Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN VỀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 1. Các khái niệm - Cồng chiêng Theo từ điển bách khoa Việt Nam [62, tr.600] có ghi: Cồng (nhạc cụ chiêng) nhạc khí thuộc bộ gõ, nguồn gốc Phương Đông, được làm bằng đồng, kích thước lớn, hình lòng chảo, chung quanh có gờ gọi là thành. Loại cồng có núm ở giữa gọi là Chiêng có núm, loại không có núm gọi là Chiêng bằng. Cồng được treo trên giá gỗ hoặc sách tay nhờ sợi dây xuyên qua thành, dùng dùi bọc vải hoặc nắm tay để đánh ra tiếng.
Các bộ Cồng của dân tộc Tây Nguyên có từ 5-20 chiếc, khi hòa tấu tạo nên những âm điệu độc đáo, phong phú. Chiêng Khan (nhạc tiếng Bana khan: chiêng gió) nhạc cụ của người Bana, thuộc họ nhạc cụ tự thân vang (Xuân Hạo nhạc cụ) chi va đập, gồm 8 ống tre có kích thước quy định. Mỗi ống được khoét thủng một lỗ hình chữ nhật trở thành một thứ mõ tre, có dây móc ở đầu ống, tết chụm lại thành một sợi treo cả chùm 8 ống tre lên nóc nhà rông hoặc cành cây. Theo tác giả Kiều Trung Sơn viết: “Năm 1985, có thể coi là cái mốc cho sự thay đổi nhận thức về Cồng chiêng.
Để tổ chức được cuộc hội thảo đầu tiên về Cồng chiêng ở Tây Nguyên, các cơ quan chức năng và giới nghiên cứu đã có đợt khảo sát bước đầu về loại hình nghệ thuật Cồng chiêng của các tộc người Tây Nguyên. Các nhà nghiên cứu nhận ra rằng, Cồng chiêng Tây Nguyên thật đa dạng. Có những bộ gồm toàn loại có núm, ngược lại có bộ toàn loại không núm, thậm chí nhiều bộ là sự kết hợp cả có núm lẫn không núm. Từ đây, việc phân biệt Cồng chiêng thành hai loại có núm và không núm được đặt ra, và có lẽ cũng từ đây, người ta quên dần cách gọi thanh la, đồng la đối với loại không núm” [35, tr26].
Từ đó, mọi người đều có tư duy cố định Cồng có núm, Chiêng không 13 có núm thì khi ghép Cồng chiêng sẽ khó hiểu và cần được hiểu thành một thuật ngữ chung, và ghép của hai loại đó. Vì vâỵ, định danh nêu trên, đối với dàn gồm toàn chiếc có núm phải gọi là dàn cồng, dàn gồm toàn chiếc không núm phải gọi là dàn chiêng, nếu trong dàn gồm hai loại có núm và không núm thì gọi là dàn Cồng chiêng. Do đó, Cồng chiêng là nhạc cụ thuộc bộ gõ, được làm bằng đồng thau, hình tròn như chiếc nón quay thao, dường kính khoảng từ 20 cm đến 60 cm, ở giữa có hoặc không có núm. Người ta dùng dùi gỗ có quấn vải mềm (hoặc dùng tay) để đánh cồng, chiêng.
Cồng chiêng càng to thi tiếng càng trầm, càng nhỏ thì tiếng càng cao. Cồng có ba loại: thứ nhất, những chiếc cồng bị treo ít nhiều phẳng có các đĩa tròn bằng kim loại và thường treo theo phương thẳng đứng bằng dây thừng xỏ qua nhiều lỗ gần rìa đỉnh. Thứ hai, là loại có những chú côn trùng hoặc núm vú có một ông chủ trung tâm và thường bị treo và chơi theo chiều ngang. Thứ ba, là loại có hình như chiếc cốc hình bát, và nghỉ ngơi trên đệm và nhìn giống chiếc chuông hơn là Cồng chiêng.
