Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ ngữ văn với đề tài "Đặc trưng thơ văn xuôi Việt Nam hiện đại" do nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Chính thực hiện tại Trường Đại học Khoa học - Đại học Huế (năm 2016), dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Đỗ Lai Thúy và TS. Hoàng Đức Khoa, thuộc chuyên ngành Văn học Việt Nam (mã số: 62 22 01 21).

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Thơ văn xuôi đã hiện diện trên thế giới từ đầu thế kỷ XIX và du nhập, phát triển tại Việt Nam gần một thế kỷ. Tuy nhiên, thể loại này chưa thực sự quen thuộc với mọi đối tượng độc giả và chưa được giới nghiên cứu thừa nhận một cách đồng thuận, thỏa đáng. Trong nhiều công trình tổng kết về bức tranh thơ ca của một giai đoạn lịch sử hay sự nghiệp sáng tác của từng tác giả, thơ văn xuôi thường bị bỏ quên hoặc chỉ được đề cập lướt qua. Từ sau năm 1975, số lượng sáng tác và bài viết nghiên cứu về thơ văn xuôi tăng lên, song các nhận định vẫn còn bề bộn, thiếu tính hệ thống; các vấn đề cốt lõi như tên gọi, đặc điểm và tiêu chí nhận diện thể loại vẫn là đối tượng gây nhiều tranh cãi. Với tư cách là một thể thơ lai ghép, giữ vị trí trung gian giữa thơ và văn xuôi, việc xác lập các đặc trưng bản thể của thơ văn xuôi là yêu cầu cấp thiết nhằm định vị thể loại trong hệ thống thể loại thơ ca dân tộc, đồng thời phục vụ công tác nghiên cứu và giảng dạy văn học.

Mục tiêu nghiên cứu

Luận án xác định ba mục tiêu cụ thể:

  1. Bao quát thực tiễn sáng tác thơ văn xuôi Việt Nam, phác thảo diện mạo và tiến trình phát triển của thể loại từ đầu thế kỷ XX đến nay.
  2. Xác định và chỉ rõ các đặc trưng nghệ thuật cơ bản của thơ văn xuôi Việt Nam.
  3. Đóng góp vào việc xác lập vị trí của thơ văn xuôi trong hệ thống thể loại của nền thơ ca dân tộc.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Toàn bộ các sáng tác thơ văn xuôi Việt Nam từ đầu thế kỷ XX đến thời điểm nghiên cứu (năm 2016).
  • Phạm vi nghiên cứu: Tập trung làm rõ các đặc trưng nghệ thuật của thơ văn xuôi Việt Nam hiện đại qua các bình diện: hệ hình tư duy, cái tôi trữ tình, kết cấu văn bản, ngôn ngữ nghệ thuật và nhịp điệu.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Các hướng nghiên cứu trước đây

Luận án tiến hành tổng thuật tư liệu nghiên cứu ở hai bình diện quốc tế và trong nước:

1. Nghiên cứu lý thuyết thể loại trên thế giới

Nguồn lý thuyết quốc tế đi vào Việt Nam tương đối hạn chế, chủ yếu qua các tài liệu:

  • Trích dẫn từ Từ điển văn học Pháp về quan niệm thơ văn xuôi của Cha xứ địa phận La Bresche, Guze De Balzac và Charles Baudelaire.
  • Tiểu luận giới thiệu trong Thơ văn xuôi: Hợp tuyển quốc tế của Michael Benedikt.
  • Bài viết What is a prose poem? bàn về khái niệm, nguồn gốc và tiến trình thể loại.
  • Công trình The American prose poem, Poetic form and the Boundaries of Genre của Michel Delville nghiên cứu lịch sử phát triển của thể loại.
  • Chuyên luận của M. Abrams khi phân tích tập Paris u buồn của Charles Baudelaire và Hoa đăng của Arthur Rimbaud.

