Chương 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU Trong chương tổng quan này, chúng tôi đề cập đến hai nội dung cơ bản: thứ nhất là tình hình nghiên cứu lý thuyết liên văn bản trên thế giới và sự ứng dụng trong nghiên cứu văn học ở Việt Nam hiện nay để từ đó chúng tôi đi đến kết luận quan trọng: lý thuyết liên văn bản đang trở nên thịnh hành, mở ra hướng đi mới trong nghiên cứu văn học; thứ hai là tình hình nghiên cứu về hiện tượng Mạc Ngôn và tiểu thuyết Mạc Ngôn trên thế giới nói chung và ở Việt Nam từ đó có những đánh giá tổng quan và hướng nghiên cứu của đề tài ở góc độ liên văn bản nói riêng. Có thể nói hiện tượng Mạc Ngôn trên thế giới đã được nghiên cứu sâu, có hệ thống. Nhiều công trình có tính khái quát cao, phục vụ đắc lực cho việc tiếp cận, nghiên cứu văn chương đương đại. Từ các quan điểm, cách nhìn nhận, đánh giá tính ưu việt của lý thuyết liên văn bản đến các công trình nghiên cứu về Mạc Ngôn, chúng tôi có cơ sở kế thừa những thành quả ấy đồng thời có thể tìm ra những điểm còn đang bỏ ngỏ từ các biểu hiện đặc trưng của tính liên văn bản để có thể tiếp tục nghiên cứu.
Tình hình nghiên cứu lý thuyết liên văn bản 1. Tình hình nghiên cứu lý thuyết liên văn bản trên thế giới Có thể thấy những biểu hiện của tính liên văn bản đã hiện diện từ lâu, tuy nhiên trong nghiên cứu văn học để được gọi tên trở thành một thuật ngữ thì phải vào những năm 60 của thế kỷ XX mới có những công trình nghiên cứu của nhóm Tel Quel và tạp chí cùng tên tại Pháp. Từ đó đã có rất nhiều các công trình luận bàn về lý thuyết cũng như vận dụng nó vào việc nghiên cứu các sáng tác văn học. Trong phần khảo sát tổng thuật, phân tích lý thuyết này, do khuôn khổ của luận án và tư liệu hạn chế nên chúng tôi xin được kế thừa các công trình đi trước.
Trước hết là phần tổng thuật lý thuyết liên văn bản có các công trình: Intertextuality in Faulkner (Tính liên văn bản trong Faulkner - 1985) của Michel Gresset và Noel Polk (biên tập) cho thấy mối quan hệ tiên đoán - sáng tạo, sự chuyển động ngữ cảnh, tính liên tục, đa âm từ trong các tiểu thuyết của W.Faulkner đã chứng minh tầm quan trọng của tính liên văn bản. Công trình Intertextuality: Theories and Practices (Tính liên văn bản: Lý thuyết và thực tiễn - 1990) của Michael Worton và Judith Still (biên tập) có đã sự phân tích khá hệ thống về tính liên văn bản. 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Đặc biệt là công trình Intertextuality (Tính liên văn bản - 2000) của Graham Allen (Nguyễn Văn Thuấn dịch, 2015) đã có những phân tích toàn diện về tính liên văn bản, cả về sự xuất hiện của khái niệm và nội hàm của khái niệm. Tác giả đã nghiên cứu thuật ngữ “tính liên văn bản” (tên gọi trong bài tham luận của Julia Kristeva) với những mấu chốt quan trọng nhất: (1) Tìm kiếm nguồn gốc của lý thuyết trong mối quan hệ với các lý thuyết ngôn ngữ của Fecdinand de Saussure (nhà ngôn ngữ học người Thụy Sĩ) và Mikhail Bakhtin (nhà nghiên cứu người Nga).
