Chương 1: TRẦN TẾ XƯƠNG TRONG BỐI CẢNH VĂN HOÁ GIAO THỜI VÀ ĐẶC TRƯNG MÔI TRƯỜNG ĐÔ THỊ HOÁ Ở NAM ĐỊNH Cuộc đời của Tú Xương (1870- 1907) ngắn ngủi 37 năm, nằm gọn trong một giai đoạn đặc biệt của lịch sử: buổi giao thời đầy biến động và mang nhiều tính chất đặc thù so với trước đây. Mất nước và đô thị hóa theo hướng tư bản chủ nghĩa mạnh mẽ là hai thực tế khác trước nhiều nhất mà Tú Xương trải nghiệm. Đó là những biến động xã hội quan trọng khiến Trần Tế Xương phải đối diện, không giống với thực tế quen thuộc mà các nhà nho truyền thống “từng trải”: môi trường nông thôn, nhà trường nho giáo, công đường, cung đình. Ở thời điểm này, Tú Xương sống trong bối cảnh hoàn toàn mới, khiến cách ứng xử của ông trước thời cuộc không còn giống các nhà nho truyền thống: không hăng hái và mặn mà hành đạo với mong muốn phò vua giúp nước, cũng không lánh đục khơi trong ẩn dật chốn thâm cùng ngõ vắng khi vấp phải thời loạn lạc, cũng không phải đề cao tài- tình như các nhà nho tài tử, Tú Xương mang một tâm thế và một cá tính riêng, trước đây chưa từng thấy trong văn học truyền thống, tâm thế của nhà nho thành thị trong văn hóa giao thời.
Hoàn cảnh mới đã tạo nên một cá tính mới. Tú Xương đối diện với cảnh mất nước và văn hóa buổi giao thời Tuổi thơ Tú Xương lớn lên trong cảnh nước nhà lần lượt rơi vào tay Pháp. Đế quốc Pháp từng bước xâm chiếm và bình định các vùng miền trên toàn quốc. Nước ta rơi vào tay một thế lực mới, kẻ thù lần này không phải là Trung Hoa cường quốc phong kiến đồng văn đồng chủng, mà là một đế quốc phương tây với kinh nghiệm mấy trăm năm thực dân, với chính sách khai hóa thuộc địa bài bản và một nền văn hóa hoàn toàn mới.
Năm 1858, Hải quân Pháp đổ bộ vào cảng Đà Nẵng và sau đó xâm chiếm Sài Gòn. Năm 1862, Tự Đức ký hiệp ước nhượng ba tỉnh miền Đông cho Pháp. Năm 1867, Pháp chiếm nốt ba tỉnh miền Tây kế tiếp để tạo thành một lãnh thổ thực dân 9 Yếu tố phi truyền thống trong thơ Trần Tế Xương ------------------------------------------------------------------------------------------------------------ Cochinchine (Nam kỳ). Từ năm 1873 đến năm 1886, Pháp xâm chiếm nốt những phần còn lại của Việt Nam qua những cuộc chiến phức tạp ở miền Bắc.
Miền Bắc khi đó rất hỗn độn do những mối bất hòa giữa người Việt và người Hoa lưu vong. Chính quyền Việt Nam không thể kiểm soát nổi mối bất hòa này. Năm 1873, biến cố ở Bắc Kỳ đã xảy ra. Sau khi chiếm Hà Nội, hạ thành Hải Dương, Ninh Bình, quân Pháp quyết tâm đánh chiếm Nam Định.
Đại uý Garnier chỉ huy quân Pháp thẳng tiến xuống Nam Định theo hai hướng Nam và Đông, ngày 10 tháng 12 năm 1873, quân Pháp tiến sâu vào thành Nam Định, thành Nam Định bị mất. Ngày 21 tháng 12 năm 1873, Garnier bị giết tại Cầu Giấy. Trước tình hình đấy, Philastre- thống soái việc hình luật ở Nam Kỳ theo lệnh của chính phủ Pháp trả thành Hải Dương cho Việt Nam, rồi lên Hà Nội làm giao ước trả lại bốn thành cho quan triều đình coi giữ. Quân lính Pháp đợi Hoà ước ký xong thì rút về.
