Luận án tiến sĩ: Bồi dưỡng năng lực tự học môn Vật lý 11 theo B-Learning - Nguyễn Thị Lan Ngọc, Đại học Sư phạm Huế

Tài liệu giúp học sinh lớp 11 phát triển năng lực tự học Vật lý thông qua phương pháp B-Learning. Kết hợp học trực tiếp và trực tuyến, nâng cao hiệu quả học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2021

241
0
0

Phí lưu trữ

55 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về năng lực tự học và B Learning

Năng lực tự học là khả năng của học sinh trong việc tự mình tiếp thu, tích lũy và vận dụng kiến thức. B-Learning là hình thức dạy học kết hợp giữa học trực tuyến và học trực tiếp. Việc bồi dưỡng năng lực tự học của học sinh theo B-Learning trong dạy học phần Quang hình học Vật lí 11 là cần thiết để phát triển năng lực tự học của học sinh.

1.1. Khái niệm năng lực tự học

Năng lực tự học là khả năng của học sinh trong việc tự mình tiếp thu, tích lũy và vận dụng kiến thức. Đây là một trong những năng lực quan trọng của học sinh trong quá trình học tập.

1.2. Khái niệm B Learning

B-Learning là hình thức dạy học kết hợp giữa học trực tuyến và học trực tiếp. Đây là một trong những hình thức dạy học hiện đại đang được áp dụng rộng rãi.

II. Phân tích vấn đề dạy học phần Quang hình học Vật lí 11

Dạy học phần Quang hình học Vật lí 11 là một trong những phần quan trọng của chương trình Vật lí 11. Tuy nhiên, việc dạy học phần này hiện nay còn nhiều vấn đề tồn tại, cần được cải thiện.

2.1. Thực trạng dạy học phần Quang hình học Vật lí 11

Thực trạng dạy học phần Quang hình học Vật lí 11 hiện nay còn nhiều vấn đề tồn tại, như việc học sinh không hiểu rõ kiến thức, không có kỹ năng tự học.

2.2. Nguyên nhân của thực trạng

Nguyên nhân của thực trạng là do nhiều yếu tố, như phương pháp dạy học chưa phù hợp, học sinh không có động lực học tập.

III. Giải pháp bồi dưỡng năng lực tự học theo B Learning

Để bồi dưỡng năng lực tự học của học sinh theo B-Learning trong dạy học phần Quang hình học Vật lí 11, cần thiết kế và tổ chức dạy học theo hướng kết hợp giữa học trực tuyến và học trực tiếp.

3.1. Thiết kế nội dung dạy học

Thiết kế nội dung dạy học cần phù hợp với mục tiêu dạy học và năng lực của học sinh.

3.2. Tổ chức dạy học

Tổ chức dạy học cần linh hoạt, kết hợp giữa học trực tuyến và học trực tiếp.

IV. Kết luận và ứng dụng

Bồi dưỡng năng lực tự học của học sinh theo B-Learning trong dạy học phần Quang hình học Vật lí 11 là một trong những giải pháp quan trọng để phát triển năng lực tự học của học sinh.

4.1. Kết quả đạt được

Kết quả đạt được là học sinh có năng lực tự học tốt hơn, hiểu rõ kiến thức hơn.

4.2. Ứng dụng

Ứng dụng của giải pháp này là có thể áp dụng rộng rãi trong dạy học các môn khác.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

22/04/2026
Luận án tiến sĩ bồi dưỡng năng lực tự học của học sinh theo b learning trong dạy học phần quang hình học vật lí 11

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1. Tông quan van đề nghiên cứu Chương 2. Cơ sở lý thuyết và thực tiễn của việc bôi dưỡng năng lực tự học của hoc sinh theo B-Learning Chương 3. Tổ chức dạy học theo hướng bồi đưỡng năng lực tự học của học sinh theo B-Learning phan Quang hình học Vật lí 11 Chương 4.

Thực nghiệm sư phạm: NOI DUNG CHUONG 1. TONG QUAN VAN DE NGHIEN CUU 1. Các nghiên cứu về năng lực và năng lực tự học 1. Các kết quả nghiên cứu trên thể giới ắL là một phạm trù được bàn đến trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội.

Dưới góc độ tâm lý học, NL trở thành đối tượng nghiên cứu chuyên sâu trong các công trình của F. Trong nghiên cứu của mình, E. Ganton cho rằng NL có những biểu hiện như tính nhạy bén. chắc chắn, sâu sắc và dé dang trong quá trình lĩnh hội một hoạt động nào đó.

Người có NL là người dat hiệu suất và chất lượng hoạt động cao trong các hoàn cảnh khách quan và chủ quan như nhau. gắn bó chặt chẽ với tính định hướng chung của nhân cách (dan theo [41]). Rudich, NL đó là tính chất tâm sinh lý của con người chỉ phối quá trình tiếp thu các kiến thức, kĩ năng và kĩ xảo cũng như hiệu quả thực hiện một hoạt động nhất định (dẫn theo. NL của con người không chỉ là kết quả của sự phát triển và giáo đục mà còn là kết quả hoạt động của các đặc điểm bẩm sinh hay còn gọi là năng khiếu.