2. Nghiên cứu thơ văn xuôi tại Việt Nam

  • Các bài viết, tiểu luận bàn luận trực tiếp: Xuân Diệu (Một vài ý kiến về thơ văn xuôi), Hà Minh Đức (Thơ văn xuôi), Nguyễn Ngọc Thiện (Tư duy và cấu trúc nghệ thuật thơ văn xuôi), Nguyễn Trọng Tạo (Thơ văn xuôi hay là thơ không vần), Nguyễn Đăng Điệp (Nghĩ về thơ văn xuôi), Lê Thị Hồng Hạnh (Một số đặc điểm của thơ văn xuôi), Dương Kiều Minh (Thơ văn xuôi - nhu cầu tự thân của thời đại), Nguyễn Văn Dân (Thơ văn xuôi - tiềm năng và phát triển).
  • Các chuyên luận thơ hiện đại, đương đại: Lê Lưu Oanh (Thơ trữ tình Việt Nam (1975 - 1990)), Đặng Thu Thủy (Thơ trữ tình Việt Nam từ giữa thập kỉ 80 đến nay - Những đổi mới cơ bản).
  • Nghiên cứu trường quy (luận văn, luận án, tiểu luận khoa học): Hồ Tú Anh (Diện mạo thơ văn xuôi Việt), Trần Ngọc Hiếu (Bước đầu tìm hiểu một số đặc điểm của thơ văn xuôi và sự thể nghiệm của thể thơ này trong phong trào Thơ mới ở Việt Nam), Nguyễn Thanh Tâm (Sự thâm nhập của chất văn xuôi vào thơ Việt Nam đương đại); các luận văn của Lê Thị Hồng Hạnh, Lê Ngọc Chương, Trần Thị Phúc Hiếu; luận án của Vũ Quỳnh Loan (nghiên cứu hệ biểu tượng và tiến trình phát triển); các bài viết của Lưu Khánh Thơ, Vũ Quỳnh Loan. Nguồn khảo sát chính của các công trình này chủ yếu dựa trên Tuyển tập thơ văn xuôi (Việt Nam và nước ngoài) do Nguyễn Văn Hoa và Nguyễn Ngọc Thiện biên soạn.
  • Nghiên cứu về tác giả sáng tác thơ văn xuôi: Thụy Khuê, Đỗ Lai Thúy (nghiên cứu về Đặng Đình Hưng); Nguyễn Lâm Điền, Lý Toàn Thắng (nghiên cứu về Chế Lan Viên); Nguyễn Ngọc Thiện (nghiên cứu về Mai Văn Phấn).

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết

Các nghiên cứu trước đây đã chạm đến những vấn đề cốt lõi nhưng phần lớn còn mang tính tản mạn, quy mô khảo sát hẹp, các nhận định đưa ra còn dè dặt, mang tính cảm tính và chưa có sự đồng thuận học thuật. Chưa có công trình nào bao quát toàn diện nguồn tư liệu sáng tác suốt một thế kỷ (kể cả mảng thơ văn xuôi miền Nam giai đoạn 1955-1975). Luận án lựa chọn giải quyết khoảng trống này bằng cách hệ thống hóa lý thuyết thể loại trên tinh thần kế thừa và đối thoại, vận dụng lý thuyết hệ hình để miêu tả tiến trình lịch đại và làm rõ các phương thức nghệ thuật đặc trưng mang tính thi pháp học.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và khung phân tích

  • Khái niệm và dạng thức thơ văn xuôi: Luận án quan niệm thơ văn xuôi là thể thơ trữ tình có cấu trúc câu giống như văn xuôi, câu thơ có xu hướng kéo dài hoặc tiếp nối nhau, tổ chức theo mô hình của văn bản văn xuôi, nhịp điệu không cố định và không chịu sự ràng buộc của bất kỳ hệ thống âm luật nào. Thể loại này tồn tại ở hai dạng thức:
    1. Dạng chuẩn: Các tác phẩm trình bày dưới hình thức văn bản văn xuôi hoàn chỉnh, không phân dòng.
    2. Dạng mở rộng: Các bài thơ tự do có dòng thơ kéo dài quá 11 đến 12 âm tiết, hoặc các đoạn văn xuôi trữ tình dung lượng ngắn giàu chất thơ.
  • Tiêu chí nhận diện hạt nhân: Gồm 3 tiêu chí cốt lõi: (1) Tự do trong hình thức tổ chức văn bản và câu thơ; (2) Nội dung thi tứ mang chiều sâu trí tuệ và trường liên tưởng rộng; (3) Khuynh hướng giấu nhạc tính (chuyển trọng tâm từ nhạc âm thanh sang nhạc tâm hồn/nhạc cảm xúc).
  • Lý thuyết hệ hình (Paradigm): Bắt nguồn từ thuật ngữ của Ferdinand de Saussure trong ngôn ngữ học cấu trúc, chuyển hóa qua triết học thành phương pháp luận nghiên cứu và được Đỗ Lai Thúy ứng dụng vào nghiên cứu văn học tại Việt Nam. Dựa trên quan niệm về thực tại (theo Đỗ Lai Thúy, Hoàng Ngọc Tuấn, Đào Tuấn Ảnh), luận án phân chia ba hệ hình: tiền hiện đại, hiện đại chủ nghĩa và hậu hiện đại chủ nghĩa.
  • Lý thuyết ngôn ngữ học thi ca: Ứng dụng luận điểm của Roman Jakobson trong bài viết Thơ là gì về bản chất tự trị của ngôn ngữ thi ca và nguyên lý tương đương (sự quy chiếu của trục lựa chọn lên trục kết hợp).