Nói đến Cồng chiêng (theo cách gọi của người Việt) hay goong, chinh (theo cách gọi của người Lạch) thì cả hai loại: cồng có núm và chiêng không có núm. Tuy nhiên, mỗi địa phương, mỗi vùng, mỗi nhóm dân tộc lại có cách gọi khác nhau. Thực tế cho thấy, bất cứ việc lớn nhỏ của từng gia đình, đều không bao giờ thiếu được tiếng nói của Cồng chiêng. Tiếng Cồng chiêng xuyên suốt cuộc đời người, gắn kết với mỗi mùa rẫy, mỗi hạt lúa, hạt bắp, hạt đậu… âm vang Cồng chiêng chính là linh hồn, là thịt, là xương, là những dòng máu chảy trong cơ thể mỗi người không thể thiếu của chính mỗi dân tộc.
Cồng chiêng được mọi người biết đến từ khi lọt lòng mẹ đều được thưởng thức âm thanh của Cồng chiêng qua các lễ mừng của gia đình và cộng đồng. - Không gian văn hóa cồng chiêng 14 Không gian văn hóa Cồng chiêng Tây nguyên bao gồm các yêu tố bộ phận sau: Cồng chiêng, các bản nhạc hòa tấu bằng Công chiêng, những người chơi Cồng chiêng, các lễ hội có sử dụng Cồng chiêng (Lễ mừng lúa mới, lễ bỏ mả.), những địa điểm tổ chức các lễ hội đó là (nhà dài, nhà rông, rẫy, bến nước, nhà mồ.), các khu rừng cạnh các buôn làng Tây nguyên.] Không gian văn hóa Cồng chiêng Tây nguyên được trải dài trên 5 tỉnh Tây nguyên: Kon Tum, Đắk Lắk, Đắk Nông, Gia Lai và Lâm Đồng. Chủ thể của không gian văn hóa này gồm nhiều dân tộc khác nhau như: Ê đê, Jarai, Ba Na, K’ho. Không gian văn hóa Cồng chiêng được UNESCO công nhận là kiệt tác truyền khẩu và phi vật thể nhân loại vào ngày 12 tháng 11 năm 2005.
Sau nhã nhạc cung đình Huế, đây là di sản thứ hai của Việt Nam được nhận danh hiệu. Không gian văn hóa Cồng chiêng Tây nguyên có vai trò hết sức quan trọng đối với đời sống văn hóa tinh thần, là nơi chứa đựng những giá trị sáng tạo mang tầm kiệt tác của nhân loại. Chủ nhân của Không gian văn hóa cồng chiêng Tây nguyên là đồng bào các dân tộc thiểu số Tây nguyên trong đó có dân tộc Lạch ở Lâm Đồng. Họ là những người không tự đúc được cồng chiêng, nhưng với đôi tai và tâm hồn âm nhạc nhạy cảm họ đã nâng giá trị của một sản phẩm hàng hóa thành một nhạc cụ trình diễn tuyệt vời.
Mỗi chiếc chiêng giữ nhiệm vụ một nốt nhạc trong một dàn nhạc, để biểu diễn các bản nhạc chiêng khác nhau. Ðồng thời, tùy theo từng dân tộc, họ đã sắp xếp, định biên thành các dàn nhạc khác nhau. Cồng chiêng của người Lạch có nguồn gốc từ truyền thống văn hóa và lịch sử rất lâu đời, và đã biết thổi hồn và tiếp thêm sức sống để những âm thanh khi ngân nga sâu lắng, khi thôi thúc trầm hùng, hòa quyện với tiếng suối, tiếng gió và với tiếng lòng người, sống mãi cùng với đất trời và con người nơi đây. Cồng chiêng giữ vai trò là phương tiện để khẳng định cộng đồng và bản sắc văn hóa của người Lạch, sinh sống trên mảnh đất cao nguyên Langbiang.
