Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ ngữ văn Tiểu thuyết của Mạc Ngôn nhìn từ lý thuyết liên văn bản do nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Bạch Hải thực hiện tại Trường Đại học Sư phạm, Đại học Huế vào năm 2022, thuộc chuyên ngành Lý luận văn học (mã số: 9220120), dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Nguyễn Thị Bích Hải và TS. Nguyễn Văn Thuấn.

Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu, lý luận phê bình văn học thế kỷ XX ghi nhận sự tiếp biến của nhiều trào lưu phương Tây như Phê bình Mới, Chủ nghĩa hình thức Nga, Chủ nghĩa cấu trúc, Chủ nghĩa hậu cấu trúc, Chủ nghĩa Marx, Chủ nghĩa tân lịch sử, Phê bình nữ quyền và Chủ nghĩa hậu hiện đại. Trong đó, các luận điểm của Jacques Derrida về tính chất "trích dẫn" của lời nói và định nghĩa nền tảng của Julia Kristeva năm 1967 về tính liên văn bản (intertextuality) đã xác lập hướng tiếp cận mới: xem mỗi văn bản là một cấu trúc khảm từ các trích dẫn, hấp thụ và biến đổi các văn bản khác. Đối với trường hợp nhà văn Mạc Ngôn (Trung Quốc) – tác giả nhận giải thưởng Nobel Văn học năm 2012 với phong cách kết hợp hiện thực huyền ảo, truyện kể dân gian, lịch sử và đời sống đương đại – các nghiên cứu tại Việt Nam trước đây chủ yếu tiếp cận dưới góc độ thi pháp học, tự sự học hoặc nghiên cứu từng tác phẩm đơn lẻ. Luận án xác định khoảng trống cần giải quyết là việc khảo sát toàn diện, có hệ thống các biểu hiện của tính liên văn bản trong tiểu thuyết Mạc Ngôn cả ở bình diện nội dung lẫn hình thức nghệ thuật.

Mục tiêu nghiên cứu của luận án gồm:

  1. Hệ thống hóa cơ sở lý thuyết liên văn bản từ các công trình nghiên cứu trên thế giới và ở Việt Nam.
  2. Xác định cội nguồn hình thành tính liên văn bản trong sáng tác của Mạc Ngôn từ phương diện lịch sử, văn hóa và trải nghiệm cá nhân.
  3. Phân tích các biểu hiện của tính liên văn bản trong tiểu thuyết Mạc Ngôn thông qua hệ thống đề tài, nhân vật, biểu tượng nghệ thuật.
  4. Làm rõ các thao tác nghệ thuật liên văn bản qua thủ pháp cận văn bản, lối viết huyền ảo, trò chơi diễn ngôn và sự tích hợp thể loại.

Đối tượng nghiên cứu là các phương diện thể hiện tính liên văn bản trong tiểu thuyết của Mạc Ngôn. Phạm vi khảo sát tập trung vào 11 tiểu thuyết của Mạc Ngôn đã được dịch và xuất bản bằng tiếng Việt, kết hợp các tài liệu tự bạch, tản văn và phỏng vấn của nhà văn.

STT Tên tác phẩm dịch sang tiếng Việt Năm xuất bản bản dịch
1 Cao lương đỏ 2000
2 Báu vật của đời 2001
3 Cây tỏi nổi giận 2003
4 Rừng xanh lá đỏ 2003
5 Đàn hương hình 2003
6 Tửu quốc 2004
7 41 chuyện tầm phào 2004
8 Sống đọa thác đày 2007
9 Tổ tiên có màng chân 2007
10 Thập tam bộ 2007
11 Ếch 2010

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án tổng thuật lịch sử nghiên cứu theo hai trục lớn: lý thuyết liên văn bản và hiện tượng tiểu thuyết Mạc Ngôn.