Đến năm 1881, chỉ huy Henri Riviere, vốn được cử ra Hà Nội với một lực lượng mỏng để xem xét các phàn nàn từ phía Việt Nam về các thương gia Pháp. Tuy nhiên, Riviere đã ngang nhiên đi ngược lại các chỉ thị của mình, và đánh thành Hà Nội năm 1882. Sang năm 1883, chỉ huy Riviere đánh hạ thành Nam Định, thành phố thứ nhì ở Bắc Kỳ, với một hạm đội pháo thuyền nhỏ và một đoàn thuỷ quân đánh bộ. Như vậy, thành Nam thực sự rơi vào tay Pháp.
Sự thất thủ của thành Nam Định và một số thành khác ở Bắc Kỳ khép lại quá trình đánh chiếm Việt Nam của thực dân Pháp, bắt đầu xây dựng bộ máy thuộc địa và bước vào quá trình khai thác của chúng. Hoàn tất quá trình xâm lược Việt Nam, người Pháp đã tổ chức ra một bộ máy cai trị khá hoàn chỉnh từ trung ương cho đến địa phương. Pháp ra sức khai thác vùng thuộc địa và từng bước áp đặt vùng ảnh hưởng của văn hóa phương tây vào nước ta. Do cuộc kháng chiến có tính chất toàn dân nên cuộc chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp phải kéo dài tới tận năm 1896.
Từ năm đó chế độ thuộc địa mới có thể thực sự được thiết lập do cuộc đấu tranh vũ trang của nhân dân ta tạm thời bị chặn lại. Việc cử Paul Doumer sang làm toàn quyền Đông Dương tỏ rõ ý đồ của đế quốc Pháp muốn 10 Yếu tố phi truyền thống trong thơ Trần Tế Xương ------------------------------------------------------------------------------------------------------------ thiết lập một chế độ thuộc địa cổ điển với đầy đủ mọi thành trì của chế độ này: kinh tế, hành chính, quân sự và văn hóa. Sau khi bình định, Doumer đã tung ra những quyết định để giải phóng những nguồn tài chính mới, tạo ra cơ chế mới cho lực lượng sản xuất ở xứ Đông Dương có thể thay đổi. Sau này, vào năm 1901, đại úy Bernard ghi lại: “Vào năm 1897, chỉ trong vài tuần lễ, một cơn mưa đá đã thực sự đổ xuống: tăng thuế thân và thuế địa ốc, thuế những người không đăng kí, thuế đăng kí sắc phong của các quan, thuế diêm, thuế quế, thuế giấy có đóng dấu, thuế muối, rượu, thuyền trên sông, giấy phép chặt gỗ, thuế thuốc lào, thuế cau, thuế củi, thậm chí cả thuế rơm, thuế ra để lợp những cái lều thảm hại nhất” Từ nay, Đông Dương đã được tạo thành, được tổ chức và cơ cấu hóa với những ngân sách dư thừa, một nền ngoại thương đang phát triển và đã tăng gấp đôi từ năm 1896, và những kinh phí riêng của mình.
Nó đã trở thành một vòng hoa của đế quốc Pháp, “một ban công Pháp trên Thái Bình Dương” [8; tr. Thực dân Pháp đã nắm quyền điều khiển cuộc đổi thay, thay bộ máy thống trị quan liêu kiểu phong kiến phương đông bằng bộ máy quan liêu kiểu mới, với sự cấu kết giữa thực dân và phong kiến. Thu hẹp hơn nữa quyền hành và uy tín của các quan, bây giờ trong thực tế phái ở dưới quyền của những công chức Pháp có đủ loại, và đủ ngành. Còn về dân chúng, ở nông thôn và các nơi khác thì phải chịu một sự thúc ép thuế càng ngày càng cao, một sự giám sát và kiểm tra càng ngày càng cưỡng bức cùng với một thứ quyền hành hà khắc và đàn áp.
Sự lớn lên của các đô thị là minh chứng cho sự đổi thay dễ nhận thấy. Nhiều công trình lớn được xây dựng, từ kiến trúc đến giao thông, nhà máy, xí nghiệp. Tất cả đã đem lại thuận lợi cho phát triển đô thị trong các xứ ở An Nam. Các công ty tư nhân bắt đầu đầu tư, như các công ty than 1888, hội bông sợi ở Hải Phòng, nhà máy dệt Nam Định.
