Tổng quan về luận án
Công trình nghiên cứu "Vấn đề vận dụng phương thức huyền thoại hóa trong tiểu thuyết Việt Nam từ 1986 đến nay" của nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Thủy (Chuyên ngành Văn học Việt Nam, Mã số: 9.21, Trường Đại học Hồng Đức, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Hỏa Diệu Thúy và PGS. Phan Huy Dũng) đặt nền móng trên bối cảnh bước ngoặt lịch sử - văn hóa của Việt Nam từ năm 1986. Công cuộc Đổi mới và hội nhập quốc tế đã mở đường cho tư duy nghệ thuật giải phóng khỏi mô hình phản ánh hiện thực xã hội chủ nghĩa đơn tuyến, chuyển dịch mạnh mẽ sang mô hình tự sự đa thanh, phức hợp. Tính tiên phong của luận án thể hiện ở việc xác lập phương thức huyền thoại hóa không đơn thuần là một thủ pháp kỹ thuật phụ trợ hay sự vay mượn chất liệu dân gian cơ học, mà là một nguyên tắc thẩm mỹ cốt lõi, một "cơ chế nhận thức luận mới" giúp tiểu thuyết đương đại chiếm lĩnh hiện thực ở chiều sâu bản thể và tâm linh.
Khoảng trống học thuật (research gap) mà luận án giải quyết xuất phát từ thực trạng các công trình trước đây (như Lại Nguyên Ân, 1992; Phùng Văn Tửu, 2007; Đặng Anh Đào, 2007; Bùi Thanh Truyền, 2006; Nguyễn Thị Ái Thoa, 2019) chủ yếu dừng lại ở việc khảo sát diện mạo kỳ ảo, yếu tố tâm linh đơn lẻ hoặc phân tích từng tác giả biệt lập. Luận án khắc phục sự phân mảnh này bằng cách xây dựng một hệ thống lý thuyết - thi pháp học toàn diện, làm sáng rõ cơ chế chuyển hóa từ "thế giới quan huyền thoại nguyên thủy" sang "thi pháp huyền thoại hóa hiện đại" trong cấu trúc tiểu thuyết.
Hệ thống câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết khoa học được xác lập mạch lạc:
- Câu hỏi nghiên cứu 1 (RQ1): Cơ sở hiện thực, văn hóa và nhu cầu nội tại nào thúc đẩy các nhà văn Việt Nam sau 1986 ly khai mô hình phản ánh hiện thực cổ điển để lựa chọn phương thức huyền thoại hóa?
- Câu hỏi nghiên cứu 2 (RQ2): Phương thức huyền thoại hóa tác động như thế nào đến sự cách tân thi pháp thể loại tiểu thuyết trên các bình diện: cấu trúc cốt truyện, tổ chức không - thời gian, kỹ thuật liên văn bản và dịch chuyển điểm nhìn trần thuật?
- Câu hỏi nghiên cứu 3 (RQ3): Sự phân hóa phong cách nghệ thuật cá nhân giữa các nhà văn tiêu biểu (Tạ Duy Anh, Hồ Anh Thái, Nguyễn Bình Phương) được định hình ra sao thông qua các mô thức huyền thoại hóa đặc thù?
- Giả thuyết khoa học 1 (H1): Phương thức huyền thoại hóa là động lực nội tại giải phóng dung lượng thể loại, chuyển hóa tiểu thuyết từ tái hiện biến cố xã hội bên ngoài sang đối thoại đa chiều với các tầng vỉa vô thức, lịch sử và văn hóa dân tộc.
- Giả thuyết khoa học 2 (H2): Việc vận dụng huyền thoại hóa tạo ra một hệ hình tự sự hậu hiện đại mang bản sắc bản địa, kết hợp giữa cổ mẫu văn hóa truyền thống và kỹ thuật giải thiêng/nhại huyền thoại của tiểu thuyết thế giới.
