Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1. Tình hình nghiên cứu về lí thuyết thể loại 1. Trên thế giới Tuyển tập thơ văn xuôi (Việt Nam và nước ngoài) có trích dẫn từ Từ điển văn học (Pháp) những quan niệm về thơ văn xuôi của Cha xứ địa phận La Bresche, của Guze De Balzac và Baudelaire. Trong lời giới thiệu Thơ văn xuôi: Hợp tuyển quốc tế , Michael Benedikt cũng đưa ra quan niệm về thơ văn xuôi.
Bài viết What is a prose poem? đề cập đến khái niệm, sự hình thành và phát triển của thể thơ này. Và ở The American prose poem, Poetic form and the Boundaries of Genre, Michel Delville cũng có nói đến đến lịch sử của thể thơ. Song, thật sự so 2 với thành tựu thơ văn xuôi trên thế giới thì những nghiên cứu về thể loại đi vào Việt Nam là vô cùng hạn chế. Ở Việt Nam Ở Việt Nam, những công trình, bài viết tiêu biểu bàn luận trực tiếp về thơ văn xuôi có thể kể: Một vài ý kiến về thơ văn xuôi (Xuân Diệu), Thơ văn xuôi (Hà Minh Đức), Tư duy và cấu trúc nghệ thuật thơ văn xuôi (Nguyễn Ngọc Thiện), Thơ văn xuôi hay là thơ không vần (Nguyễn Trọng Tạo), Nghĩ về thơ văn xuôi (Nguyễn Đăng Điệp), Một số đặc điểm của thơ văn xuôi (Lê Thị Hồng Hạnh), Thơ văn xuôi - nhu cầu tự thân của thời đại (Dương Kiều Minh), Thơ văn xuôi - tiềm năng và phát triển (Nguyễn Văn Dân),…Bên cạnh đó là những chuyên luận về thơ Việt Nam hiện đại, đương đại có những quan tâm đến thể thơ này: Thơ trữ tình Việt Nam (1975 - 1990) của Lê Lưu Oanh, Thơ trữ tình Việt Nam từ giữa thập kỉ 80 đến nay - Những đổi mới cơ bản của Đặng Thu Thủy,… Những nghiên cứu thơ văn xuôi ở nhà trường như: Diện mạo thơ văn xuôi Việt (Hồ Tú Anh), Bước đầu tìm hiểu một số đặc điểm của thơ văn xuôi và sự thể nghiệm của thể thơ này trong phong trào Thơ mới ở Việt Nam (Trần Ngọc Hiếu), Sự thâm nhập của chất văn xuôi vào thơ Việt Nam đương đại (Nguyễn Thanh Tâm),… Với những nghiên cứu này, có thể nói, những vấn đề về khái niệm, về đặc điểm, ranh giới phân loại, những kết tinh nghệ thuật cũng như tiềm năng và triển vọng của thể thơ đã được bàn luận ở đây.
Nhìn tổng thể, những vấn đề cốt lõi của thể loại đều đã được đề cập. Song, đa phần là những ý kiến có tính chất tản mạn, chưa bao quát và đặc biệt chưa có được tiếng nói đồng thuận cao, những nhận định phần lớn được nêu lên một cách khá dè dặt, cảm tính. Tình hình nghiên cứu về thơ văn xuôi Việt Nam Ở mảng này tiêu biểu có bài viết của Lưu Khánh Thơ, Vũ Quỳnh Loan ghi nhận về các chặng đường phát triển của thơ văn xuôi Việt Nam với những thành công của nó. Nghiên cứu ở nhà trường tiêu biểu có tiểu luận của Trần Ngọc Hiếu, luận văn của Lê Thị Hồng Hạnh, Lê Ngọc Chương, Trần Thị Phúc Hiếu, luận án của Vũ Quỳnh Loan,.
