phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn chia làm 3 chƣơng. Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn dài 26 trang) Luận văn trình bày một số khái niệm liên quan đến đề tài làm cơ sở lý luận để nghiên cứu lịch sử hình thành và vai trò nghệ thuật sân khấu Cải lƣơng nói chung trong đời sống xã hội ở miền Tây Nam bộ. Chƣơng 2: Thực trạng hoạt động của các đoàn nghệ thuật Cải lương công lập ở Miền Tây Nam Bộ dài 30 trang) Luận văn trình bày thực trạng hoạt động của các Đoàn nghệ thuật công lập ở ba tỉnh nổi tiếng về Cải lƣơng, nhƣ Tiền Giang, Đồng Tháp và Bạc Liêu. Mỗi đoàn căn cứ vào điều kiện thực tiễn để có những cách thức hoạt động phù hợp; vừa đáp ứng nhiệm vụ chính trị của địa phƣơng, vừa thỏa mãn nhu cầu thƣởng thức nghệ thuật của cộng đồng.
Đồng thời trên cơ sở thực trạng hoạt động của 3 đoàn mà đánh giá những thành tựu và hạn chế. Chƣơng 3: Nâng cao chất lượng hoạt động của Đoàn nghệ thuật sân khấu Cải lương công lập ở Miền Tây Nam Bộ dài 21 trang) Căn cứ những quan điểm, chủ trƣơng về phát triển văn hóa dân tộc và dựa trên những điều kiện thực tế ở Tây Nam bộ luận văn đƣa ra các giải pháp khả thi cho các đoàn Cải lƣơng công lập. 11 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Các khái niệm Nghệ thuật: theo Từ điển thuật ngữ văn học: “Nghệ thuật là hình thái đặc thù của ý thức xã hội và của các hoạt động con ngƣời, một phƣơng thức quan trọng để con ngƣời chiếm lĩnh các giá trị tinh thần của hiện thực, nhằm mục đích tạo thành và phát triển các năng lực chiếm lĩnh và cải tạo bản thân và thế giới xung quanh theo quy luật của cái đẹp” [09, tr 456].
Khác với hình thái ý thức và hoạt động xã hội khác khoa học, chính trị, đạo đức,.), nghệ thuật thỏa mãn nhu cầu cảm thụ thế giới xung quanh thông qua hệ thống hình tƣợng đặc thù đã phát triển của năng lực cảm nhận mang tính ngƣời. Đó là năng lực cảm nhận thẩm mĩ đặc trƣng, chỉ có ở con ngƣời đối với các hiện tƣợng, sự thật, biến cố của thế giới khách quan với tƣ cách là “chỉnh thể cụ thể sống động. Nghệ thuật phát sinh và hình thành trên cơ sở lao động, nhƣng một khi ra đời, nghệ thuật hình thành và hoàn thiện ở con ngƣời một năng lực cảm nhận vạn năng mà nó có thể vận dụng vào mọi lĩnh vực hoạt động của đời sống xã hội – khoa học, chính trị, sinh hoạt,. Vì vậy, tác phẩm nghệ thuật có thể hình thành một công chúng biết hiểu nghệ thuật và có năng lực hƣởng thụ vẻ đẹp [36, tr 112].
Nhƣ vậy, nghệ thuật thống nhất trong bản thân nó tất cả mọi hình thức hoạt động và nhận thức thể hiện mối quan hệ của cá nhân đối với thế giới và đối với bản thân mình. Nghệ thuật giúp cho con ngƣời có năng lực tự cảm thấy mình trong sự hài hoà của thế giới và cảm nhận đƣợc ý nghĩa của thế giới trong sự phát triển nhân cách toàn vẹn của mình. Chính cái chức năng 12 hình thành và hoàn thiện năng lực cảm nhận vạn năng này đã quy định các đặc trƣng khác của nghệ thuật: hƣớng tới đối tƣợng trong tính toàn vẹn, sinh động; chủ thể, cá thể với toàn bộ năng lực của nhân cách và tâm hồn; hình thức hình tƣợng, tính chất truyền cảm, giao tiếp. Các phƣơng diện chức năng cụ thể nhƣ nhận thức, giáo dục, thoả mãn mĩ cảm gắn bó với nhau trong bản chất của nghệ thuật.