Khung lý thuyết của công trình tích hợp liên ngành giữa Thi pháp học huyền thoại (E. Meletinsky), Phê bình cổ mẫu (C.G. Jung, N. Frye), Ký hiệu học văn hóa (Roland Barthes), Tự sự học (G. Genette) và Lý thuyết giải đại tự sự (J.F. Lyotard). Luận án khảo sát định lượng và định tính trên phạm vi tư liệu bao gồm 18 tiểu thuyết trọng tâm của 3 tác giả đại diện: Tạ Duy Anh (4 tác phẩm: Lão Khổ, Thiên thần sám hối, Giã biệt bóng tối, Đi tìm nhân vật), Hồ Anh Thái (7 tác phẩm: Trong sương hồng hiện ra, Người đàn bà trên đảo, Cõi người rung chuông tận thế, Đức Phật nàng Savitri và Tôi, SBC là săn bắt chuột, Người và xe chạy dưới ánh trăng, Mười lẻ một đêm), Nguyễn Bình Phương (7 tác phẩm: Người đi vắng, Trí nhớ suy tàn, Những đứa trẻ chết già, Ngồi, Thoạt kỳ Thủy, Mình và họ, Kể xong rồi đi), cùng 10 tác phẩm đối chứng tiêu biểu của Bảo Ninh, Phạm Thị Hoài, Nguyễn Xuân Khánh, Võ Thị Hảo, Nguyễn Khắc Trường, Khôi Vũ, Đoàn Minh Phượng, Thuận, Châu Diên, Nguyễn Việt Hà trong khung thời gian từ 1986 đến 2020.
Literature Review và Positioning
Lịch sử nghiên cứu về huyền thoại và thi pháp huyền thoại trên thế giới đã trải qua các bước tiến mang tính cách mạng. E. Meletinsky (1976) trong Thi pháp của huyền thoại đã chỉ ra sự xuất hiện của "chủ nghĩa huyền thoại" trong văn học thế kỷ XX như một phương thức tái cấu trúc tư duy nghệ thuật (tiêu biểu qua James Joyce, Thomas Mann, Franz Kafka). Northrop Frye (1957) trong Giải phẫu phê bình văn học thiết lập hệ thống chu kỳ mùa và liên kết nghi lễ - cổ mẫu với bốn thể loại văn học cơ bản. Carl Gustav Jung (1936) với lý thuyết về Vô thức tập thể xác lập 5 nguyên mẫu nền tảng: Persona, Anima/Animus, Shadow, Self. Roland Barthes (1957) trong Những huyền thoại phát hiện cơ chế "giải huyền thoại" và sự kiến tạo huyền thoại mới của ý thức hệ đương đại. James Frazer (1930) và Sigmund Freud (1913) đã soi chiếu huyền thoại qua lăng kính nhân học so sánh và phức cảm tâm lý vô thức. Johan Degenaar (1996) phân loại ba diễn ngôn huyền thoại: tiền hiện đại (huyền thoại như thực tại), hiện đại (huyền thoại như tự sự biểu trưng) và hậu hiện đại (huyền thoại gắn với ngữ cảnh chính trị - xã hội).
Tại Việt Nam, tiến trình tiếp nhận diễn ra qua các mốc định hình quan trọng: Hoàng Trinh (1986) tiên phong phân tích Kafka và huyền thoại; Lại Nguyên Ân (1992) khẳng định thế giới quan huyền thoại hóa không hề triệt tiêu mà bùng nổ mạnh mẽ; Phùng Văn Tửu (2007), Đặng Anh Đào (2007), Đỗ Lai Thúy (2001), Đào Ngọc Chương (2008) tiếp tục bổ sung các luận điểm nền tảng về cổ mẫu và thi pháp học. Các công trình luận án chuyên khảo như Bùi Thanh Truyền (2006) về yếu tố kỳ ảo, Nguyễn Thị Như Trang (2012) về Bulgakov, Nguyễn Thái Hoàng (2016) về chủ nghĩa hiện sinh, Dương Thị Hương (2018) về văn hóa tâm linh, và Nguyễn Thị Ái Thoa (2019) về yếu tố huyền thoại trong giai đoạn 1986-2015 đã tạo dựng bức tranh nghiên cứu đa dạng.
Hai luồng quan điểm đối lập chi phối diễn đàn học thuật: một luồng quan điểm duy lý truyền thống e ngại rằng việc đưa các yếu tố hoang đường, ma quái vào tiểu thuyết sẽ làm mờ nhạt tính hiện thực xã hội, rơi vào chủ nghĩa thần bí tiêu cực; ngược lại, luồng quan điểm đổi mới khẳng định huyền thoại hóa là phương thức tối ưu để "lạ hóa" hình thức, vượt thoát phản ánh cơ giới và chạm tới những vỉa tầng vô thức sâu kín của con người.
