CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG Xƣa nay, ngƣời ta vẫn gọi Victor Hugo là “tác giả của Những người khốn khổ” – một tác phẩm thƣờng hiện lên đầu tiên trong tâm trí độc giả khi nhắc đến nền văn học Pháp. Mức độ phổ biến và sự nổi tiếng nó có đƣợc một phần là do số lƣợng các tác phẩm cải biên đồ sộ và đa dạng: từ văn học đến sân khấu, điện ảnh, truyện tranh và thậm chí là trò chơi điện tử. Điều này khiến cho Những người khốn khổ đƣợc tiếp nhận và biết đến nhiều hơn. Vì vậy, việc nghiên cứu các tác phẩm cải biên từ Những người khốn khổ là một đề tài có nhiều hƣớng tiếp cận và khai thác.
Ở chƣơng này, chúng tôi sẽ khái quát những vấn đề chung có liên quan trực tiếp đến đề tài “Tiếp nhận và cải biên tác phẩm Những người khốn khổ của Victor Hugo: từ văn học đến các loại hình nghệ thuật khác”. Chúng tôi cho rằng việc nghiên cứu đề tài này gắn bó chặt chẽ với việc ứng dụng các lí thuyết văn học hậu hiện đại – cụ thể là lí thuyết tiếp nhận và lí thuyết cải biên. Chúng tôi sẽ sử dụng hai lí thuyết trên làm cơ sở lí luận chính cho đề tài của mình. Bên cạnh đó, chúng tôi cũng cung cấp những thông tin cơ bản về bộ tiểu thuyết Những người khốn khổ của Victor Hugo, nhìn lại thời đại mà nó ra đời cũng nhƣ thực trạng việc tiếp nhận tác phẩm này tại Việt Nam thông qua một vài trƣờng hợp và kết quả khảo sát cụ thể.
CẢI BIÊN HỌC – TỪ VĂN HỌC ĐẾN CÁC LOẠI HÌNH NGHỆ THUẬT KHÁC Cuối thế kỉ XIX, nhờ sự ra đời của điện ảnh và các công nghệ kĩ thuật tiên tiến, xã hội bắt đầu chú ý nhiều hơn đến những tác phẩm nghệ thuật thuộc văn hóa nghe – nhìn. Tuy nhiên, vì vẫn muốn hƣớng con ngƣời đến những giá trị nhân văn sâu sắc, rất nhiều ngƣời làm nghệ thuật đã chọn cải biên một tác phẩm văn học nổi tiếng thành một tác phẩm điện ảnh, sân khấu hay thậm chí là truyện tranh, âm nhạc,… Một mặt việc này tạo nên những cách nhìn cụ thể và chi tiết về một tác phẩm văn học (hay đƣa ra cái nhìn cụ thể của ngƣời cải biên văn học về văn bản nguồn), mặt khác nó góp phần làm cho văn học trở nên gần gũi và mới mẻ hơn với công chúng. Nhƣng cũng chính từ những sự mới mẻ này mà việc nghiên cứu lí thuyết cải biên vẫn còn nhiều tranh luận, bất cập. Cải biên học như sự phức hợp của các lí thuyết Theo Đào Lê Na, thuật ngữ “adaptation” (tiếng Anh) đƣợc hiểu là sự cải biên hoặc sự thích nghi1, từ đó ở đây, chúng tôi cũng chọn cách chuyển ngữ “Theory of Adaptation” 1 Đào Lê Na, Chân trời của hình ảnh, NXB Đại học Quốc gia TP.
15 thành “lí thuyết cải biên”. Theo Từ điển tiếng Việt, cải biên là “sửa đổi ít nhiều hoặc biên soạn lại (thƣờng nói về vốn nghệ thuật cũ)”. Trong khi đó, chuyển thể chỉ đơn giản là “chuyển tác phẩm văn học thành kịch bản sân khấu hoặc điện ảnh”2. Từ đó có thể thấy rằng thuật ngữ “cải biên” rộng hơn và chính xác hơn khi nói về các tác phẩm văn học đƣợc tái hiện lại bằng các loại hình nghệ thuật khác chứ không dừng lại ở điện ảnh và sân khấu nhƣ đối với trƣờng hợp “chuyển thể”.