Về tình hình nghiên cứu lý thuyết liên văn bản trên thế giới, tác giả điểm lại các công trình xuất phát từ nhóm Tel Quel (Pháp) thập niên 1960. Các tài liệu tổng thuật tiêu biểu gồm có: Intertextuality in Faulkner (1985) do Michel Gresset và Noel Polk biên tập; Intertextuality: Theories and Practices (1990) của Michael Worton và Judith Still; Intertextuality (2000) của Graham Allen (được Nguyễn Văn Thuấn dịch năm 2015); Intertextuality debates and contexts (2003) của Mary Orr; và công trình Văn bản - Liên văn bản - Lý thuyết văn bản (2008) của G. Kosikov (Lã Nguyên dịch). Tại Trung Quốc, nghiên cứu liên văn bản (hỗ văn tính - 互文性) trải qua ba giai đoạn:

  • Giai đoạn 1 (cuối thập niên 70 đến cuối thập niên 80 thế kỷ XX): Giới thiệu cấu trúc luận qua bản dịch công trình của Jan Broekman (1980, Lý Ấu Chung dịch), Trương Dần Đức dịch bài viết của Roland Barthes, Trương Long Khê (1987) giới thiệu lý luận của Julia Kristeva, Terry Eagleton (1987).
  • Giai đoạn 2 (cuối thập niên 90 đến đầu thế kỷ XXI): Xuất hiện các bài viết của Ân Xí Bình (1994), Trình Tích Lân (1996), Hoàng Niệm Nhiên (1999), Trương Vô Kịch và Khổng Miễn Hành (1995), Đỗ Diễm Lệ (2005), Từ Đào (2006).
  • Giai đoạn 3 (từ đầu thế kỷ XXI đến nay): Xuất bản chuyên luận Liên văn bản của Vương Cẩn (2005); các luận án tiến sĩ của Lý Ngọc Bình (2003), Tiêu Á Đông (2006), Ngô Địch Long (2010).

Tại Việt Nam, lý thuyết liên văn bản được tiếp nhận từ công trình của Hoàng Trinh (Từ kí hiệu học đến thi pháp học, 1997), Trần Đình Sử (Những vấn đề thi pháp của Đôxtôiepxki, 1998), Đỗ Đức Hiểu (Thi pháp hiện đại, 2000), Nguyễn Minh Quân (2001), Nguyễn Hưng Quốc (2007). Các bản dịch học thuật của Ngân Xuyên (dịch bài của L. Rjanskaya, 2007), Lã Nguyên (dịch G. Kosikov, 2008), Bửu Nam và Phạm Thị Anh Nga (dịch Pierre-Marc de Biasi, 2011), Nguyễn Văn Thuấn (dịch Graham Allen, 2015). Đáng chú ý, Nguyễn Văn Thuấn đã công bố Giáo trình Lý thuyết liên văn bản (2018) gồm 12 chương, 430 trang. Hướng nghiên cứu liên văn bản trong chuyển thể điện ảnh có công trình của Nguyễn Nam (2004, 2006, 2011, 2012), Lê Thị Dương (2015), Trần Công Đức (2016), Đào Lê Na (2017). Các nghiên cứu ứng dụng vào văn học Việt Nam và thế giới gồm có công trình của Lê Huy Bắc, Phan Huy Dũng, Nguyễn Văn Hùng, Nguyễn Thị Quỳnh Hương, Nguyễn Đào Nguyên, Nguyễn Thị Tịnh Thy, Nguyễn Văn Thành, Nguyễn Thị Hồng Yến.