Phương pháp nghiên cứu

Luận án phối hợp các phương pháp nghiên cứu định tính chuyên ngành văn học:

  • Phương pháp loại hình: Xác định vị trí thể loại của thơ văn xuôi trong tương quan với thơ và văn xuôi.
  • Phương pháp hệ hình: Mô hình hóa các giai đoạn vận động của thơ văn xuôi gắn liền với sự biến đổi trong quan niệm nghệ thuật về thực tại và con người.
  • Phương pháp so sánh - đối chiếu: Đối sánh thơ văn xuôi với thơ cách luật, thơ tự do và văn xuôi trữ tình.
  • Phương pháp tiếp cận thi pháp học và các thao tác văn bản: Khảo sát văn bản, phân tích cấu trúc, thống kê và phân loại các thủ pháp nghệ thuật.

Nguồn tư liệu nghiên cứu

Khảo sát các tác phẩm thơ văn xuôi Việt Nam từ phong trào Thơ mới (1932-1945), giai đoạn 1945-1975 (bao gồm sáng tác ở miền Bắc và thơ đô thị miền Nam 1955-1975), giai đoạn sau 1975, thời kỳ sau Đổi mới 1986 cho đến những năm đầu thế kỷ XXI.


Nội dung chính theo từng chương

Chương 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu

Chương này tổng thuật toàn diện lịch sử nghiên cứu lý thuyết thể loại trên thế giới và tại Việt Nam. Tác giả chỉ ra rằng các công trình trong nước từ trước đến nay chủ yếu dừng lại ở các bài báo riêng lẻ, nhận định tản mạn hoặc các nghiên cứu trường quy khảo sát trên phạm vi hẹp. Luận án xác định nhiệm vụ khoa học là hệ thống hóa lại lý thuyết, xây dựng bức tranh toàn cảnh về diện mạo thơ văn xuôi Việt Nam suốt một thế kỷ và làm rõ các đặc trưng nghệ thuật của thể loại.

Chương 2. Những tiền đề nghiên cứu thơ văn xuôi

Chương 2 tập trung giải quyết các vấn đề lý thuyết nền tảng:

1. Nhận diện và phân biệt thể loại

Tác giả đối thoại và phản biện các quan điểm đồng nhất thơ văn xuôi với văn xuôi có chất thơ (Từ điển văn học Pháp), đồng nhất với thơ không vần (Baudelaire, Nguyễn Trọng Tạo) hoặc tuyệt đối hóa hình thức không ngắt dòng. Luận án xác lập ranh giới thể loại qua bảng đối sánh:

Tiêu chí so sánh Thơ văn xuôi Thơ tự do Văn xuôi trữ tình
Phân dòng văn bản Không phân dòng (dạng chuẩn) hoặc câu quá dài (dạng mở rộng) Có phân dòng Không phân dòng, tổ chức theo đoạn văn xuôi
Ràng buộc âm luật Hoàn toàn giải phóng khỏi niêm luật, vần điệu cố định Co dãn linh hoạt nhưng vẫn giữ cấu trúc dòng thơ Tuân thủ ngữ pháp văn xuôi, không gò ép âm luật
Điểm tựa phản ánh Khám phá thế giới tâm tư, dòng ý thức nhân vật trữ tình Biểu đạt cảm xúc trữ tình qua tiết tấu dòng Dựa vào tính xác thực của đối tượng khách quan
Mạch vận động Mạch liên tưởng tự do, khó nắm bắt, đa nghĩa Theo nhịp cảm xúc của dòng thơ Mạch lập luận, chủ đề tư tưởng tương đối rõ ràng