Luận án định vị chính xác vị trí học thuật bằng việc đối chiếu với hai trường hợp kinh điển của văn học thế giới:
- Franz Kafka (Die Verwandlung, Der Process): Sử dụng huyền thoại hóa phi lý để biểu đạt sự tha hóa tột cùng của cá nhân trong xã hội quan liêu. Văn học Việt Nam sau 1986 tiếp thu tính chất phi lý này (rõ nét ở Tạ Duy Anh với Thiên thần sám hối, Đi tìm nhân vật) nhưng chuyển hóa vào bối cảnh khủng hoảng nhân phẩm thời kinh tế thị trường.
- Gabriel García Márquez (Cien años de soledad): Đại diện cho chủ nghĩa hiện thực huyền ảo Mỹ Latinh, nơi cái kỳ ảo được trần thuật tự nhiên như hiện thực đời thường. Hồ Anh Thái (Cõi người rung chuông tận thế) và Nguyễn Bình Phương (Những đứa trẻ chết già) tiếp biến kỹ thuật này kết hợp với tâm thức luân hồi, nghiệp báo và cõi tâm linh thuần Việt.
Đóng góp lý thuyết và khung phân tích
+-------------------------------------------------------+
| KHUNG PHÂN TÍCH THI PHÁP HUYỀN THOẠI HÓA |
+-------------------------------------------------------+
|
+-----------------------+---------------+-----------------------+
| | |
+------------------+ +-------------------+ +-------------------+
| TẦNG NHẬN THỨC | | TẦNG THI PHÁP | | TẦNG PHONG CÁCH |
| (Epistemology) | | (Poetics) | | (Authorial Style)|
+------------------+ +-------------------+ +-------------------+
| - Ly khai phản | | - Phá vỡ cốt | | - Tạ Duy Anh: |
| ánh hiện thực | | truyện tuyến | | Bản chất phi lý |
| xã hội chủ | | tính | | & mặc cảm tội |
| nghĩa đơn | | - Đồng hiện | | lỗi |
| tuyến | | không - thời | | - Hồ Anh Thái: |
| - Tái sinh cổ | | gian | | Biểu tượng tâm |
| mẫu & vô | | - Trò chơi liên | | linh & châm |
| thức tập thể | | văn bản | | biếm xã hội |
| - Thăm dò bản | | - Đa dạng hóa | | - Nguyễn Bình |
| thể & tâm linh | | điểm nhìn trần | | Phương: Không |
| | | thuật | | gian mộng mị & |
| | | | | ngôn ngữ ảo |
+------------------+ +-------------------+ +-------------------+
Đóng góp cho lý thuyết
Luận án mở rộng lý thuyết phê bình cổ mẫu của C.G. Jung và thi pháp huyền thoại của E. Meletinsky vào thực tiễn văn xuôi Việt Nam, xác lập hệ thống 4 mệnh đề lý thuyết (propositions):
- Mệnh đề 1 (P1): Huyền thoại hóa trong tiểu thuyết hiện đại là một hành động tự giác về nhận thức luận, chuyển dịch chức năng của huyền thoại từ giải thích tự nhiên cổ sơ sang công cụ giải mã những chấn thương tâm lý và xung đột xã hội phức tạp.
- Mệnh đề 2 (P2): Quá trình huyền thoại hóa vận hành đồng thời theo hai chiều kích biện chứng: "Huyền thoại hóa hiện thực" (nâng biến cố đời thường lên tầm phổ quát nhân loại) và "Giải huyền thoại" (hạ bệ, nhại lại các biểu tượng đại tự sự để phơi bày bản chất đời sống).
- Mệnh đề 3 (P3): Thi pháp huyền thoại hóa tái cấu trúc không - thời gian tiểu thuyết thành mô hình đa tầng, nơi thời gian lịch sử tuyến tính bị bẻ gãy để hòa trộn vào thời gian chu kỳ tâm linh và thời gian tâm tưởng vô thức.
- Mệnh đề 4 (P4): Liên văn bản huyền thoại đóng vai trò là "chiến lược diễn ngôn đối thoại" (theo Mikhail Bakhtin), tạo điều kiện cho văn bản mới chất vấn, tái định vị các giá trị văn hóa và đạo đức truyền thống.