Đời sống xã hội là cội nguồn của nội dung nghệ thuật, quy định mối liên hệ qua lại giữa nghệ thuật với các hình thái ý thức xã hội khác nhƣ chính trị, khoa học, triết học, đạo đức,. Những quốc gia có chủ trƣơng thống nhất về hệ tƣ tƣởng xã hội nhƣ Việt Nam thì trong xã hội có giai cấp, nghệ thuật cũng có tính giai cấp, tính đảng và lấy đối tƣợng là quần chúng nhân dân để phục vụ. Trong tiến trình lịch sử phát triển khách quan của nghệ thuật, do tính đa dạng của các quá trình và các hiện tƣợng trong thực tại, do sự khác biệt của những phƣơng thức, phƣơng tiện cũng nhƣ nhiệm vụ phản ánh thẩm mĩ và cải tạo hiện thực, do nhu cầu nhiều mặt của con ngƣời, đã hình thành các loại nghệ thuật khác nhau. Trong cuốn Mỹ học đại cương của Thế Hùng, thì: “Nghệ thuật là một hình thái ý thức xã hội đặc thù phản ánh đời sống xã hội bằng phƣơng thức hình tƣợng.
Nghệ thuật là một trong những đặc trƣng quan trọng nhất biểu hiện ngƣời” [11, tr 67]. Nghệ thuật là một hình thái ý thức xã hội đặc thù mang tính quy luật phản ánh khả năng sáng tạo của ngƣời nghệ sĩ. Với tƣ cách là một hình thức ý thức xã hội đặc biệt, nghệ thuật phản ánh đối tƣợng thẩm mỹ với toàn bộ nội dung và các loại hình loại thể, ngƣời nghệ sĩ, các tác phẩm của họ và công chúng thƣởng ngoạn. Nghệ thuật phản ánh thực tại bằng hình tƣợng trong tác phẩm.
Tác phẩm nghệ thuật phản ánh cuộc sống đƣơng thời. Vì thế ngƣời 13 nghệ sĩ đƣợc ví nhƣ “ngƣời thƣ ký của thời đại” ghi nhớ và phản ánh hiện thực khách quan thông qua lăng kính chủ quan của mình. Sân khấu: theo Thế Hùng thì: “Sân khấu là loại hình nghệ thuật tổng hợp, tái hiện những hoàn cảnh, những tình huống của cuộc đời, lột tả những tính cách, số phận của con ngƣời trong các kịch bản sân khấu qua sự diễn xuất của diễn viên” [ 11, tr 78]. Tuy nhiên, theo Nguyễn Phƣơng – một ký giả đã dành hơn nửa đời ngƣời để song hành cùng sân khấu Cải lƣơng đã nêu định nghĩa về sân khấu trong bài viết của mình nhƣ sau: Sân khấu là một loại hình nghệ thuật của nhiều ngành nghệ thuật khác tổng hợp nhƣ văn, thơ, nhạc, ca múa, kịch, kiến trúc, ánh sáng,…nội dung các vở diễn có triết học, mỹ học, tâm lý học, xã hội học, có cả những vấn đề thuộc về tôn giáo, lịch sử, chính trị, đạo đức, dân tộc… và đặc biệt sản phẩm của sân khấu thể hiện đƣợc tình cảm con ngƣời nhƣ buồn, vui, thƣơng, ghét, hận, có cái cƣời, cái khóc, cái sống, cái chết… có quá khứ, hiện tại và tƣơng lai [58].
Nghệ thuật sân khấu đƣợc xem là nghệ thuật không gian và thời gian. Mỗi buổi biểu diễn sân khấu chỉ tồn tại trong những phút giây sáng tạo tuyệt vời. Khi ngƣời diễn viên cúi chào khán giả và khi khán giả tạm biệt nhà hát ra về cũng là lúc một tác phẩm nghệ thuật sân khấu đã hoàn thành. Vở diễn sân khấu đã đi vào đời sống hàng ngày của ngƣời đƣơng thời bằng sự tƣởng tƣợng của sáng tạo, sự liên hệ với hiện thực cuộc sống, biểu hiện nhận thức và trải nghiệm của mỗi thân phận con ngƣời.