2. Tiền đề hình thành thơ văn xuôi Việt Nam

Luận án chỉ ra ba tiền đề cốt lõi:

  • Tiền đề tư duy nội sinh: Các thể điệu trung gian trong văn xuôi cổ điển dân tộc (như thể phú, văn tế) đã tạo cơ sở tư duy trung gian giữa thơ và văn xuôi (kế thừa nhận định của Xuân Diệu, Hà Minh Đức, Nguyễn Đăng Điệp).
  • Sự thức tỉnh của cái tôi cá nhân: Sự chuyển biến văn học đầu thế kỷ XX giải phóng năng lượng sáng tạo cá nhân, thúc đẩy các thể loại tự do phát triển.
  • Sự hoàn thiện hệ thống thể loại và ảnh hưởng ngoại sinh: Quá trình tương tác giữa các thể loại văn học mới và ảnh hưởng trực tiếp từ thơ ca tượng trưng, siêu thực Pháp (theo phân tích của Nguyễn Văn Dân).

3. Mô hình hóa ba hệ hình thơ ca

Dựa trên tiêu chí quan niệm về thực tại, tác giả khái lược đặc tính của ba hệ hình:

  • Tiền hiện đại: Xem thực tại là khách quan; thơ là phương tiện truyền cảm; tư duy liên tục; cái tôi bản ngã.
  • Hiện đại chủ nghĩa: Thực tại vỡ vụn, ẩn giấu; thơ gợi cảm; tư duy đứt đoạn; cái tôi đa ngã.
  • Hậu hiện đại chủ nghĩa: Thực tại phân mảnh, phi lý; thơ mang tính dung nhận, chiết trung; tư duy vừa liên tục vừa đứt đoạn; cái tôi vô ngã.

Chương 3. Ba hệ hình thơ văn xuôi Việt Nam hiện đại

Chương 3 khảo sát thực tiễn sáng tác qua tiến trình lịch sử dựa trên hai trục: cái tôi trữ tình và kiểu tư duy nghệ thuật.

Hệ hình thơ văn xuôi Đại diện tác giả tiêu biểu Đặc điểm cái tôi trữ tình Đặc điểm kiểu tư duy
Tiền hiện đại (chủ nghĩa) Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên (chống Mỹ), Nguyên Sa, Nguyễn Văn Ngăn, Thu Bồn, Lê Minh Quốc - Cái tôi tràn đầy cảm xúc, trực tiếp giải bày (Xuân Diệu trong tập Trường ca, Nguyên Sa).
- Cái tôi duy lý, biện lý mang tính sử thi (Chế Lan Viên thời chống Mỹ).
- Tư duy liên tục, chặt chẽ, mạch lạc.
- Hình tượng phát triển tuyến tính, tuần tự.
- Ngôn ngữ tổ chức theo mô hình Nghĩa -> Chữ, dùng nhiều từ nối, từ lập luận.
Hiện đại (chủ nghĩa) Hàn Mặc Tử, Phạm Văn Hạnh, Nguyễn Xuân Sanh; Mai Trung Tĩnh, Thanh Tâm Tuyền, Tô Thùy Yên, Duy Thanh; Thanh Thảo, Hoàng Hưng, Đặng Đình Hưng, Nguyễn Quang Thiều, Mai Văn Phấn - Cái tôi bất an, hoài nghi (Mai Trung Tĩnh chịu ảnh hưởng hiện sinh; Nguyễn Quang Thiều bất an về thân phận người phụ nữ thôn quê).
- Cái tôi "vô thức", ẩn ức tâm lý, nhục thể (Đặng Đình Hưng, Hoàng Hưng, Vi Thùy Linh, Nhóm Ngựa trời).
- Cái tôi tự phủ định (Thanh Tâm Tuyền).
- Tư duy đứt đoạn.
- Hình tượng vận động phi logic, thể hiện "hiện thực thứ hai".
- Ngôn ngữ vỡ vụn, lỏng lẻo ngữ pháp, phi chính tả, đục khoảng rỗng, mô phỏng dòng vô thức.
Hậu hiện đại (chủ nghĩa) Bùi Giáng, Đặng Thân, Bùi Chát, Khương Hà Bùi, Lynh Bacardi, Mai Văn Phấn, Nguyễn Thế Hoàng Linh - Cái tôi vô ngã mang tính tương đối và ngoại hiện.
- Cái tôi bông lơn, giễu nhại, giải thiêng và giải trung tâm hóa (Bùi Giáng, Đặng Thân).
- Tư duy vừa liên tục vừa đứt đoạn.
- Tồn tại song song bài thơ nhất quán (mùa hà nội đông - Nguyễn Thế Hoàng Linh) và ghép mảnh tán loạn (Chiêm bao - Bùi Giáng, [tô lịch] không có jòi (nhờ bác james joyce) - Đặng Thân).