Sự chuyển dịch hệ hình (paradigm shift) được minh chứng: tiểu thuyết Việt Nam đã đoạn tuyệt với nguyên tắc phản ánh mô phỏng ngoại tại (mimesis) cứng nhắc để xác lập nguyên tắc kiến tạo thực tại biểu trưng đa nghĩa.
Khung phân tích độc đáo
Khung phân tích của luận án tích hợp 4 trường phái lý thuyết:
- Lý thuyết Cổ mẫu (Archetypal Theory - Jung, Frye): Nhận diện các motif thái cổ (sự sinh nở kỳ lạ, bóng tối/Shadow, cái chết và hồi sinh, hành trình tìm kiếm căn cước).
- Thi pháp Huyền thoại (Mythopoetics - Meletinsky): Phân tích kỹ thuật lồng ghép cốt truyện thần thoại vào bối cảnh thực tại.
- Tự sự học Hậu hiện đại (Postmodern Narratology - Genette, Lyotard): Khảo sát cấu trúc trần thuật phi tuyến tính, điểm nhìn ảo giác, giải trung tâm hóa đại tự sự.
- Ký hiệu học & Liên văn bản (Semiotics & Intertextuality - Barthes, Kristeva): Giải mã mạng lưới biểu tượng văn hóa và sự tương tác giữa các tầng văn bản.
Giới hạn biên (boundary conditions) của khung phân tích: tập trung vào các tác phẩm xuất bản chính thống tại Việt Nam trong giai đoạn chuyển đổi kinh tế - xã hội sau 1986, mang tính chất bản địa hóa sâu sắc kết hợp với tiếp biến kỹ thuật phương Tây.
Phương pháp nghiên cứu tiên tiến
Thiết kế nghiên cứu
- Triết lý nghiên cứu: Nghiên cứu dựa trên hệ hình Giải thích luận (Interpretivism) kết hợp Chủ nghĩa hiện thực phê phán (Critical Realism), xem tác phẩm văn học là một cấu trúc động mang tải các ý nghĩa văn hóa, lịch sử và tâm thức tập thể cần được kiến giải sâu sắc.
- Thiết kế hỗn hợp định tính đa tầng (Multi-level Qualitative Design):
- Cấp độ Vĩ mô (Macro-level): Khảo sát bối cảnh lịch sử tư tưởng Đổi mới, sự suy thoái của phương pháp hiện thực xã hội chủ nghĩa và sự hội nhập lý thuyết văn học thế giới.
- Cấp độ Trung mô (Meso-level): Phân tích thi pháp thể loại (kết cấu, cốt truyện, không - thời gian, liên văn bản, điểm nhìn trần thuật) trên toàn bộ hệ thống tác phẩm.
- Cấp độ Vi mô (Micro-level): Đọc sâu (close reading), giải mã chi tiết các motif, biểu tượng, cấu trúc cú pháp và từ vựng mang tính huyền thoại hóa trong từng tác phẩm tiêu biểu.
Quy trình nghiên cứu rigorous
- Tiêu chí lựa chọn mẫu khảo sát (Sampling Criteria):
- Tác phẩm thuộc thể loại tiểu thuyết xuất bản tại các nhà xuất bản uy tín từ 1986 đến 2020.
- Có ý thức vận dụng nổi bật và nhất quán phương thức huyền thoại hóa như một nguyên tắc kiến tạo tác phẩm.
- Tạo hiệu ứng thẩm mỹ mạnh mẽ, được ghi nhận qua giải thưởng văn học, số lượng tái bản và sự quan tâm của giới phê bình.
- Chiến lược đối chiếu tam giác (Triangulation):
- Tam giác hóa dữ liệu (Data triangulation): So sánh giữa 3 tác giả nòng cốt (18 tác phẩm) với nhóm 10 tác phẩm đối chứng rộng rãi.
- Tam giác hóa lý thuyết (Theory triangulation): Đối chiếu kết quả phân tích dưới góc nhìn đồng thời của thi pháp học, phân tâm học và xã hội học văn hóa.
- Tam giác hóa nhà nghiên cứu (Investigator cross-check): Tổng hợp, kiểm chứng với các nhận định phê bình của các học giả đầu ngành trong và ngoài nước (Nguyễn Đăng Điệp, Thụy Khuê, Đặng Anh Đào, Wayne Karlin).