(3) Với sự đồng tình, các nhà phê bình hậu cấu trúc đã triển khai thuật ngữ tính liên văn bản theo nhiều hướng khác nhau và mở rộng nội hàm của nó khi Gérard Genette và Michel Riffaterre đã ứng dụng vào lĩnh vực thi pháp và vận dụng trong việc đọc thơ. (4) Harold Bloom (người Mỹ) tiếp cận khái niệm tính liên văn bản từ cả góc độ tu từ học lẫn phân tâm học, theo ông, tất cả mọi văn bản đều là liên văn bản và liên văn bản lại là sản phẩm của “sự lo lắng về ảnh hưởng” (anxiety of influence) khi ông phát triển “bản đồ đọc sai” - ý nghĩa của một văn bản không hoàn toàn nằm bên trong bản thân nó mà tồn tại trong mối tương tác với các văn bản khác, nghĩa là giữa các văn bản khác nhau. Ở chương cuối của công trình, tác giả đề cập đến khả năng biến hóa của tính liên văn bản trong các văn bản nghệ thuật - phi văn học để thấy được tính năng sản của nó. Những tranh luận trong công trình Intertextuality debates and contexts (Tính liên văn bản: Tranh luận và ngữ cảnh - 2003) của Mary Orr cũng như những biện giải trong công trình Văn bản - Liên văn bản - Lý thuyết văn bản (2008) của G.Kosikov (Lã Nguyên dịch)… Đối với G.Kosikov, ông nhấn mạnh đến lý thuyết liên văn bản của J.Kristeva xuất phát từ quan điểm đối thoại - phức điệu của M.Bakhtin “Từ trong bản chất, lời nói mang tính đối thoại”, “giao tiếp đối thoại chính là môi trường đích thực của đời sống ngôn ngữ”, sau đó tiếp tục truy tìm “lỗ hổng” của phương pháp luận trong “triết học thống nhất” để xóa bỏ cái tuyệt đối, giải phóng cái đa bội ra khỏi quyền lực của nó, đó là quan điểm “triết học đa bội” hiện đại mà các nhà hậu cấu trúc luận Pháp đang hướng tới.
Ông nghiên cứu cuốn S/Z (1970) của R.Barthes để diễn giải cho sự vận động từ tác phẩm đến văn bản. Cuối cùng, ông nghiên cứu tính liên văn bản trong mối quan hệ từ “thông diễn học bất tận” đến thi pháp học để mở ra những diễn giải mới cho nghiên cứu văn bản. 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Tại Trung Quốc, vấn đề nghiên cứu liên văn bản dù tiến hành khá muộn nhưng cũng đã thu hút sự quan tâm của văn giới. Chúng tôi tìm thấy trên trang CNKI.net nhiều bài viết liên quan đến tính liên văn bản (互文性 - hỗ văn tính).
Theo tác giả Lê Thị Dương có thể chia hoạt động nghiên cứu liên văn bản ở Trung Quốc thành ba giai đoạn: Giai đoạn thứ nhất (cuối thập niên 70 đến cuối thập niên 80 thế kỉ XX): Trong giai đoạn này, tính liên văn bản xuất hiện có liên quan trong việc dịch thuật chủ nghĩa cấu trúc. Cấu trúc luận: Moscow - Prague - Paris (1980) của triết gia người Pháp Jan.Broekman (dịch giả Lý Ấu Chung), Trương Dần Đức dịch bài Lý luận văn bản của R. Trương Long Khê trong bài viết Sự tiêu vong của cấu trúc - sự tiêu giải hình thức phê bình của chủ nghĩa hậu cấu trúc chủ nghĩa đã giới thiệu khá toàn vẹn về lý luận liên văn bản của J. Cũng trong năm 1987, cuốn Dẫn luận nguyên lý học của Terry Eagleton (người Anh) được NXB Văn nghệ giới thiệu có ba danh mục tham khảo của J.
Ngoài ra còn có công trình của G.Barthes cũng được dịch. Nhìn chung, “thời kì này, chưa xuất hiện các bản dịch có hệ thống về lý luận liên văn bản phương Tây cũng như chưa có những nghiên cứu chuyên môn về Kristeva, người đề xuất khái niệm liên văn bản” [29, tr. Giai đoạn thứ hai (cuối thập niên 90 của thế kỉ XX đến những năm đầu thế kỉ XXI): Giai đoạn này đã có nhiều học giả quan tâm, tìm hiểu lý thuyết liên văn bản, xuất hiện nhiều bài dịch giới thiệu đầy đủ hơn về lý thuyết liên văn bản như bài viết Phương thức viết lại trong truyền thống châu Âu và Trung Quốc của W. Giai đoạn này cũng xuất hiện nhiều bài viết bàn trực tiếp về liên văn bản, phân thành các hướng: (1) Nghiên cứu lý luận như các bài viết: Bàn về liên văn bản của Ân Xí Bình (1994), Khái lược về lý luận liên văn bản của Trình Tích Lân (1996), Lý luận liên văn bản trong các văn luận phương Tây đương đại của Hoàng Niệm Nhiên (1999).