Chương 4. Những phương thức nghệ thuật của thơ văn xuôi Việt Nam hiện đại

Chương này đi sâu làm rõ ba phương diện thi pháp mang tính đặc trưng:

1. Kết cấu văn bản thơ văn xuôi

  • Kết cấu theo sự vận động liền mạch của dòng cảm xúc, liên tưởng:
    • Kết cấu theo mạch cảm xúc - liên tưởng: Tổ chức trật tự tuyến tính theo liên tưởng tương đồng hoặc liên tưởng đối lập để khơi sâu suy tưởng.
    • Kết cấu trùng điệp: Sắp xếp các đơn vị hình tượng, lớp lang trùng phức nhằm gia tăng cường độ ý nghĩa và tạo sự cộng hưởng âm thanh (phổ biến ở hệ hình tiền hiện đại và hiện đại).
  • Kết cấu theo sự vận động bất định của dòng ý thức:
    • Kết cấu theo dòng tâm tư bất định: Mô phỏng trực giác tâm linh hoặc dòng tự sự đứt đoạn (Chơi giữa mùa trăng của Hàn Mặc Tử, thơ Phạm Văn Hạnh, Vẻ buồn của tình yêu của Tô Thùy Yên).
    • Kết cấu giấc mơ: Xây dựng không gian chập chờn, mờ nhòe, chứa đựng ảo giác và các ẩn ức tâm lý bị xáo trộn.
  • Kết cấu dán ghép:
    • Dán ghép kiểu tranh lập thể: Các lớp cảnh đồng hiện đa chiều, phi trật tự hai chiều nhằm dung nạp tối đa hiện thực tâm linh và đời sống (tiêu biểu ở hệ hình hiện đại).
    • Dán ghép cơ học: Cắt dán, lắp ghép các văn bản dị loại trên bề mặt nhằm mục đích giễu nhại, thể hiện thái độ thơ (xuất hiện ở các tác giả hậu hiện đại như Bùi Chát, Lý Đợi, Đặng Thân, Nguyễn Thúy Hằng).

2. Ngôn ngữ thơ văn xuôi

  • Đặc điểm chung: Ngôn ngữ tự lấy mình làm đối tượng (tính tự trị theo quan điểm của Roman Jakobson trong Thơ là gì) và vận hành theo nguyên lý tương đương.
  • Gia tăng tính tạo hình: Thơ văn xuôi khai thác tối đa tính tạo hình để bù đắp sự thiếu hụt về âm luật. Tiền hiện đại thiên về "vẽ tranh" hiện thực cụ thể; hiện đại chuyển sang kiến tạo biểu tượng và chiều kích siêu thực; hậu hiện đại sử dụng ngôn ngữ tái chế thích ứng với "hiện thực thậm phồn" (theo thuật ngữ của Hoàng Ngọc Tuấn).
  • Mở rộng dạng thức kết hợp: Thế mạnh của thơ văn xuôi nằm ở trục kết hợp toàn khối. Tiền hiện đại mở rộng kết hợp bằng từ nối và từ lập luận; hiện đại tạo ra các kết hợp từ bất thường, tập trung "tạo chữ" thay vì "tạo nghĩa"; hậu hiện đại dung nạp mọi lớp từ (từ ngữ tục, tiếng lóng, tiếng nước ngoài đệm chen) nhằm dân chủ hóa và phi trung tâm hóa ngôn ngữ.