Về tình hình nghiên cứu tiểu thuyết Mạc Ngôn, trên thế giới và tại Trung Quốc, các tài liệu tự bạch gồm có Mạc Ngôn, nghiên cứu và tư liệu do Dương Dương biên soạn (2005), Ghi chép đối thoại của Vương Nghiêu và Lâm Kiến Phát (2003), Người tỉnh nói chuyện mộng du (Trần Trung Hỷ dịch, 2008). Các ý kiến phê bình chia thành hai luồng:

  • Luồng phê phán: Vương Cán, Hạ Thiệu Tuấn, Phan Khải Hùng, Vương Kim Thành, Lý Kiến Quân, Tiêu Ưng, Wolfgang Kubin cho rằng tác phẩm của ông có yếu tố sắc dục, bạo lực, lộng ngôn hoặc phóng túng.
  • Luồng khẳng định: Trần Hiểu Minh, Trương Thành, Chu Ân, Lý Hồng Chân, Trương Chí Trung, Trương Thanh Hoa (1988), Trình Đức Bồi, Quý Hồng Trân, Gia Trọng Minh, Khương Tiểu Bân, Lưu Tái Phục, Howard Goldblatt, Jonathan Spence, Richard Bernstein, Omid Akhavan, Shelley W. Chan, Angelica Duran, Yuhan Huang.
  • Các nghiên cứu chuyên sâu về liên văn bản ở tiểu thuyết Mạc Ngôn: luận văn của Yang Wei (Dương Vỹ, Đại học Sư phạm Chiết Giang, 2014) về chức năng liên văn bản và tự sự; bài viết của Ye Weiwei và Li Jun (2017) so sánh Mạc Ngôn và Toni Morrison; luận văn so sánh Mạc Ngôn và William Faulkner của Xiuguo Huang (Đại học Sơn Đông, 2006).

Tại Việt Nam, các dịch giả và nhà nghiên cứu như Lê Huy Tiêu (2003, 2008, 2011, 2012), Hồ Sỹ Hiệp (2001, 2003), Nguyễn Khắc Phê (2002), Trần Minh Sơn (2003), Phạm Tú Châu (2003) đã phân tích thế giới nghệ thuật, ngôn ngữ và thủ pháp trần thuật của Mạc Ngôn. Luận án của Nguyễn Thị Bạch Hải lựa chọn giải quyết khoảng trống: tổng hợp có hệ thống lý thuyết liên văn bản để phân tích chỉnh thể 11 tiểu thuyết của Mạc Ngôn trên các bình diện đề tài, hình tượng nhân vật, biểu tượng, cận văn bản, diễn ngôn và tích hợp thể loại.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết của luận án dựa trên hệ thống khái niệm trong Giáo trình Lý thuyết liên văn bản của Nguyễn Văn Thuấn (2018), kết hợp tư tưởng của các nhà lý thuyết phương Tây:

  • Ferdinand de Saussure: Hệ thống ký hiệu học, cặp phạm trù ngôn ngữ và lời nói.
  • Mikhail Bakhtin: Nguyên lý đối thoại, tính phức điệu, đa thanh, dị ngôn, hai giọng và quan hệ liên chủ thể trong tiểu thuyết.
  • Julia Kristeva: Khái niệm tính liên văn bản (intertextuality - 1967), sự chuyển vị (transposition), quan niệm văn bản là sự hấp thụ và biến đổi các văn bản khác.
  • Roland Barthes: Khái niệm văn bản như một tấm vải dệt từ các trích dẫn cũ, luận điểm "cái chết của tác giả" và quyền năng giải mã của người đọc.
  • Michel Foucault: Luận điểm về tính mở và sự xóa mờ biên giới của cuốn sách.
  • Michel Riffaterre: Tiếp cận cấu trúc - ký hiệu học và phản hồi độc giả; phân biệt hai chặng đọc (đọc giải mã quy chiếu và đọc hiệu lực ngược phát hiện tính biểu trưng); hiện tượng tương hợp nghĩa (syllepsis).
  • Gérard Genette: Khái niệm palimpsest (văn bản đa tầng viết chồng) và 5 dạng thức quan hệ xuyên văn bản (transtextuality): liên văn bản (intertextuality), cận văn bản (paratextuality), siêu văn bản (metatextuality), kiến trúc văn bản (architextuality), thượng văn bản (hypertextuality).
  • Harold Bloom: Khái niệm "sự lo lắng về ảnh hưởng" (anxiety of influence) và cơ chế "đọc sai" (misreading).
  • Umberto Eco: Tính liên văn bản tự giác/tự ý thức dựa trên sự tương tác giữa ba yếu tố: chủ ý tác giả, chủ ý tác phẩm và chủ ý người đọc; khái niệm tính liên văn bản trớ trêu.
  • Marko Juvan: Phân loại 3 phương thức liên văn bản gồm mô tả, chuyển vị và bắt chước.