Bên cạnh đó, nghiên cứu cải biên (adaptation studies) cũng sẽ đƣợc áp dụng cho cả những bộ phim làm lại (remake) và phim lấy cảm hứng từ sự kiện hoặc câu chuyện có thật. Những trƣờng hợp này, sử dụng thuật ngữ “chuyển thể” sẽ rất vô lí. Vì vậy, chúng tôi cũng thống nhất sử dụng thuật ngữ “lí thuyết cải biên” trong công trình này thay vì “lí thuyết chuyển thể”. Tuy nhiên với đại bộ phận ngƣời Việt, thuật ngữ “cải biên” vẫn còn rất xa lạ, ngƣời ta vẫn quen dùng từ “chuyển thể” khi nhắc đến việc đƣa văn học vào các loại hình nghệ thuật khác (mà phổ biến nhất vẫn là điện ảnh và sân khấu).
Từ cách chọn sử dụng thuật ngữ “cải biên”, chúng tôi sẽ gọi các tác phẩm ra đời sau dựa trên một tác phẩm có sẵn là “tác phẩm cải biên”. Chúng tôi cũng hạn chế tối đa việc gọi các tác phẩm đƣợc cải biên là “nguyên tác” nhƣ thói quen bình thƣờng mà sẽ sử dụng từ “tác phẩm nguồn” vì tính trung lập của nó. Từ “nguyên tác” mang sự độc tôn, nó đánh giá tác phẩm cải biên nhƣ là sự phái sinh thứ yếu sau tác phẩm nguồn và do vậy vô tình đã làm mất đi tinh thần của lí thuyết cải biên khi nó đề nghị các tác phẩm cải biên xứng đáng nhận đƣợc sự bình đẳng so với tác phẩm nguồn. Trong cuốn A Theory of Adaptation (Một lí thuyết cải biên), Linda Hutcheon đúc kết rằng có thể hiểu cải biên (nhƣ một quá trình hay một tác phẩm) một cách ngắn gọn là: (1) Sự chuyển đổi đã đƣợc công nhận từ một hay nhiều tác phẩm có sẵn; (2) Sự sáng tạo và hành động giải thích cho sự chiếm dụng hoặc sự lấy cắp; (3) Sự ràng buộc mang tính liên văn bản mở rộng với các tác phẩm đƣợc cải biên.
Từ đó, theo bà, một tác phẩm cải biên là “kết quả thu đƣợc từ một nguồn nào đó nhƣng không phải là sự mô phỏng – tức là tác phẩm ra đời sau nhƣng không bị xem là thứ yếu”3. Các nhà nghiên cứu xem lí thuyết cải biên là một sự phức hợp của nhiều lí thuyết văn học ra đời trong bối cảnh hậu hiện đại mà theo Đào Lê Na là gồm bốn lí thuyết chính: liên văn bản, phiên dịch học, văn hóa học và giải kiến tạo. Chúng tôi cũng dựa vào đó mà tiến hành khái quát lí thuyết này nhƣ sau: Thứ nhất, chúng tôi nghĩ rằng không ai có thể phủ nhận sự hiện diện rõ ràng của liên văn bản trong các tác phẩm cải biên. Lí thuyết liên văn bản (Intertextuality) cho rằng tất 2 Viện Ngôn ngữ học (GS.
Hoàng Phê chủ biên), Từ điển tiếng Việt, NXB Hồng Đức, Hà Nội, 2016, tr. 3 Linda Hutcheon, A Theory of Adaptation, Routledge Publishers, UK & USA, 2006, tr. 16 cả các văn bản đều có sự kế thừa hoặc liên quan đến một văn bản khác và vì thế có thể nói mọi văn bản đều là liên văn bản. Điều này dẫn đến một kết luận rằng tác phẩm văn học và tác phẩm cải biên thực chất có quan hệ đồng đẳng với nhau bởi bản thân tác phẩm văn học cũng là một sự biến hóa, kế thừa từ vô số những hệ thống kí hiệu khác (văn bản, lời nói,…).
Do vậy khi nghiên cứu văn học và các tác phẩm cải biên từ nó, chúng ta luôn phải thừa nhận sự tiếp thu và những mối quan hệ giữa chúng với các tác phẩm bên ngoài. Chính điều này đặt tác phẩm cải biên (và cả tác phẩm văn học nguồn) vào mạng lƣới liên hệ qua lại và yêu cầu ngƣời tiếp nhận cũng nên nhìn chúng bằng một thái độ “mở”. Kế đến là phiên dịch học (Translation Studies) trong lí thuyết cải biên. Chúng tôi cho rằng lí thuyết phiên dịch là một lí thuyết đáng chú ý với cải biên học.
