Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1. Các khái niệm liên quan đến quản lý văn hóa 1. Khái niệm Quản lý Trong thời kì hội nhập và đổi mới, cùng với sự phát triển của phương thức xã hội hoá sản xuất và sự mở rộng trong tư duy của con người thì sự khác biệt về nhận thức và lý giải khái niệm quản lý càng trở nên rõ rệt. Xuất phát từ những góc độ nghiên cứu khác nhau, rất nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước đã đưa ra giải thích không giống nhau về quản lý.
Cho đến nay, vẫn chưa có một thống nhất nào về định nghĩa quản lý. Luận văn xin trích dẫn một vài khái niệm phổ biến. Về khái niệm quản lý của một số nhà nghiên cứu trên thế giới: - Fayel: "Quản lý là một hoạt động mà mọi tổ chức (gia đình, doanh nghiệp, chính phủ) đều có, nó gồm 5 yếu tố tạo thành là: kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, điều chỉnh và kiểm soát. Quản lý chính là thực hiện kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo điều chỉnh và kiểm soát ấy”[9,tr17] - Hard Koont: "Quản lý là xây dựng và duy trì một môi trường tốt giúp con người hoàn thành một cách hiệu quả mục tiêu đã định"[29,tr267].
Dalark: "định nghĩa quản lý phải được giới hạn bởi môi trường bên ngoài nó. Theo đó, quản lý bao gồm 3 chức năng chính là: Quản lý doanh nghiệp, quản lý giám đốc, quản lý công việc và nhân công" [9;tr17]. Như vậy, theo các học giả, quản lý trở thành chức năng và vai trò của tổ chức xã hội, nó cũng sẽ thông qua các doanh nghiệp góp phần xây dựng chế độ xã hội mới để đạt được mục tiêu lý tưởng là "một xã hội tự do và phát triển". Nếu không có quản lý hiệu quả thì doanh nghiệp không thể tồn tại và từ đó không thể xây dựng một xã hội tự do và phát triển.
13 Về khái niệm quản lý của một số nhà nghiên cứu ở Việt Nam: Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam, khái niệm quản lý được hiểu là hoạt động dựa trên cơ sở vận dụng các quy luật phát triển của các đối tượng khác nhau, quy luật tự nhiên hay xã hội. Những hình thức quản lý có ý thức luôn gắn liền với hoạt động có mục tiêu, có kế hoạch của những tập thể lớn hay nhỏ của con người và được thực hiện qua những thể chế xã hội đặc biệt. Mục đích, nội dung, cơ chế và phương pháp quản lý xã hội tuỳ thuộc vào chế độ chính trị - xã hội. Theo tác giả Phan Hồng Giang trong công trình Quản lý văn hóa Việt Nam trong tiến trình đổi mới và hội nhập quốc tế: Quản lý chính là lập kế hoạch, tổ chức, thực hiện, chỉ huy, tiến hành, kiểm soát… Định nghĩa quản lý nên phản ánh khách quan đặc trưng cơ bản của hoạt động quản lý, thể hiện bản chất quản lý, hay có thể nói, trong định nghĩa về quản lý nhất định phải đề cập đến bản chất của quản lý là theo đuổi năng suất, hiệu quả.19] Như vậy, theo các học giả quốc tế và trong nước, mọi hoạt động quản lý đều thường phải do 5 yếu tố cơ bản sau cấu thành: - Chủ thể quản lý, trả lời câu hỏi: Do ai quản lý? - Khách thể quản lý, trả lời câu hỏi: Quản lý cái gì? - Mục đích quản lý, trả lời câu hỏi: Quản lý vì cái gì? - Môi trường và điều kiện tổ chức, trả lời câu hỏi: Quản lý trong hoàn cảnh nào? - Biện pháp quản lý: Quản lý bằng cách nào? Khái niệm quản lý là một lĩnh vực đặc thù của quản lý nói chung.