Luận án sử dụng các phương pháp nghiên cứu định tính trong nghiên cứu văn học:

  • Phương pháp lịch sử - loại hình: Khảo sát tiến trình phát triển của lý thuyết liên văn bản và đặt tiểu thuyết Mạc Ngôn trong bối cảnh lịch sử, chính trị, xã hội Trung Quốc thời kỳ đổi mới.
  • Phương pháp so sánh - đối chiếu: Đối chiếu văn bản tiểu thuyết Mạc Ngôn với các tiền văn bản (văn học dân gian, văn học cổ điển Trung Hoa, tác phẩm của William Faulkner, Gabriel García Márquez, Bồ Tùng Linh, Lỗ Tấn) để tìm ra điểm kế thừa và biến đổi.
  • Phương pháp cấu trúc - hệ thống: Xem xét tính chỉnh thể của các hệ thống đề tài, nhân vật, biểu tượng và thủ pháp diễn ngôn trong 11 tiểu thuyết khảo sát.
  • Các thao tác bổ trợ: Phương pháp tiểu sử, phân loại, thống kê mô tả tư liệu và phân tích văn bản.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan về vấn đề nghiên cứu

Chương này thực hiện tổng thuật hai nội dung:

  1. Lịch sử hình thành và phát triển của lý thuyết liên văn bản trên thế giới (Âu - Mỹ, Trung Quốc) và sự du nhập, tiếp nhận tại Việt Nam. Tác giả chỉ ra sự chuyển dịch từ cấu trúc luận sang hậu cấu trúc luận và khẳng định tính khả dụng của lý thuyết này trong nghiên cứu văn học đương đại.
  2. Lịch sử nghiên cứu tiểu thuyết Mạc Ngôn ở phạm vi quốc tế, Trung Quốc và Việt Nam. Chương 1 phân loại các khuynh hướng tiếp nhận, bao gồm các bài phê bình khắt khe về mặt đạo đức/ngôn từ và các công trình khẳng định giá trị nghệ thuật, từ đó xác lập tính cấp thiết của đề tài luận án.

Chương 2: Khái lược về lý thuyết liên văn bản và cội nguồn tính liên văn bản trong tiểu thuyết Mạc Ngôn

Chương 2 trình bày hai phần nội dung:

  1. Hệ thống hóa khái niệm, lịch sử lý thuyết liên văn bản (từ Saussure, Bakhtin, Kristeva, Barthes, Genette, Riffaterre, Bloom, Eco đến Juvan) và các biểu hiện chủ yếu (trùng lặp đề tài, chủ đề, tái sinh hình tượng, chuyển vị, bắt chước).
  2. Phân tích ba cội nguồn hình thành tính liên văn bản trong sáng tác của Mạc Ngôn:
  • Hoàn cảnh xuất thân trong thời đại đau thương: Trải nghiệm tuổi thơ nghèo đói, nạn đói năm 1960, các biến cố chính trị và giai đoạn phục vụ quân ngũ tạo nên nguồn chất liệu hiện thực và tâm lý sáng tác.
  • Quê hương và con người Cao Mật: Vùng đất Đông Bắc Cao Mật (Sơn Đông) được xây dựng thành vương quốc nghệ thuật trung tâm, nơi lưu giữ các truyền thuyết dân gian, phong tục tập quán và tính cách con người bản địa.
  • Truyền thống văn hóa dân tộc và giao lưu văn hóa toàn cầu: Sự kết hợp giữa văn hóa truyền thống Trung Hoa (truyện truyền kỳ, Liêu trai chí dị của Bồ Tùng Linh, tiểu thuyết chương hồi) với việc tiếp thu kỹ thuật tự sự phương Tây (chủ nghĩa hiện thực huyền ảo của García Márquez, không gian nghệ thuật của Faulkner).