Data và phân tích
- Đặc tính mẫu khảo sát: Bộ dữ liệu bao gồm 28 cuốn tiểu thuyết đại diện trọn vẹn cho tiến trình vận động 35 năm văn xuôi Đổi mới. Trong đó, trục khảo sát chuyên sâu tập trung vào 3 tác giả trụ cột:
- Tạ Duy Anh: 4 tiểu thuyết tiêu biểu khảo sát toàn bộ chặng đường sáng tác từ 1992 đến 2016.
- Hồ Anh Thái: 7 tiểu thuyết bao quát từ 1990 đến 2016.
- Nguyễn Bình Phương: 7 tiểu thuyết từ 1999 đến 2017.
- Kỹ thuật phân tích:
- Sử dụng phương pháp cấu trúc - hệ thống nhằm xác lập mối liên hệ giữa các thành tố bên trong cấu trúc tác phẩm.
- Ứng dụng phương pháp loại hình học văn học để xác lập vị thế của "tiểu thuyết huyền thoại" như một phân nhóm thể loại độc lập trong văn xuôi đương đại.
- Phân tích liên văn bản và trần thuật học để lập bản đồ dịch chuyển điểm nhìn, cấu trúc đa giọng điệu (polyphony) và tầng bậc văn bản.
Phát hiện đột phá và implications
Những phát hiện then chốt
1. Phá vỡ triệt để mô hình không - thời gian tuyến tính, xác lập không gian huyền thoại đa chiều:
Luận án chỉ ra rằng các nhà văn sau 1986 đã vượt qua sự trói buộc của thời gian vật lý đo đếm được. Trong Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh, thời gian biến dạng thành dòng chảy hỗn độn của ký ức chấn thương tâm lý:
"hình thành trong bóng đêm, trong cơn say, trong điên khùng và hoảng loạn, từ vô thức, man rợ, từ nỗi buồn tình yêu và nỗi buồn chiến tranh" cùng sự xuất hiện của "những tảng thịt ròng ròng máu", "những lời đồn đại, những sấm truyền và những lời tiên tri" (Bảo Ninh, tr. 39).
Thời gian được huyền thoại hóa thành không gian tâm tưởng vô tận, nơi cõi sống và cõi chết, quá khứ và hiện tại giao hòa đồng hiện.
2. Tái cấu trúc cốt truyện qua trò chơi liên văn bản và giải huyền thoại (Demystification):
Thay vì mô tả hiện thực khách quan thuần túy, các tác giả vận dụng các motif huyền thoại, cổ tích dân gian nhưng nhào nặn lại dưới góc nhìn nghịch dị, giải thiêng. Điển hình trong Thiên sứ của Phạm Thị Hoài, motif sự sinh nở thần kỳ (như Thánh Gióng, Sọ Dừa) được tái hiện dưới hình thức lạ lùng mang tính châm biếm:
"Một hôm cả dây phơi quần áo nhà phơi bị quên đêm qua ngoài trời. Điều kỳ lạ là chỉ riêng bộ đồ lót của mẹ đẫm sương và loang lổ vết từa tựa như chàm... không lâu sau mẹ mang thai" (Phạm Thị Hoài, tr. 39-40).
Nhân vật bé Hon ra đời không lớn lên thành người khổng lồ cứu nước mà mãi mãi là một hài nhi không chịu trưởng thành, trở thành biểu tượng tra vấn sự xơ cứng, giả tạo của thế giới người lớn.
3. Đa dạng hóa và dịch chuyển điểm nhìn trần thuật siêu thực:
Điểm nhìn trần thuật không còn cố định ở ngôi thứ ba toàn tri mà dịch chuyển vào những chủ thể đặc biệt, chưa từng có trong truyền thống hiện thực. Trong Thiên thần sám hối của Tạ Duy Anh, điểm nhìn nghệ thuật được đặt trọn vẹn vào một "hài nhi trong bụng mẹ" đang chứng kiến thế giới bên ngoài và cân nhắc xem có nên cất tiếng khóc chào đời để làm người hay không, tạo ra sự thức tỉnh lương tri gay gắt đối với thực trạng tha hóa đạo đức xã hội.
4. Khám phá bản chất hiện thực ở tầng sâu tâm linh và hiện sinh:
Sự hòa quyện giữa thế giới trần tục và thế giới linh thiêng trong Mẫu Thượng Ngàn (Nguyễn Xuân Khánh) hay Người đi vắng, Những đứa trẻ chết già (Nguyễn Bình Phương) cho thấy ranh giới âm - dương bị xóa nhòa. Hiện thực không chỉ là những sự kiện kinh tế - xã hội hiển hiện mà bao gồm cả đời sống vô thức, linh cảm, ác mộng và những mối dây liên hệ tâm linh huyền bí chi phối số phận con người.