Nhìn chung, như ta đã khái quát ở trên, quản lý là một hoạt động nhằm đảm bảo sự vận hành của một hệ thống, một tổ chức một cách liên tục, đúng chức năng. Khái niệm Quản lý nhà nước Như một yếu tố tất yếu, quản lý xuất hiện trong quá trình tồn tại và 14 phát triển của xã hội loài người, để đáp ứng những vấn đề cấp bách. Có nhiều dạng quản lý, nhiều dạng chủ thể quản lý khác nhau trong sự vận động và phát triển của xã hội. Một trong số đó là dạng quản lý rất cơ bản, đặc thù - quản lý nhà nước.
Theo tác giả Phạm Kim Thư, “Quản lý nhà nước là một dạng quản lý do nhà nước làm chủ thể định hướng điều hành, chi phối, v. để đạt được mục tiêu kinh tế xã hội trong những giai đoạn lịch sử nhất định. Quản lý nhà nước là sự quản lý bằng quyền lực của nhà nước, ý chí nhà nước, thông qua bộ máy nhà nước làm thành hệ thống tổ chức điều khiển quan hệ xã hội và hành vi hoạt động của con người để đạt được mục tiêu kinh tế xã hội nhất định, theo những thời gian nhất định với hiệu quả cao” [32, tr27]. Theo tác giả Phan Huy Đường (2015), trong Quản lý nhà nước về kinh tế, “Quản lý nhà nước là một dạng quản lý do nhà nước làm chủ thể định hướng điều hành, chi phối, v.
để đạt được mục tiêu kinh tế xã hội trong những giai đoạn lịch sử nhất định” [16,tr40]. Trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI (2011), khái niệm Quản lý nhà nước được xác định“là dạng quản lý xã hội mang tính quyền lực nhà nước, được sử dụng quyền lực nhà nước để điều chỉnh các quan hệ xã hội và hành vi hoạt động của con người để duy trì, phát triển các mối quan hệ xã hội, trật tự pháp luật nhằm thực hiện chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước” [36, Tr3]. Khái niệm Quản lý văn hóa Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, văn hóa cũng là một lĩnh vực tiến lên theo tỷ lệ thuận. Về bối cảnh chung, ngày nay, hoạt động văn hóa nghệ thuật của các nước, tuy ở những mức độ khác nhau, nhưng đều chịu ảnh hưởng sâu sắc của công nghệ mới, của nền kinh tế tri thức và quá trình toàn cầu hóa.
Có thể nói, các tổ chức văn hóa nghệ thuật đang hoạt động trong một 15 môi trường biến động nhanh chóng và mạnh mẽ hơn bao giờ hết. Chính vì vậy những vấn đề về kiểm soát và quản lý sự phát triển của lĩnh vực văn hóa đang được chú trọng. Trước hết để hiểu được nội hàm của quản lý nhà nước về mặt văn hóa, luận văn đưa ra một số khái niệm. Quản lý nhà nước về văn hoá: Là sự tác động chủ quan bằng nhiều hình thức, phương pháp của chủ thể quản lý (các cơ quan Đảng, Nhà nước, đoàn thể, các cơ cấu dân sự, các cá nhân được trao quyền và trách nhiệm quản lý) đối với khách thể (là mọi thành tố tham gia và làm nên đời sống văn hoá) nhằm đạt được mục tiêu mong muốn (bảo đảm văn hoá là nền tảng tinh thần của xã hội, nâng cao vị thế quốc gia, cải thiện chất lượng sống của người dân…) [8].
Cụ thể trong lĩnh vực nghệ thuật, quản lý văn hóa được xác định là một hoạt động đặc thù. Tuy mang tính đa ngành, có mối quan hệ chặt chẽ với khoa học quản lý nói chung và nhiều ngành như xã hội học, nhân học, kinh tế học. quản lý văn hóa vẫn chứa đựng nhiều sự khác biệt so với hoạt động quản lý của các ngành khác. Bản chất các hoạt động giao dịch trong quản lý văn hóa không phải là bán hàng như trong quản lý kinh tế mà là thiết kế các hợp đồng về nghệ thuật.