Tất cả đều mang nhân sự mới: các giám đốc, kĩ sư, đốc công, tài vụ. “Những sáng kiến của chính quyền về đô thị hóa ở các thành phố là nơi có những biến đổi nhiều khi rất ngoạn mục” [8; tr. 11 Yếu tố phi truyền thống trong thơ Trần Tế Xương ------------------------------------------------------------------------------------------------------------ Cho tới khi người Pháp đặt nền bảo hộ lên Việt Nam, các tỉnh lị chỉ là một hình thức quần tụ của vài làng xóm xung quanh một thành trì, nơi sở tại của nền hành chính quân sự và dân sự. Hoạt động kinh tế phát sinh với sự đô hộ của người Pháp và sự thành lập hệ thống giao thông đã tạo nhiều điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của sinh hoạt tỉnh thành.
Có thể nói, đây là cuộc đổi thay lớn lao, ghê gớm nhất từ trước đến nay. Sự va chạm giữa nền văn hóa cổ truyền với một nền văn hóa hoàn toàn xa lạ trong buổi đầu tiên không khỏi tạo tâm lý ngỡ ngàng và bất an. Sau 1874, khi các cuộc tiếp xúc với người Âu Tây nhiều hơn, chặt chẽ hơn, đã có nhiều chương trình hiện đại hóa được thảo ra. Những cố gắng về trí tuệ để thích ứng với thế giới mới càng tỏ ra cần thiết hơn, khi mà những thực tại thì đang đổi thay và những đổi thay đó đã phát sinh ra đủ thứ phản ứng xã hội, đặc biệt tại Bắc Kì [46; tr.
Quan chức và tầng lớp văn thân (các nhân sĩ và thân hào) trên lý thuyết là “rường cột” “tự nhiên” của triều đình, bởi vì được gắn liền với triều đình trên các mặt chính trị, xã hội và kinh tế. Sau khi đỗ đạt, quan chức làm việc trong chính quyền, nhân sĩ lo dạy viết, dạy đạo và dạy đạo Khổng Mạnh, còn thân hào ở các xã thôn có trách nhiệm thu thuế, tuyển mộ binh lính và phân bổ sưu dịch do nhà nước quy định. “Biết chữ, làm quan là kì vọng lớn nhất của bất cứ người An Nam trẻ nào” [45;tr. Cũng theo Tsu bôi, trung tâm của giới nhân sĩ là nhóm tú tài, một vị trí không rõ rệt giữa quan và dân: “gần thành công”- sánh với các quan vì họ không lên đến được tột đỉnh của kì thi- không đỗ cử nhân, tiến sĩ- nhưng trái lại, họ thành công ở chỗ hơn các người hỏng thi và quần chúng, ít ra họ đã đỗ thi hương.
Các nhân sĩ có đặc điểm rất nhạy cảm và chú ý đến tình hình chính trị. Một khi biến động chính trị hoặc xã hội bùng nổ, một số người của họ với tư cách lãnh đạo, đứng ra tập trung dân chúng chống lại những người mà họ cho là kẻ thù [46; tr. Ngoài ra, là người truyền bá Nho giáo, họ đặc biệt xem người Pháp và người công giáo là cừu địch, còn các người này cũng trả đũa ngay và xem các nhân sĩ là “kẻ thù số một của họ”. 12 Yếu tố phi truyền thống trong thơ Trần Tế Xương ------------------------------------------------------------------------------------------------------------ Thực dân Pháp đưa Thiên chúa giáo vào nước ta một phần nhằm lấn át nền văn hóa cổ truyền Việt Nam, cắt đứt mối quan hệ văn hóa Việt Nam với các nước Phương Đông, áp đặt vùng ảnh hưởng văn hóa Phương Tây.
Mặt khác, nền Hán học, Nho học ở nước ta ngày càng suy yếu. Sau nhiều thế kỉ giành giật chỗ đứng, bắt rễ ngày càng sâu rộng, tạo ảnh hưởng và gây dựng uy tín, đến đầu thế kỉ XV, sự kết hợp nho giáo với chế độ quân chủ chuyên chế đã hình thành. Tuy nhiên, đến hết thế kỉ XVIII, nho học đứng trước nhu cầu điều chỉnh, cách tân.