5. Định hình ba phong cách huyền thoại hóa cá nhân độc đáo:
- Tạ Duy Anh: Huyền thoại hóa để khám phá bản chất phi lý của tồn tại, nỗi đau đớn bản thể và hành trình tìm kiếm ý nghĩa làm người trước cái ác.
- Hồ Anh Thái: Huyền thoại hóa gắn liền với thế giới biểu tượng tâm linh phương Đông, kết hợp nhuần nhuyễn giữa cảm thức Phật giáo (luân hồi, nghiệp báo) và giọng điệu châm biếm, hoạt kê sâu cay.
- Nguyễn Bình Phương: Huyền thoại hóa thế giới nhân vật qua trạng thái vô thức, mộng du, sự xâm nhập của cõi âm và lối kiến tạo ngôn ngữ ảo mộng, đa thanh, ma mị.
Implications đa chiều
- Đóng góp lý thuyết: Bổ sung vào hệ thống lý luận văn học Việt Nam một khung diễn giải hoàn chỉnh về thi pháp tiểu thuyết huyền thoại; chứng minh rằng việc ly khai mỹ học hiện thực xã hội chủ nghĩa là quy luật tất yếu để văn học bước vào kỷ nguyên hiện đại và hậu hiện đại.
- Đổi mới phương pháp luận: Cung cấp quy trình tích hợp giữa thi pháp học cấu trúc và giải thích học văn hóa (cultural hermeneutics), có thể ứng dụng trực tiếp để phân tích các trào lưu tiểu thuyết cách tân khác ở khu vực Đông Nam Á.
- Ứng dụng thực tiễn sáng tác: Gợi mở cho các nhà văn đương đại con đường làm mới chất liệu văn hóa dân gian, khai thác kho tàng cổ mẫu bản địa mà không rơi vào sao chép truyền thống hay mô phỏng phương Tây một cách khiên cưỡng.
- Định hướng phê bình và giảng dạy đại học: Xác lập tiêu chí thẩm mỹ mới giúp giới phê bình và độc giả vượt qua "những ánh mắt nghi ngại, do dự" khi tiếp nhận các tác phẩm phá cách, đưa tiểu thuyết huyền thoại vào chương trình giảng dạy chính quy bậc đại học và sau đại học.
Limitations và Future Research
Hạn chế học thuật
- Luận án tập trung chủ yếu vào các tác phẩm viết bằng tiếng Việt xuất bản trong nước, chưa bao quát sâu mảng tiểu thuyết của các tác giả Việt kiều ở hải ngoại viết về đề tài huyền thoại hóa lịch sử.
- Phương pháp phân tích văn bản chủ yếu dựa trên thao tác định tính của chuyên gia, chưa kết hợp công cụ ngôn ngữ học tính toán (Computational Stylistics/NLP) để định lượng tần suất xuất hiện của các trường từ vựng biểu tượng.
- Giới hạn thời gian khảo sát chính dừng lại ở năm 2020, chưa kịp tích hợp một số tiểu thuyết mang khuynh hướng sinh thái - huyền thoại (Eco-mythology) mới xuất bản gần đây.
Hướng nghiên cứu tương lai
- Hướng 1: Mở rộng nghiên cứu so sánh đối chiếu thi pháp huyền thoại hóa trong tiểu thuyết Việt Nam với các nền văn học Đông Nam Á (Indonesia, Philippines, Thái Lan) có cùng bối cảnh hậu thực dân và tín ngưỡng bản địa đa tầng.
- Hướng 2: Ứng dụng Phê bình sinh thái (Ecocriticism) kết hợp Thi pháp huyền thoại để giải mã mối quan hệ giữa con người, thiên nhiên hoang dã và thần linh trong văn xuôi đương đại.
- Hướng 3: Khảo sát sự chuyển dịch của phương thức huyền thoại hóa sang các hình thức nghệ thuật phái sinh như điện ảnh chuyển thể, sân khấu đương đại và tiểu thuyết đồ họa.
- Hướng 4: Ứng dụng các thuật toán khai phá văn bản (Text mining) để định lượng hóa sự biến đổi của mạng lưới cổ mẫu qua từng thập niên văn học Đổi mới.