NL đó là năng, Khiểu được phát triển, có năng khiếu chưa có nghĩa là nhất thiết sẽ biền thành NL. Muốn vậy phải có môi trường xung quanh tương ứng và phải có sự giáo đục có chủ dich. Cosmoviei “năng lực là tổ hợp đặc điểm của cá nhân, giải thích sự khác biệt giữa người này với người khác ở khả năng đạt được những kiến thức và hành vi nhất định” [92]. Leonchiev cho rằng “năng lực là đặc điểm cá nhân quy định việc thực hiện thành công một hoạt động nhất định " [103] Dưới góc độ của các nhà di truyền học trên thể giới vào những năm đâu thé ky XX cho rằng “năng lực phụ thuộc tuyệt đối vào tính chất bẩm sinh của di truyén gen” (din theo [68]).

Những nghiên cứu của A. Watson coi NL của con người là sự thích nghỉ “sinh vật” với điều kiện sống [29]. này nghiên cứu NLL tập trung vào khía cạnh bản năng, yêu tô bẩm sinh, di truyền của con người mà chưa quan tâm đến hoạt đông giáo dục. Dưới góc độ của các nhà Giáo dục học, thuật ngữ NL cũng được xem xét đa chiều hơn: NL là một tập hợp kiến thức, thái độ và kĩ năng hoặc các chiến lược tư duy cốt lõi cho việc tạo ra những sản phẩm đâu ra quan trọng: NL là những phẩm chát tiềm tang của một cá nhân và những đòi hỏi của công việc.

Trung tâm nghiên cứu châu Âu về việc làm và lao động đã phân tích rõ môi liên quan giữa các khái niệm “Xững lực (competence), kĩ năng (skills) và kiến thức (knowiedge)”, từ đó đã tông hợp các định nghĩa chính về NL trong đó nêu rõ NL là tổ hợp những phẩm chất vẻ thê chất và trí tuệ giúp ích cho việc hoàn thành một công việc với mức độ chính xác nào đó. Điều này có nghĩa là, các NL luôn bị chỉ phôi bởi bồi cảnh cụ thê mà trong đó các NL được đòi hỏi Vi thé, trong điều kiện toàn cầu hóa và nên kinh tế tri thức, học tập không ngừng là một trong những điều kiện tiên quyết cho sự tồn tại và phát triển của bất kỳ một tố chức, cá nhân nào; NL là sự tích hợp sâu sắc của kiến thức, kĩ năng, thái độ làm nên khả năng thực hiện một công việc chuyên môn và được thê hiện trong thực tiễn hoạt động. Tuy quan niệm về NL đưới các góc độ nghiên cứu của nhiều các tác giả còn có sự khác nhau nhất định, nhưng đều thống nhất ở một điểm chung đó là: Nói đến NL là phải nói đến khả năng thực hiện, là phải biết làm chứ không chỉ biết và hiểu. Bên cạnh đó, các nghiên cứu còn tập trung vào bản chất của NLTH, theo thông kê của Candy đã xác định có ít nhất 30 khái niệm khác nhau được sử dụng đồng nghĩa với NLTH đó là: Học tập độc lập, TH, người học tự kiểm soát, hướng đẫn bản thân, tự giáo dục, học tập phi truyền thông, học tập mở, học tập tự tổ chức, TH theo kế hoạch.

[S9] Nội đung các định nghĩa tập trung mô tả người TH là người chủ động thê hiện kết quả học tập (KQHT) của mình, kiên tri trong học tập và chịu trách nhiệm vẻ việc học. Tác giả đã liệt kẻ được 12 biểu hiện của người có NLTH, đồng thời được ông chia thành 2 nhóm để xác định nhóm yêu tô nào sẽ chịu tác động mạnh từ môi trường học tập. Tuy nhiên, tác giả chưa đưa ra được thang đo cụ thể để đánh giá NLTH của HS G. Sharma 44 nghiên cứu về TH và xem hoạt động TH như là một PPDH.

hiệu quả mà ông gọi đó là phương pháp TH trong tác phẩm “Phương pháp dạy học ở đại học” [65]. Tác giả đã khuyến khích sinh viên TH bằng cách lễng ghép phương pháp TH trong quá trình giảng đạy của giảng viên. Tuy nhiên, sẽ gặp khó khăn nhất định khi áp dụng những phương pháp TH này cho đối tượng người học là HS phổ thông. Tác giả Taylor trong tác phẩm “Tự học - Một ý tưởng thích hợp nhất cho học sinh THPT”' đã đưa ra những biểu hiện của người có NLTH và xác nhận rằng người TH là người có đông cơ học tập và bản bị, có tính độc lập, kỷ luật, biết định hướng mục tiêu và có kĩ năng hoạt động phù hợp [118].