Chính vì vậy, Viện Văn hóa Thông tin và Dự án Quỹ Ford đã xác định thuật ngữ Quản lý Văn hóa Nghệ thuật: “Quản lý văn hóa nghệ thuật có thể được định nghĩa như việc quản lý phi lợi nhuận nhằm tạo ra các cơ hội tiếp xúc giữa nghệ sĩ và công chúng, nhằm không chỉ giới thiệu nghệ thuật đến công chúng mà còn đảm bảo cho sự phát triển của nghệ thuật, thúc đẩy năng lực sáng tạo của nghệ sĩ và hỗ trợ tiềm năng phát triển và sức sáng tạo của cộng đồng” [29;tr. Theo tác giả Phan Hồng Giang, QLVH bao gồm những nội dung chính sau: + Xác lập hệ quan điểm chủ đạo (hệ tư tưởng chính trị, kinh tế, xã hội, 16 đạo đức…), những nguyên tắc cơ bản xây dựng và phát triển văn hoá - là cơ sở của việc xác lập nội dung và phương thức QLVH…- (trong các văn kiện chính thức của Đảng, Hiến pháp, trong Chiến lược phát triển văn hoá của Chính phủ). + Bộ máy tổ chức, cán bộ thực hiện chức năng QLVH từ Trung ương đến địa phương và theo các lĩnh vực. + Cơ chế phối hợp liên ngành (Ban, Bộ, ngành, đoàn thể, cơ cấu dân sự…).
+ Hệ thống pháp luật (Luật, Pháp lệnh, Nghị định, Thông tư, Chỉ thị, Văn bản hướng dẫn, Quy chế, Quy tắc, Quy định…). + Hệ thống chính sách trên từng lĩnh vực (lối sống, nếp sống, văn học - nghệ thuật, di sản văn hoá, văn hoá dân tộc…) và theo địa bàn lãnh thổ (Trung ương - địa phương, đô thị - nông thôn, đồng bằng - miền núi, trong nước - ngoài nước…). Cần lưu ý đến tầm quan trọng của các chính sách đầu tư phát triển các nguồn lực (đặc biệt là đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực) và phương tiện cho văn hoá. Về thuật ngữ “xã hội hóa” Thuật ngữ xã hội hóa trong những năm gần đây không hoàn toàn giống với thuật ngữ xã hội hóa khi nó ra đời.
Xã hội hóa là thuật ngữ đã được các nhà kinh tế học, xã hội học, giáo dục học, văn hóa học vào những năm đầu thế kỷ XX sử dụng nhằm biểu đạt một số vấn đề thuộc các lĩnh vực nghiên cứu của mình. Theo Từ điển Bách khoa toàn thư mở Wikipedia, thuật ngữ xã hội hóa trước đây là một khái niệm của nhân loại học và xã hội học. Hiện nay, nó được hiểu theo hai nghĩa: 17 – Là sự tham gia rộng rãi của cộng đồng xã hội vào một số hoạt động mà trước đó chỉ có một ngành, một đơn vị chức năng nhất định thực hiện (ví dụ: xã hội hóa giáo dục, xã hội hóa y tế…) Ở nghĩa này Côlin Fasen đã chỉ rõ: Xã hội hoá là một quá trình động viên mọi tầng lớp nhân dân tham gia tích cực và chủ động vào một lĩnh vực xã hội nào đó, huy động hợp lý và sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực của Nhà nước và của nhân dân nhằm đạt được mục tiêu phát triển xã hội. – Xã hội hoá dùng để chỉ quá trình chuyển biến từ con người sinh vật sang con người xã hội.
Ví dụ quan niệm của G.