15 Khi nghe tiếng chiêng của người Lạch người nghe có thể cảm nhận được trình độ điêu luyện của người chơi, kỹ năng đánh chiêng và kỹ năng chế tác, chỉnh chiêng đến biên chế thành dàn nhạc, cách chơi, cách trình diễn được những cách chơi điêu luyện tuyệt vời.] Văn hóa Cồng chiêng của người Lạch giúp mỗi người mở rộng giao lưu văn hóa, kết bạn, tìm về cội nguồn của văn hóa các dân tộc, là nơi trao dồi về mặt cảm xúc, cung bậc thăng trầm của giai điệu trong mỗi lần đánh Cồng chiêng làm cho tâm hồn bay bổng, thưởng thức các loại hình nghệ thuật đặc biệt của mỗi dân tộc. - Câu lạc bộ Theo từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ có nêu: làm thành một chỉnh thể, có một cấu tạo, một cấu trúc và những chức năng nhất định. Làm những gì cần thiết để tiến hành một hoạt động nào đó nhằm có được một hiệu quả nhất định.68] Câu lạc bộ là danh từ của tiếng nước ngoài, sau thời gian sử dụng nó trở nên quen thuộc, và khi nói đến một tổ chức được thành lập theo sự tự nguyện của mỗi người có chung một mục đích đề ra chương trình hoạt động sao cho phù hợp với khả năng, thời gian rỗi, không gian của các thành viên, và khi hoạt động câu lạc bộ, đội, nhóm lớn mạnh, số hội viên ngày một đông thì có thể chia thành các nhóm nhỏ hơn để dễ dàng hoạt động và quản lý và đáp ứng được nhu cầu và sở thích riêng biệt của mỗi nhóm và cá nhân. Do đó, nhiều người đều cho rằng câu lạc bộ được sử dụng nhiều lĩnh vực khác nhau như: Câu lạc bộ dùng để chỉ một tập hợp quần chúng có chung đặc điểm về sở thích, nhu cầu.
Câu lạc bộ là một cơ sở hoạt động sự nghiệp, dịch vụ, hoạt động kinh doanh: Câu lạc thẩm mỹ, câu lạc bộ văn nghệ. 16 Câu lạc bộ là một tổ chức, một hội của những người cùng nghề nghiệp như: Câu lạc bộ hướng dẫn viên du lịch, câu lạc bộ đầu bếp…. Câu lạc bộ là một tổ chức chuyên nghiệp hoạt động theo những đặc thù nghề nghiệp và quy luật thị tường như: Các nhóm vũ đoàn, câu lạc bộ bóng đá… Câu lạc bộ là một sân chơi giao lưu, một loại hình hoạt động dịch vụ như: Câu lạc bộ khiêu vũ, hát với nhau. Vì vậy, có nhiều định nghĩa về câu lạc bộ, trong luận văn tôi sử dụng khái niệm câu lạc bộ như sau: Câu lạc bộ dùng để chỉ một tập hợp quần chúng có chung đặc điểm về sở thích, nhu cầu và tổ chức sinh hoạt nhằm thỏa mãn những nhu cầu và sở thích đó với nội dung sinh hoạt liên quan ở nhiều lĩnh vực văn hóa nghệ thuật, thể dục thể thao, chính trị xã hội.
Thành viên câu lạc bộ có nghề nghiệp và lứa tuổi khác nhau, họ hoạt động theo nguyên tắc tự nguyện. Họ có thành lập tổ chức và mục đích hoạt động rõ ràng nhằm đem lại những lợi ích thiết thực cho cả hội viên và xã hội.65] Các chức năng của câu lạc bộ: + Chức năng giáo dục ngoài nhà trường của câu lạc bộ: Câu lạc bộ thực hiện chức năng giáo dục ngoài nhà trường, ngoài những kiến thức được đào tạo tại trường lớp, thông qua các hoạt động sinh động, loại hình hoạt động khác nhau phù hợp với sở thích và thời gian của người tham gia nhằm rèn luyện và giáo dục các kỹ năng xã hội, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng đối phó với tình huống trong cuộc sống và nó thể hiện một cách tự nhiên không bị ép buộc. Câu lạc bộ chính là nơi để giao lưu, học hỏi, trao đổi với nhau về kiến thức, về vốn sống, cuộc sống và sự trải nghiệm của mỗi thành viên tham gia. Câu lạc bộ chính là nơi chi sẻ nhiều kiến thức trong cuộc sống đã trải nghiệm, và định hướng cho tương lai cũng như rèn luyện và phát huy một cách chủ động và sáng tạo của mình trong câu lạc bộ.
Câu lạc bộ là nơi chia sẻ, trao đổi nhiều kiến thức trong đời sống xã hội như: đường lối chính sách của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, kiến thức nghề nghiệp, gia đình, y học, và cả những kiến thức 17 học làm người.