Chương 3: Tính liên văn bản trong tiểu thuyết Mạc Ngôn nhìn từ đề tài, nhân vật và biểu tượng

Chương 3 tập trung phân tích các phương diện nội dung tác phẩm dưới góc nhìn liên văn bản:

  1. Đề tài - sự chuyển hóa giữa các văn bản:
  • Đề tài quê hương: Hành trình sáng tạo nghệ thuật gắn liền với không gian Cao Mật qua các tác phẩm (Cao lương đỏ, Báu vật của đời, Cây tỏi nổi giận).
  • Đề tài lịch sử: Thể hiện thái độ và trách nhiệm của nhà văn khi tái hiện các sự kiện lịch sử (phong trào Nghĩa Hòa Đoàn, kháng chiến chống Nhật, Cách mạng Văn hóa, công cuộc cải cách) theo xu hướng giải thiêng và dân gian hóa.
  1. Nhân vật - sự vận động xuyên không gian, thời gian:
  • Nhân vật nữ: Khảo sát sự dịch chuyển từ nguyên lý tính mẫu (người mẹ bao dung, sinh nở, bảo tồn sự sống như Thượng Quan Lỗ Thị trong Báu vật của đời) đến bản năng đàn bà với những khát khao tự nhiên.
  • Nhân vật anh hùng trong sắc diện mới: Khắc họa người anh hùng mang bản chất dân gian, thảo khấu, đầy khiếm khuyết (Dư Chiêm Hải trong Cao lương đỏ).
  • Nhân vật kỳ lạ, dị thường: Sự tái sinh của các mô típ thần kỳ dân gian, yếu tố quái đản và phi lý (Tây Môn Náo luân hồi chuyển kiếp thành súc vật trong Sống đọa thác đày).
  1. Biểu tượng - nguyên mẫu và tái sinh:
  • Biểu tượng "bầu vú": Được đặt ở vị trí trung tâm của sự sống, sự nuôi dưỡng và tái sinh tính dục (Báu vật của đời).
  • Biểu tượng "giấc mơ": Phản ánh những ẩn ức tâm lý bị kìm nén của nhân vật dưới tác động của hoàn cảnh sống.
  • Biểu tượng "cao lương": Hiện thân của nguồn ngũ cốc nuôi sống con người, đồng thời biểu trưng cho sức sống tự nhiên, mạnh mẽ của cư dân Cao Mật.

Chương 4: Tính liên văn bản trong tiểu thuyết Mạc Ngôn nhìn từ thủ pháp cận văn bản, lối viết huyền ảo, trò chơi diễn ngôn và tích hợp thể loại

Chương 4 khảo sát các phương thức tổ chức nghệ thuật liên văn bản:

  1. Thủ pháp cận văn bản và lối viết huyền ảo:
  • Khảo sát hệ thống cận văn bản: Nhan đề, đề từ, lời tựa, mục lục, hệ thống chú thích và thư từ kèm theo tác phẩm (như cấu trúc thư tín và kịch bản trong Ếch, Tửu quốc).
  • Lối viết huyền ảo: Vận dụng kỹ thuật hiện thực huyền ảo kết hợp truyện ma quái, truyền thuyết dân gian, biến ranh giới giữa cõi sống và cõi chết, thực và ảo trở nên mờ nhạt.
  1. Trò chơi phối kết các diễn ngôn:
  • Diễn ngôn giễu nhại, ám chỉ: Sử dụng thủ pháp nhại lại các văn bản chính thống, giáo điều hoặc trích dẫn kinh điển để tạo hiệu ứng giải cấu trúc.
  • Diễn ngôn lệch chuẩn: Sử dụng khẩu ngữ, tiếng lóng, từ ngữ trần tục của đời sống nông thôn nhằm phá vỡ quy phạm ngôn ngữ thanh tao truyền thống.
  1. Sự hòa trộn, tích hợp các thể loại:
  • Liên văn bản với các thể loại văn học: Đan cài thơ ca dân gian, ca dao, hí khúc, hát Mậu Xương (Đàn hương hình).
  • Liên văn bản với các thể loại phi văn học: Sử dụng công văn, khẩu hiệu, hồ sơ bệnh án, thư từ, ghi chép điều tra xã hội học.
  • Liên văn bản với điện ảnh / chuyển thể điện ảnh: Khảo sát mối tương tác giữa ngôn ngữ tiểu thuyết và ngôn ngữ điện ảnh (trường hợp phim Cao lương đỏ do Trương Nghệ Mưu đạo diễn).

Kết quả và những đóng góp mới

Theo công bố của tác giả, luận án đạt được các kết quả và đóng góp mới sau:

  1. Về mặt lý luận: Thể nghiệm việc ứng dụng hệ thống lý thuyết liên văn bản vào nghiên cứu một tác gia tiểu thuyết đương đại đạt giải Nobel Văn học, góp phần khẳng định tính khả dụng và hiệu quả của lý thuyết liên văn bản trong việc giải mã các cấu trúc tự sự phức hợp.
  2. Về mặt thực tiễn: Là công trình nghiên cứu chuyên sâu, có hệ thống đầu tiên tại Việt Nam tiếp cận tiểu thuyết của Mạc Ngôn từ góc nhìn liên văn bản trên cả hai phương diện nội dung tư tưởng (đề tài, nhân vật, biểu tượng) và hình thức nghệ thuật (cận văn bản, huyền ảo, trò chơi diễn ngôn, tích hợp thể loại). Công trình cung cấp cái nhìn tổng thể về phong cách nghệ thuật của Mạc Ngôn và bối cảnh văn học Trung Quốc thời kỳ đương đại.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Về hạn chế, luận án giới hạn phạm vi khảo sát ở 11 tiểu thuyết đã được dịch sang tiếng Việt và một số bài phỏng vấn, tản văn có bản dịch tiếng Việt; chưa tiến hành khảo cứu toàn bộ các sáng tác ngắn, kịch bản sân khấu và các tiểu luận chưa được dịch của Mạc Ngôn bằng nguyên bản tiếng Trung.

Về hướng nghiên cứu tiếp, luận án gợi mở các hướng:

  • Mở rộng phạm vi khảo sát đối với toàn bộ di sản văn xuôi, kịch bản của Mạc Ngôn trên văn bản nguyên tác tiếng Hán.
  • Nghiên cứu so sánh liên văn bản giữa tiểu thuyết Mạc Ngôn với các đại diện tiêu biểu của văn học hậu hiện đại thế giới và các tác giả văn xuôi đương đại Việt Nam.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo phục vụ các đối tượng:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên ngành Ngữ văn, Lý luận văn học, Văn học so sánh và Văn học nước ngoài: Tham khảo khung lý thuyết liên văn bản và phương pháp thao tác hóa lý thuyết vào phân tích văn bản nghệ thuật cụ thể.
  • Giảng viên đại học và cao đẳng: Sử dụng tư liệu trong các học phần Lý luận văn học, Văn học Trung Quốc đương đại, Thi pháp học và Phân tích tác phẩm.
  • Các nhà nghiên cứu phê bình văn học và nghệ thuật chuyển thể: Tham khảo chương nghiên cứu về diễn ngôn giễu nhại, cận văn bản và mối quan hệ liên văn bản giữa văn học với điện ảnh.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án khảo sát bao nhiêu tiểu thuyết của Mạc Ngôn và căn cứ trên nguồn văn bản nào?
Luận án khảo sát 11 tiểu thuyết của Mạc Ngôn đã được dịch và xuất bản tại Việt Nam: Cao lương đỏ (2000), Báu vật của đời (2001), Cây tỏi nổi giận (2003), Rừng xanh lá đỏ (2003), Đàn hương hình (2003), Tửu quốc (2004), 41 chuyện tầm phào (2004), Sống đọa thác đày (2007), Tổ tiên có màng chân (2007), Thập tam bộ (2007) và Ếch (2010), kết hợp với các bài phỏng vấn, tản văn của tác giả.