Phần nghiên cứu này tập trung vào việc tìm hiểu đặc điểm của thể thơ ở hai phương diện nội dung và hình thức song đa phần cũng chỉ dừng lại khảo sát đối tượng chính là thơ văn xuôi trong Tuyển tập thơ văn xuôi (Việt 3 Nam và 4 nước ngoài) của Nguyễn Văn Hoa và Nguyễn Ngọc Thiện [44]. Luận án của Vũ Quỳnh Loan mở rộng thêm hệ biểu tượng cơ bản trong thơ văn xuôi và đặt thơ văn xuôi trong tiến trình thơ Việt Nam hiện đại. Mảng viết về tác giả tiêu biểu có các bài viết về Đặng Đình Hưng của Thụy Khuê, Đỗ Lai Thúy, về Chế Lan Viên của Nguyễn Lâm Điền, Lý Toàn Thắng và về Mai Văn Phấn của Nguyễn Ngọc Thiện,. Phần nghiên cứu này thật sự vô cùng hạn chế, song các bài viết cũng đã tập trung vào những tác giả là tiêu điểm của thể loại.
Nhìn chung, các tài liệu nghiên cứu đều chú ý đến những vấn đề cốt lõi của thể loại, song phần nhiều chỉ dừng lại ở những nhận định khái quát, chưa có sự phân tích, triển khai sâu rộng, cụ thể nên việc nhận diện nó vẫn còn nhiều khó khăn, nhiều vấn đề đặt ra chưa có được sự thống nhất, vẫn còn bỏ ngỏ. Ở mảng nghiên cứu mang tính trường qui, từ năm 2000 đến nay, thơ văn xuôi cũng nhận được sự quan tâm đáng kể. Tuy nhiên, chưa có một tài liệu nào bao quát được tư liệu khảo sát. Mảng nghiên cứu về tác giả thì thật sự còn rất khiêm tốn.
Xuất phát từ tình hình nghiên cứu như đã tổng thuật, nhiệm vụ của luận án trước tiên sẽ hệ thống lại lí thuyết thể loại trên tinh thần kế thừa và đối thoại. Tiếp đến là phác thảo diện mạo thơ văn xuôi Việt Nam từ đầu thế kỉ XX đến nay. Và cuối cùng là làm rõ những đặc trưng nổi bật của thơ văn xuôi Việt Nam. NHỮNG TIỀN ĐỀ NGHIÊN CỨU THƠ VĂN XUÔI 2.
Nhận diện thơ văn xuôi 2. Quan niệm thơ văn xuôi Đồng nhất thơ văn xuôi với văn xuôi có chất thơ (những trích dẫn của Từ điển văn học Pháp). Quan điểm này cho rằng các áng văn xuôi thi vị, đậm màu sắc tu từ chính là thơ văn xuôi. Thật ra giữa chúng có nhiều điểm chung, song một bên thuộc loại hình văn xuôi, một bên thuộc loại hình thơ nên không thể đồng nhất.
Đồng nhất thơ văn xuôi với thơ không vần (Baudelaire, Từ điển thuật ngữ văn học, Nguyễn Trọng Tạo,. Theo chúng tôi, thể thơ này không chú trọng vần, song cũng không từ chối nó triệt để. Vẫn có những thi phẩm mà ở đó B - T được hòa phối đăng đối, nhịp nhàng, hay vần lưng, vần chân vẫn xuất hiện tuy không xuyên suốt. 5 Thơ văn xuôi là thể thơ có hình thức không ngắt dòng.
Tiêu biểu cho quan điểm này là bài viết What is a prose poem?, lời giới thiệu trong Thơ văn xuôi: Hợp tuyển quốc tế và tác giả M. Abrams khi nói về Paris u buồn của Baudelaire, Hoa đăng của Rimbaud. Theo chúng tôi, quan điểm này đã chỉ ra đặc điểm cốt lõi của tác phẩm thơ văn xuôi tiêu biểu. Song, thực tiễn sáng tác cho thấy thơ văn xuôi không chỉ gồm những bài được viết dưới hình thức không phân dòng.
Quan niệm của luận án về thơ văn xuôi: là thể thơ trữ tình có cấu trúc câu giống như văn xuôi, câu thơ có xu hướng kéo dài hoặc tiếp nối nhau, tổ chức theo mô hình của văn bản văn xuôi, nhịp điệu không cố định, không chịu sự ràng buộc của bất kì hệ thống âm luật nào. Thơ văn xuôi xuất hiện ở hai dạng. Dạng chuẩn, là những bài thơ được trình bày dưới hình thức văn bản văn xuôi không phân dòng. Dạng mở rộng, đó là những bài thơ tự do có câu thơ kéo dài quá 11,12 âm tiết và những bài văn xuôi trữ tình giàu chất thơ, có dung lượng ngắn.Vài tiêu chí nhận diện thơ văn xuôi Theo chúng tôi, những hạt nhân thể loại đặc thù có thể xem là đặc điểm để nhận diện của thơ văn xuôi là những điểm nổi bật sau: 2.