3. Nhịp điệu thơ văn xuôi

  • Tương quan giữa nhịp lời (nhịp âm) và nhịp ý tưởng (nhịp ý): Dựa trên 9 tiêu chí nhận diện nhịp âm (ngừng/ngắt nhịp, trường độ, cao độ, tốc độ, cường độ, điểm nhấn, đường nét, hiệp vần, phối thanh) từ công trình nghiên cứu về văn chính luận Hồ Chí Minh, luận án khẳng định hình thức văn xuôi đã làm tiêu giảm đáng kể nhịp âm; bù lại, nhịp ý (sự lặp lại theo chu kỳ của hình ảnh, môtip, cảm xúc và tư tưởng) trở thành yếu tố cơ bản kiến tạo nhạc tính bên trong.
  • Ba kiểu nhịp điệu tiêu biểu:
    1. Nhịp điệu đối xứng: Gắn với phép song hành cú pháp, xuất hiện chủ yếu ở hệ hình tiền hiện đại.
    2. Nhịp điệu trùng điệp: Gắn với điệp từ, điệp ngữ, điệp cấu trúc và phép liệt kê, xuất hiện xuyên suốt cả ba hệ hình.
    3. Nhịp điệu tự do: Tổ chức nhịp điệu dựa trên sự đối ứng ý tưởng và đan xen các tiết tấu dài ngắn linh hoạt, là kiểu nhịp điệu đặc trưng nhất của thơ văn xuôi hiện đại.

Kết quả và những đóng góp mới

  1. Về mặt tư liệu và lịch sử văn học: Luận án đã khảo sát toàn diện các sáng tác thơ văn xuôi từ phong trào Thơ mới (1932) cho đến nay, bao gồm cả mảng thơ văn xuôi đô thị miền Nam giai đoạn 1955-1975, từ đó phục dựng bức tranh toàn cảnh về tiến trình vận động và phát triển của thể loại trong suốt một thế kỷ.
  2. Về mặt phương pháp luận và lý thuyết hệ hình: Ứng dụng thành công lý thuyết hệ hình để miêu tả sự phát triển của thơ văn xuôi qua các giai đoạn lịch đại, đồng thời xác lập hệ tiêu chí khoa học nhằm nhận diện đặc trưng thể loại qua từng giai đoạn, từng tác giả và tác phẩm cụ thể.
  3. Về mặt thi pháp thể loại: Luận án làm rõ các phương thức nghệ thuật đặc thù của thơ văn xuôi Việt Nam (về kết cấu văn bản, tổ chức ngôn ngữ và nhịp điệu) trong sự đối sánh với các thể thơ truyền thống, thơ tự do và văn xuôi trữ tình, khẳng định tư cách và vị trí độc lập của thể loại trong nền thơ ca dân tộc.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Trong khuôn khổ một luận án tiến sĩ, công trình chưa thể bao quát hết mọi khía cạnh đa dạng của thực tiễn sáng tác mà chủ yếu tập trung vào các nội dung và đặc trưng cơ bản nhất. Đối với mảng thơ văn xuôi hậu hiện đại, các sáng tác tại Việt Nam mới dừng lại ở mức độ thể nghiệm bước đầu, nhiều tác phẩm có xu hướng đi quá đà dẫn đến phản ứng tiêu cực từ người tiếp nhận.
  • Thách thức và hướng tiếp tục: Hình thức "văn xuôi hóa" và việc "nói nhiều" của thơ văn xuôi đang đối mặt với thách thức lớn trong bối cảnh đương đại – nơi độc giả có xu hướng ưa chuộng các thể loại ngắn gọn, cô đúc. Hướng nghiên cứu tiếp theo cần theo dõi sự biến đổi của thể loại trước các biến chuyển thẩm mỹ mới của đời sống văn học.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng thụ hưởng: Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị học thuật cho nghiên cứu sinh, học viên cao học, giảng viên và sinh viên chuyên ngành Văn học Việt Nam, Lý luận văn học và Thi pháp học.
  • Nội dung đáng tham khảo:
    • Khung lý thuyết phân kỳ tiến trình thơ ca theo ba hệ hình (tiền hiện đại, hiện đại, hậu hiện đại).
    • Hệ thống tiêu chí phân biệt thơ văn xuôi với thơ tự do và văn xuôi trữ tình.
    • Các phân tích thi pháp chuyên sâu về kết cấu dán ghép, sự chuyển dịch từ trục lựa chọn sang trục kết hợp của ngôn ngữ và cơ chế vận hành của "nhịp ý".