Tác động và ảnh hưởng
- Tác động học thuật: Dự kiến tạo ra nguồn trích dẫn nền tảng cho các công trình nghiên cứu sau đại học về thi pháp học văn xuôi Việt Nam, định hình một chuẩn mực mới trong nghiên cứu tiểu thuyết Đổi mới.
- Đổi mới giáo dục đại học: Cung cấp tài liệu tham khảo chuyên khảo giá trị cho các học phần Thi pháp học hiện đại, Tiến trình văn học Việt Nam đương đại, Lý luận văn học nâng cao tại các trường đại học sư phạm và khoa học xã hội nhân văn.
- Thúc đẩy dịch thuật và giao lưu quốc tế: Góp phần làm rõ giá trị nghệ thuật của các tiểu thuyết gia hàng đầu (Bảo Ninh, Hồ Anh Thái, Nguyễn Bình Phương), tạo cơ sở học thuật vững chắc cho các dự án dịch thuật văn học Việt Nam đương đại ra thế giới.
- Bảo tồn và tái sinh di sản văn hóa: Khẳng định sức sống trường tồn của các biểu tượng văn hóa truyền thống (Đạo Mẫu, truyền thuyết dân gian, cổ tích) khi được tái sinh trong không gian văn chương hiện đại.
Đối tượng hưởng lợi
- Nghiên cứu sinh và Học viên cao học: Tiếp cận khung phân tích mẫu mực về thi pháp học, phương pháp luận nghiên cứu văn học đa tầng và cách thức giải quyết một research gap phức tạp.
- Giảng viên và Nhà nghiên cứu văn học: Có thêm công trình chuyên khảo hệ thống, giàu dẫn chứng văn bản và cứ liệu khoa học để phục vụ công tác giảng dạy và nghiên cứu chuyên sâu.
- Giới nhà văn và người sáng tác trẻ: Nhận thức rõ tiềm năng to lớn của thi pháp huyền thoại hóa như một phương thức giải phóng trí tưởng tượng, làm chủ kỹ thuật liên văn bản và nâng tầm chiều sâu triết mỹ cho tác phẩm.
- Nhà phê bình và Biên tập viên xuất bản: Có hệ quy chiếu thẩm mỹ khách quan, đa chiều để thẩm định, đánh giá và định hướng tiếp nhận cho các tác phẩm có yếu tố kỳ ảo, phi lý, đa tầng điểm nhìn.
Câu hỏi chuyên sâu
1. Đóng góp lý thuyết độc đáo nhất của luận án là gì và đã mở rộng lý thuyết nào?
Luận án đã mở rộng lý thuyết Thi pháp của huyền thoại của E. Meletinsky và Phê bình cổ mẫu của C.G. Jung vào việc giải mã tiến trình hiện đại hóa văn xuôi của một quốc gia chuyển đổi tư tưởng sau 1986. Đóng góp độc đáo nhất là chứng minh huyền thoại hóa không chỉ là sự "hồi quy mẫu gốc" mà là một "chiến lược tự sự phức hợp", vận hành đồng thời giữa việc tái sinh cổ mẫu để khám phá bản thể và nhại huyền thoại/giải thiêng để phản biện các đại tự sự xơ cứng.
2. Điểm cách tân phương pháp luận của luận án khi so sánh với các nghiên cứu trước đây?
So với nghiên cứu của Bùi Thanh Truyền (2006) chỉ tập trung vào yếu tố kỳ ảo như một thủ pháp, hay Nguyễn Thị Ái Thoa (2019) dừng lại ở việc miêu tả biểu hiện huyền thoại, luận án của Nguyễn Thị Thủy tiếp cận huyền thoại hóa như một hệ hình thi pháp thể loại tổng thể. Luận án tích hợp đồng bộ giữa cấu trúc tự sự học (Narratology), liên văn bản (Intertextuality) và giải thích học văn hóa (Hermeneutics), đặt tác phẩm trong sự đối sánh trực tiếp với các dòng chảy văn học thế giới (Kafka, Marquez).