(3) Bàn về quan hệ giữa tính liên văn bản và các lý luận khác, như: “Ý nghĩa và giới hạn – nghiên cứu văn luận của chủ nghĩa hình thức Nga của Trương Vô Kịch và Khổng Miễn Hành (1995); Tác dụng của liên văn bản trong việc 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com lý giải chuỗi ngôn ngữ - Trường hợp “Some day my prince will crawl” của Đỗ Diễm Lệ (2005); Đối thoại giữa ngôn ngữ và ngôn ngữ - thảo luận về liên văn bản ngôn ngữ của Từ Đào (2006)” [29, tr.87-88]… Nhìn chung giai đoạn này lý thuyết liên văn bản đã được giới thiệu đầy đủ hơn. Xuất hiện một số công trình nghiên cứu chuyên biệt về Kristeva và lý luận liên văn bản của bà. Giai đoạn thứ ba (từ đầu thế kỉ XXI đến nay): Đây là giai đoạn rực rỡ trong việc nghiên cứu liên văn bản tại Trung Quốc. Có nhiều công trình của J.Barthes và các nhà nghiên cứu Liên văn bản được dịch ra tiếng Trung.
Đã xuất hiện một số công trình mang tính chuyên biệt về lý luận liên văn bản. Đặc biệt là cuốn Liên văn bản (互文性) của Vương Cẩn (NXB Đại học Sư phạm Quảng Tây, 2005) giới thiệu các lý luận của Bakhtin, Barthes, Kristeva, Bloom, Derrida… “Hàng loạt những luận án tiến sĩ chọn liên văn bản làm đề tài như Nghiên cứu liên văn bản (Lý Ngọc Bình, 2003), Nghiên cứu đặc trưng liên văn bản trong phê bình văn học của Tiền Trung Thư (Tiêu Á Đông, 2006), Nghiên cứu dịch thuật thi ca cổ điển Trung Quốc từ góc độ liên văn bản (Ngô Địch Long, 2010)” [29, tr. Bên cạnh đó có rất nhiều luận văn thạc sĩ đã chọn đề tài nghiên cứu liên quan đến tính liên văn bản… Tình hình nghiên cứu lý luận liên văn bản ở Trung Quốc ngày càng có nhiều thành tựu. Bên cạnh vẫn còn có những hạn chế: (1) do vấn đề dịch thuật nên nhiều công trình nghiên cứu liên văn bản của phương Tây còn chưa được giới thiệu.
(2) Nhiều công trình nghiên cứu còn đơn nhất, thiếu những nghiên cứu so sánh đa dạng. (3) Nhiều bài viết về liên văn bản nhưng còn sử dụng tư liệu của người khác. (4) Nghiên cứu thi học Trung Quốc theo hướng liên văn bản còn hạn chế. Đến nay, lý luận liên văn bản đã du nhập vào Trung Quốc hơn bốn thập kỉ và có vị trí vững chắc.
Giới học giả Trung Quốc không chỉ tiếp nhận, họ còn tiếp biến, ứng dụng một cách tích cực, điều này làm vững chắc cho niềm tin về lý thuyết liên văn bản và khả năng ứng dụng rộng rãi hơn của lí thuyết này trong thời gian tới. Xét tổng quan tình hình nghiên cứu lý thuyết liên văn bản trên thế giới và Trung Quốc nói riêng, có thể nhận thấy phạm vi ảnh hưởng của lý thuyết liên văn bản ngày càng sâu rộng. Hầu hết những công trình nghiên cứu đều xoay quanh việc hình thành khái niệm tính liên văn bản và ứng dụng vào nghiên cứu văn học/ văn hóa.