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án định nghĩa thơ văn xuôi như thế nào và phân loại thể loại này thành những dạng thức nào?

Luận án định nghĩa thơ văn xuôi là thể thơ trữ tình có cấu trúc câu giống như văn xuôi, câu thơ có xu hướng kéo dài hoặc tiếp nối nhau, tổ chức theo mô hình văn bản văn xuôi, nhịp điệu không cố định và không chịu sự ràng buộc của bất kỳ hệ thống âm luật nào. Thơ văn xuôi tồn tại ở hai dạng thức: dạng chuẩn (văn bản trình bày hoàn toàn theo hình thức văn xuôi không phân dòng) và dạng mở rộng (thơ tự do có dòng thơ kéo dài quá 11-12 âm tiết hoặc văn xuôi trữ tình ngắn giàu chất thơ).

2. Tiền đề tư duy nội sinh của thơ văn xuôi Việt Nam được luận án xác định bắt nguồn từ đâu?

Kế thừa giả thuyết khoa học của Xuân Diệu, Hà Minh Đức và Nguyễn Đăng Điệp, luận án khẳng định "văn xuôi cổ" với các thể điệu trung gian giữa thơ và văn xuôi trong văn học dân tộc (như thể phú, văn tế) chính là nguồn gốc nội sinh và là tiền đề tư duy cho sự ra đời của thơ văn xuôi Việt Nam.

3. Ba hệ hình thơ văn xuôi Việt Nam hiện đại được phân định dựa trên tiêu chí nào và mang những đặc trưng gì về cái tôi trữ tình?

Ba hệ hình được phân định dựa trên tiêu chí quan niệm về thực tại:

  • Hệ hình tiền hiện đại: Cái tôi bản ngã (tràn đầy cảm xúc, trực tiếp giải bày hoặc cái tôi duy lý, biện lý).
  • Hệ hình hiện đại chủ nghĩa: Cái tôi đa ngã (cái tôi bất an, hoài nghi; cái tôi vô thức/nhục thể; cái tôi tự phủ định).
  • Hệ hình hậu hiện đại chủ nghĩa: Cái tôi vô ngã (thể hiện qua cái tôi tương đối, cái tôi ngoại hiện và cái tôi bông lơn, giễu nhại).

4. Vì sao trong thơ văn xuôi, "nhịp ý" lại đóng vai trò chủ đạo thay thế cho "nhịp âm"?

Do hình thức văn bản văn xuôi đã phá vỡ niêm luật, vần điệu và cách ngắt dòng truyền thống nên các yếu tố tạo nhịp âm thanh (nhịp lời) bị tiêu giảm. Để duy trì nhạc tính, thơ văn xuôi gia tăng cấu trúc nhịp ý tưởng (nhịp ý) thông qua sự lặp lại theo chu kỳ của hình ảnh, môtip, cảm xúc và sự đối ứng tư tưởng xuyên suốt toàn bộ văn bản.

5. Luận án phân tích những kiểu kết cấu văn bản tiêu biểu nào của thơ văn xuôi Việt Nam hiện đại?

Luận án phân loại kết cấu văn bản thành ba nhóm chính:

  • Nhóm kết cấu theo dòng cảm xúc - liên tưởng: kết cấu mạch cảm xúc - liên tưởng và kết cấu trùng điệp.
  • Nhóm kết cấu theo dòng ý thức bất định: kết cấu dòng tâm tư bất định và kết cấu giấc mơ.
  • Nhóm kết cấu dán ghép: dán ghép kiểu tranh lập thể (chiều sâu tâm linh) và dán ghép cơ học (bề mặt văn bản).

Kết luận

Luận án của nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Chính là công trình nghiên cứu chuyên sâu, bao quát có hệ thống diện mạo và đặc trưng của thơ văn xuôi Việt Nam suốt một thế kỷ vận động. Bằng việc vận dụng lý thuyết hệ hình và thi pháp học thể loại, tác giả đã định vị thành công các phương thức nghệ thuật cốt lõi về kết cấu, ngôn ngữ và nhịp điệu của thơ văn xuôi qua ba giai đoạn tiền hiện đại, hiện đại và hậu hiện đại. Công trình góp phần khẳng định tư cách độc lập và giá trị thẩm mỹ của thơ văn xuôi trong tiến trình hiện đại hóa nền thơ ca dân tộc.