3. Phát hiện bất ngờ và thú vị nhất rút ra từ dữ liệu khảo sát là gì?
Phát hiện bất ngờ nhất là sự tương thích kỳ lạ giữa tư duy huyền thoại cổ xưa và thi pháp tiểu thuyết hậu hiện đại. Việc các nhà văn quay về với cấu trúc phi lý, không gian mộng mị, nhân vật đa nhân cách không hề kéo lùi văn học về quá khứ nguyên thủy, mà ngược lại, chính là công cụ sắc bén nhất để giải kiến tạo các khuôn mẫu tư duy giáo điều, thể hiện chính xác cảm thức bất an, phân mảnh của con người thời kỳ toàn cầu hóa.
4. Luận án có cung cấp quy trình và tiêu chí phân tích có thể tái lập (replication protocol) không?
Có. Luận án thiết lập một ma trận phân tích thi pháp 4 chiều rõ ràng: (1) Cấu trúc cốt truyện & biến dạng không - thời gian; (2) Kỹ thuật liên văn bản & giải huyền thoại; (3) Hệ thống dịch chuyển điểm nhìn nghệ thuật; (4) Bản đồ hóa phong cách tác giả dựa trên tần suất motif. Bộ tiêu chí này hoàn toàn có thể tái lập để khảo sát các tác giả hoặc thể loại khác (truyện ngắn, trường ca đương đại).
5. Chương trình nghị sự nghiên cứu 10 năm tới mở ra từ luận án này là gì?
Chương trình nghiên cứu 10 năm tới bao gồm việc mở rộng sang: (1) Thi pháp học huyền thoại trong văn học mạng và tiểu thuyết kỳ ảo (Fantasy) đương đại; (2) Nghiên cứu so sánh xuyên quốc gia về huyền thoại hóa chấn thương chiến tranh ở văn học Đông Á và Đông Nam Á; (3) Tích hợp công nghệ nhân văn số (Digital Humanities) để mô hình hóa mạng lưới cổ mẫu văn hóa Việt trong không gian số.
Kết luận
- Khẳng định tính tất yếu của bước ngoặt tư duy: Luận án chứng minh một cách khoa học rằng việc vận dụng phương thức huyền thoại hóa trong tiểu thuyết Việt Nam từ 1986 đến nay là kết quả tất yếu của quá trình giải phóng tư duy nghệ thuật, ly khai những quan niệm phản ánh hiện thực xã hội chủ nghĩa xơ cứng để hòa nhập vào dòng chảy thẩm mỹ hiện đại của nhân loại.
- Xác lập hệ thống thi pháp thể loại hoàn chỉnh: Công trình làm sáng rõ sự biến đổi căn bản của thi pháp tiểu thuyết trên 4 phương diện trọng yếu: phá vỡ cốt truyện tuyến tính để dung nạp nhân tố ngẫu nhiên, phi lý; kết nối phóng khoáng không - thời gian đa chiều; vận hành trò chơi liên văn bản để đối thoại mở; và đa dạng hóa điểm nhìn trần thuật siêu thực.
- Minh chứng sự thành công của các phong cách tác giả tiêu biểu: Khảo sát chuyên sâu đã chỉ ra sự thăng hoa của phương thức huyền thoại hóa qua các chân dung văn học độc đáo: một Tạ Duy Anh đau đáu về bản chất phi lý và tội lỗi con người; một Hồ Anh Thái tài hoa trong dung hợp biểu tượng tâm linh và hoạt kê thế sự; một Nguyễn Bình Phương ma mị trong kiến tạo không gian mộng ảo và vô thức.
- Đóng góp vào tiến trình chuyển đổi hệ hình nghiên cứu: Luận án tạo ra một bước tiến vững chắc từ phê bình xã hội học dung tục sang phê bình thi pháp học hiện đại và phân tâm học văn hóa, nâng cao năng lực giải mã các cấu trúc biểu tượng phức tạp trong văn học Việt Nam.
- Mở ra các dòng nghiên cứu học thuật mới: Đặt nền móng lý thuyết vững chắc cho các hướng nghiên cứu liên ngành tiếp nối như phê bình sinh thái - huyền thoại, nghiên cứu tự sự hậu thực dân, và thi pháp học so sánh khu vực Đông Nam Á.
- Xác lập giá trị di sản và tầm vóc quốc tế: Khẳng định sức sống mãnh liệt của bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam khi được tái cấu trúc qua các phương thức nghệ thuật đỉnh cao, đưa tiểu thuyết đương đại Việt Nam tự tin đối thoại bình đẳng với các thành tựu văn xuôi lớn trên thế giới.