Tự do trong hình thức tổ chức bài thơ Trước hết là tự do trong tổ chức câu thơ. Câu thơ văn xuôi không gò mình trong số lượng âm tiết qui định, cũng không ngắt dòng, không bận tâm việc gieo vần, phối thanh. Ở hình thức câu văn xuôi, nó gần như chỉ phụ thuộc vào cảm xúc, ý tưởng của người làm thơ. Trong hình thức kết cấu bài thơ, nó xuất hiện thường xuyên ở dạng văn bản văn xuôi tự do, hay những đoạn văn xuôi kết hợp những đoạn thơ.
Cũng có khi nó xuất hiện dưới dạng một tùy bút, một truyện ngắn, một vở kịch ngắn, một biên bản hay hình thức một lá thư,… Có thể nói, hình thức tổ chức văn bản của thể thơ văn xuôi hết sức phong phú, đa dạng, thật sự tự do. Nội dung thi tứ đậm màu sắc trí tuệ Thi tứ của thơ văn xuôi thường nổi bật với chiều sâu trí tuệ. Bởi hình thức linh hoạt của văn xuôi đã đưa thể thơ này vượt qua ranh giới qui phạm về vần điệu, âm luật của thơ. Để khắc sâu vào ấn tượng của người đọc, nó dựa vào thi tứ là chính.
Nó phải mới lạ, độc đáo trong cấu tứ, phải có “những liên hệ tư tưởng bất ngờ”, khả năng đặt ra những vấn 6 đề có sức ám ảnh lớn. Chất trí tuệ còn bộc lộ qua khả năng liên tưởng. Liên tưởng trong thơ văn xuôi thường hết sức dồi dào. Nhiều bài thơ văn xuôi với sự bay bổng, phóng khoáng của liên tưởng đã biến hiện thực nơi đó thành thế giới của cõi mơ, cõi siêu hình hay của miền suy tưởng.
Khuynh hướng giấu nhạc tính Nhạc tính trong thơ được tạo lập từ: vần, nhịp, thanh, kể cả ngữ điệu cá nhân. Song, với thơ văn xuôi nó chỉ chú trọng đến nhịp điệu và thanh điệu. Tuy nhiên, nhịp điệu ở thơ văn xuôi cũng không dễ nhận diện bởi nó chủ yếu là nhịp cảm xúc, nhịp ý tưởng. Về thanh điệu, thơ văn xuôi vẫn coi việc phối thanh hài hòa là cần thiết.
Song, nó cũng hòa phối tự do theo cảm xúc của tác giả chứ không theo luật bằng - trắc. Có thể nói, nhạc của thơ văn xuôi chủ yếu là thứ “nhạc bên trong”, nhạc của tâm hồn. Chính vì vậy, khuynh hướng giấu nhạc tính cũng là đặc điểm nổi bật của thơ văn xuôi. Thơ văn xuôi và các tương quan thể loại 2.
Thơ văn xuôi trong tương quan với thể loại gốc - thơ và văn xuôi Thơ văn xuôi khác với các thể thơ khác ở chỗ nó bứt ra khỏi những ràng buộc về vận luật, bài thơ không chia khổ, không phân dòng, không lấy hình thức dòng thơ làm đơn vị nhịp điệu, không chịu quy định về số từ trong một tiết tấu và số lượng tiết tấu trong một câu thơ. Thơ văn xuôi giống với văn xuôi ở việc sử dụng các kiểu cấu trúc tầng bậc, các loại câu mở rộng. Mặt khác, so với văn xuôi, nó còn có lợi thế về vần và nhịp điệu. Thơ văn xuôi trong tương quan với các thể lân cận Với văn xuôi trữ tình, thơ văn xuôi có nhiều điểm chung, song chúng vẫn thuộc hai loại hình.
Do đó, đều chú trọng khai thác thế giới nội tâm nhưng với văn xuôi trữ tình cái xác thực vẫn còn là điểm tựa của những xúc cảm, suy tư. Trong khi ở thơ văn xuôi, bài thơ hầu như chỉ là những khám phá, thể hiện tâm tư, tình cảm của nhân vật trữ tình.