng cách đa thanh hóa chính ngôi kể thứ ba này thông qua kỹ thuật lời gián tiếp tự do và đa tiêu cự hóa.

4. Luận án có cung cấp quy trình tái lập nghiên cứu (Replication Protocol) không?
Có. Khung phân tích 5 tầng (Người kể chuyện - Điểm nhìn - Thời gian - Kết cấu - Diễn ngôn) được thiết kế theo các tiêu chí thao tác hóa rõ ràng, có thể áp dụng trực tiếp để khảo sát bất kỳ phân kỳ văn học nào khác (như tiểu thuyết chiến tranh, tiểu thuyết đô thị sau 1986).

5. Lộ trình nghiên cứu 10 năm được định hình từ luận án này như thế nào?
Lộ trình học thuật mở rộng bao gồm: (1) Phát triển tự sự học so sánh khu vực Đông Á; (2) Tích hợp tự sự học nhận thức để nghiên cứu tâm lý tiếp nhận của độc giả đối với nhân vật lịch sử; (3) Xây dựng cơ sở dữ liệu số hóa (Digital Humanities Corpus) về diễn ngôn văn xuôi lịch sử Việt Nam thế kỷ XX - XXI.

Kết luận

Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Văn Hùng đã xác lập những đóng góp khoa học mang tính bước ngoặt:

  1. Xác lập một hệ thống lý luận hoàn chỉnh, có hệ thống về thi pháp tự sự của tiểu thuyết lịch sử Việt Nam giai đoạn sau năm 1986.
  2. Chứng minh bước chuyển hệ hình thẩm mỹ mang tính quy luật: từ cảm thức chiêm bái, ngưỡng vọng sử thi sang cảm thức phân tích, đối thoại và luận giải nhân bản.
  3. Giải mã tường minh các kỹ thuật tự sự tiên tiến: đa dạng hóa điểm nhìn, xáo trộn trật tự thời gian tuyến tính, kiến tạo kết cấu khung - đồng hiện và làm phong phú diễn ngôn đa thanh.
  4. Làm sáng tỏ sự dung hợp giữa lịch sử quan phương và văn hóa bản địa, tín ngưỡng dân gian, phục hồi biểu tượng Thiên tính nữ và chiều kích đời tư thế sự.
  5. Khẳng định vị thế trưởng thành của tiểu thuyết lịch sử Việt Nam đương đại trong tiến trình hội nhập với dòng chảy nghệ thuật tiểu thuyết hiện đại thế giới.