Carl Rogers, nhà tâm lý học người Mỹ, chủ trương hình thành môi trường học tập, trong đó người học có ý thức về bản thân, an toàn và tự đo để lựa chọn. Người học phải có trách nhiệm đầy đủ về sự quyết định, về hành đông và KQHT của họ, GV có nhiệm vụ xây dựng môi trường học tập tin cây an toàn trở thành người cùng học, chuẩn bị sẵn sảng các nguồn lực và kĩ thuật học tập [111] Trong cuốn “Tự học - 7í luận và thực tiễn”, Sandra Kerka cho rằng quan niệm sai lam lớn nhất là có găng để năm bat được bản chất của TH trong một định nghĩa duy nhất. Theo tác giả cho đù nghiên cứu hay thực hành, học cá nhân hay học nhóm. mỗi một cá nhân người học có phương pháp, có NL riêng biệt - chính sự riêng biệt cho thấy NLTH và việc TH của mỗi cá nhân là khác nhau [102].

Céng trinh “Hoc tp một cách thông mình" của Shayer Michael và Ađey Philip đã đưa ra nhiều biện pháp giúp HS học tập một cách thông minh. Các tác giả chú trọng vào tìm hiểu nhu cầu, mong muôn của HS từ đó đưa ra những gì cần giúp đỡ các em trong quá trình TH. Bên cạnh đó Michael và Phillip còn quan tâm đến vấn đề giao tiếp của HS khi hoạt động nhóm, thông qua những ghi chép về các đoạn hội thoại của các em có thể kết luận mức hiểu bài cũng như mức độ tích cực của HS khi TH [105]. Trong cuốn sách “Tự học ”, Richard Smith lại cho rằng TH có nghĩa là người học tự chủ.

Theo ông đây không hoàn toàn là một phương pháp trong DH mà là một mục tiêu quan trọng của giáo đục Ý tưởng về tự chủ của người học không phải là mới, ông còn gọi thuật ngữ này với cách gọi khác như: Cá nhân hóa, người học độc lập. Điều này có ý nghĩa là người học phải có đẩy đủ NL để chịu trách nhiệm và ra quyết định đối với việc học của mình [114]. Tác gia Dimitrios Thanasoulas, trong cuốn “Tự học là như thế nào và làm thé nào bôi dưỡng việc tự học" cho rằng khái niệm TH là sự độc lập và tự chủ của người học. Nó là một vấn đã quan trọng nhất trong việc giảng đạy.

Người học học tập một cách độc lập và có trách nhiệm đối với việc học của mình; Tác giả cũng không phủ nhận vai trò hướng đẫn của GV đối với việc TH của HS. Bên cạnh đó, tác giả phân tích khá kĩ về việc mỗi cá nhân đều khác nhau về thói quen học tập, sở thích, nhu cẩu và đông lực. Từ đó ông đưa ra trong nghiên cứu của mình quan niệm về TH, điều kiện để TH, chiến lược học tập hiệu quả cũng như những biện pháp khuyến khích HS TH và tự kiểm tra, đánh giá việc học của bản thân [119] Từ những kết quả nghiên cứu trên thế giới về NL, NLTH và bồi dưỡng NUTH chúng tôi nhân thấy: TH là yếu tố quyết định cho xu hướng học tập suốt đời của mỗi cá nhân trong xã hội hiện đại. Việc bồi dưỡng NLTH là rất cần thiết, ảnh hưởng trực tiếp tới việc học của người học.

Các kết quả nghiên cứu ở Nam Kế thừa những nghiên cứu của các tác giả trên thể giới, vấn để NL nhận được sự quan tâm của các tác giả trong nước như Phạm Minh Hạc [24]. Nguyễn Sinh Huy và công sự [34], Đăng Thành Hưng [35], Lương Việt Thái [67], Lâm Quang Thiệp [69] Nguyễn Quang Uan [81], Pham Viét Vuong [S3]. với một nội hàm khá rõ ràng. NL theo các nhà tâm lý học là những thuộc tính của cá nhân [35], [S1]; sự kết hợp linh hoạt và độc đáo hay tổ hợp đặc điểm tâm lý của con người [24], [34]; NL là cái có được thông qua đào tạo, bồi đưỡng và trải nghiệm thực tiễn [S3].

Những nghiên cứu này cho thấy, NL gắn liên với hoạt động và giá trị thu được của hoạt động ấy. NL luôn được xem xét trong môi quan hệ với hoạt động hoặc quan hệ với một đặc trưng tâm 1ý nhất định nào đó. Theo đó NL có cấu trúc gồm ba bộ phận cơ bản: Trỉ thức, kĩ năng và những điều kiện tâm lý Nhấn mạnh đến tính mục đích và nhân cách NL trong nghiên cứu [24] hay coi các mục tiêu về NL là những mục tiêu có tính tổng hợp [69] hay coi NL là khả năng đơn lẻ của cá nhân, được hình thành dựa trên sự lắp ghép. các mảng kiến thức và kĩ năng cụ thể [67].

Với cách hiểu này, việc đánh giá NL người học được dựa trên các kết quả có thể nhìn thấy (ch: u là điểm thi va kiểm tra) [67] Để hướng tới một xã hội học tập suốt đời thì TH được xem là chìa khóa mở ra cánh cửa ấy.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