Chúng ta cần phải hiểu phiên dịch thực chất ra đời cùng lúc với sự ra đời ngôn ngữ, khi hai ngƣời đối thoại là đã có sự xuất hiện của dịch thuật bởi bản chất của dịch là làm cho ngƣời ta hiểu nhau. Jakobson định nghĩa dịch liên kí hiệu là “sự thông ngôn, diễn giải các văn bản ngôn ngữ thành các hệ thống phi ngôn ngữ”4 mà chúng ta có thể hiểu các hệ thống đó là các loại hình nghệ thuật khác nhƣ hội họa, điện ảnh, âm nhạc,… Áp dụng vào lí thuyết cải biên, phiên dịch học cho phép giải thích vì sao các tác phẩm cải biên không nhất thiết phải theo đúng hoàn toàn nội dung của tác phẩm văn học. Vì mục đích chính của phiên dịch là phục vụ cho giao tiếp, thấu hiểu nhau chứ không nhất thiết là đi tìm kiếm sự chính xác, nên các nhà cải biên có thể phát triển tác phẩm của mình theo nhiều hƣớng khác nhau, miễn là truyền tải đƣợc nội dung cơ bản, cốt lõi nhất đến với ngƣời đọc. Do vậy, có thể nói rằng cải biên chính là dịch liên kí hiệu.
Tiếp theo là sự ảnh hƣởng của văn hóa học (Cultural Studies) vào lí thuyết cải biên. Văn hóa học lấy đối tƣợng nghiên cứu là văn hóa; ở đây chúng tôi sử dụng khái niệm “văn hóa” thống nhất với tài liệu mà chúng tôi tham khảo của Đào Lê Na, rằng “văn hóa là địa thế có căn cứ vững chắc thực sự của thực tiễn, các đại diện, ngôn ngữ và phong tục của bất kì xã hội cụ thể”5. Bất kì một hiện tƣợng xã hội, một con ngƣời nào cũng đều bị chi phối bởi văn hóa, trong đó có hoạt động sáng tác, tiếp nhận và cải biên văn học. Bản thân tác phẩm văn học là một sản phẩm văn hóa nên sẽ luôn biến đổi và đƣợc nhìn nhận dƣới nhiều cách khác nhau, trong từng thời điểm khác nhau.
Một tác phẩm cải biên cũng vậy, chúng ta xem xét nó nhƣ một sản phẩm văn hóa với những ảnh hƣởng của thời đại – xã hội, đối tƣợng tiếp nhận và quan điểm cá nhân. Theo đó, nhà cải biên thƣờng có xu hƣớng biến đổi tác phẩm nguồn trở nên phù hợp hơn với văn hóa và hoàn cảnh lịch sử của khu vực. Hơn nữa, trong quá trình tái sáng tạo, vì không thể truyền tải đƣợc văn hóa của 4 Roman Jakobson, On Linguistic Aspect of Translations, (tài liệu PDF từ trang web: https://web. 5 Đào Lê Na, Chân trời của hình ảnh, sđd, tr.
17 cả một quốc gia chỉ bằng môt tác phẩm nên nhà cải biên (và ngay cả chính nhà văn) cũng sẽ tự tạo ra cái gọi là văn hóa của chính mình. Cuối cùng là giải kiến tạo (tiếng Anh: Deconstruction) trong lí thuyết cải biên. Nói một cách đơn giản, giải kiến tạo là phá bỏ những gông cùm xiềng xích đã đeo vào tác phẩm văn học (hay văn hóa). Đây là một quá trình diễn ra liên tục và song hành với quá trình kiến tạo, bởi có phá bỏ những định kiến cũ thì mới có thể phát triển nên những cái mới.
Vì bản chất giải kiến tạo là phá bỏ những cặp nhị nguyên, những so sánh giữa hai phạm trù nên sự ứng dụng của nó cho phép nhìn nhận tác phẩm cải biên nhƣ một sản phẩm đồng đẳng với tác phẩm nguồn.