2. Luận án sử dụng khung lý thuyết liên văn bản dựa trên những đại biểu lý thuyết nào?
Khung lý thuyết của luận án chủ yếu dựa trên Giáo trình Lý thuyết liên văn bản của Nguyễn Văn Thuấn (2018), kết hợp các luận điểm của Jacques Derrida, Ferdinand de Saussure, Mikhail Bakhtin, Julia Kristeva, Roland Barthes, Michel Foucault, Michel Riffaterre, Gérard Genette, Harold Bloom, Umberto Eco và Marko Juvan.

3. Ba cội nguồn của tính liên văn bản trong tiểu thuyết Mạc Ngôn được luận án xác định là gì?
Chương 2 của luận án chỉ ra ba cội nguồn: (1) Hoàn cảnh xuất thân trong thời đại đau thương và trải nghiệm đói nghèo, biến động xã hội; (2) Quê hương và con người vùng Đông Bắc Cao Mật như nguồn cảm hứng và không gian nghệ thuật trung tâm; (3) Truyền thống văn hóa dân tộc Trung Hoa kết hợp với việc tiếp thu tinh hoa văn hóa, văn học toàn cầu (Faulkner, García Márquez).

4. Những biểu tượng nghệ thuật nào trong tiểu thuyết Mạc Ngôn được phân tích ở Chương 3?
Chương 3 phân tích ba biểu tượng nguyên mẫu và tái sinh: biểu tượng "bầu vú" (trung tâm của sự nuôi dưỡng và tái sinh), biểu tượng "giấc mơ" (phản ánh ẩn ức tâm lý bị kìm nén) và biểu tượng "cao lương" (ngũ cốc và sức sống tự nhiên).

5. Luận án phân tích những dạng thức liên văn bản nào trong nghệ thuật tự sự ở Chương 4?
Chương 4 phân tích 4 nhóm thủ pháp: (1) Cận văn bản (nhan đề, lời tựa, đề từ, chú thích) và lối viết huyền ảo; (2) Trò chơi phối kết diễn ngôn (giễu nhại, ám chỉ, diễn ngôn lệch chuẩn); (3) Tích hợp các thể loại văn học (thơ, kịch, hát Mậu Xương) và phi văn học (công văn, thư từ, khẩu hiệu); (4) Liên văn bản với điện ảnh và quá trình chuyển thể tác phẩm.

Kết luận

Luận án Tiểu thuyết của Mạc Ngôn nhìn từ lý thuyết liên văn bản của tác giả Nguyễn Thị Bạch Hải là công trình chuyên khảo thuộc chuyên ngành Lý luận văn học, vận dụng hệ thống lý thuyết liên văn bản phương Tây để khảo sát 11 tiểu thuyết của nhà văn Mạc Ngôn. Công trình đã làm rõ cội nguồn văn hóa, lịch sử hình thành tính liên văn bản, đồng thời phân tích các biểu hiện của lý thuyết này trên phương diện đề tài, nhân vật, biểu tượng, thủ pháp cận văn bản, trò chơi diễn ngôn và sự tích hợp thể loại. Luận án cung cấp nguồn tư liệu học thuật phục vụ công tác giảng dạy, học tập và nghiên cứu văn học đương đại cùng lý thuyết phê bình văn học tại Việt Nam.