Bao giờ cũng vậy, sân khấu tiến bộ, luôn luôn là một lời nói tâm tình, một bài học về đạo đức làm ngƣời, một bài thơ về cuộc sống, hay một tƣ tƣởng triết lý về nhân sinh. Nghệ thuật sân khấu là nghệ thuật biểu diễn của diễn viên, diễn viên là “ông hoàng” “bà chúa” trên sân khấu, mà không có những thành phần trung tâm này, thì không thể nào thực hiện đƣợc ý đồ của tác giả kịch bản, 14 ý đồ của ngƣời đạo diễn, và những màu sắc đƣờng nét trang trí, những bài hát cũng trở thành vô nghĩa nếu không có diễn viên thể hiện nhân vật [50, tr 7]. Cải lương: theo Từ điển Hán Việt online, “Cải” 改/ gǎi mang nghĩa “thay đổi”, “biến đổi”, “sửa chữa”, “cải tạo” còn “Lƣơng” 良/ liáng mang nghĩa “tốt”, “lành”, “hay”, “giỏi” [56]. Do đó, theo Trần Quang Hải: “Cải lƣơng” 改良/ phiên âm: gǎi liáng là một từ ghép mang nghĩa “sửa đổi cho tốt hơn” [55].
Ban đầu, Cải lƣơng lúc ấy đƣợc gọi là “nghệ thuật Tân thời – Kim thời”. Cho đến năm 1920, khi gánh hát Tân Thinh của bầu Trƣơng Văn Thông trƣng lên bảng hiệu với hai câu liễn: Cải cách hát ca theo tiến bộ/ Lƣơng truyền tuồng tích sánh văn minh. Từ lúc đó, “nghệ thuật Tân thời – Kim thời” mới chuyển sang cái tên mới và đƣợc dùng đến tận ngày nay – Cải lƣơng. Tuy nhiên, cũng cần phân biệt khái niệm nghệ thuật Cải lƣơng với “Chủ nghĩa cải lƣơng” thƣờng đƣợc gắn liền với phong trào Duy Tân của nhà yêu nƣớc Phan Châu Trinh vào đầu thế kỷ XX: Khái niệm Cải lƣơng xét ở góc độ chính trị học đƣợc xem là trào lƣu chính trị chủ trƣơng thực hiện những biến đổi xã hội bằng cải cách, không động chạm đến nền tảng của chế độ cũ vốn bất hợp lí, không phú hợp với xu thế phát triển.
Đầu thế kỷ XX, trào lƣu cải cách xã hội này đƣợc gọi là chủ nghĩa cải lƣơng bị các nhà hoạt động cách mạng lên án theo quan điểm. Theo Từ điển chính trị của Liên Xô xuất bản tháng 6 năm 1962, thì Chủ nghĩa cải lƣơng là “trào lƣu chính trị trong phong trào công nhân nhằm đấu tranh giành những cải cách nhỏ bé, không động đến cơ sở của chế độ bóc lột, thay thế cho 15 đấu tranh của giai cấp công nhân chống chủ nghĩa tƣ bản, giành chuyên chính vô sản và thắng lợi của chủ nghĩa xã hội” [52, tr 190] Điểm cơ bản của Phong trào Duy Tân do Phan Châu Trinh khởi xƣớng là bất bạo động và công khai hoạt động. Mục đích hƣớng tới là cải tổ xã hội, giáo dục tinh thần tự do, xây dựng những cá nhân độc lập và có trách nhiệm, phổ biến các giá trị văn minh phƣơng Tây nhƣ pháp quyền và dân quyền. Quan điểm này tuy bị phê phán nhƣng việc đề cập đến nó ở đây cũng để tránh có sự nhầm lẫn về nguồn gốc của từ “cải lƣơng”.
Tuy xuất hiện trong cùng giai đoạn nhƣng cả hai không có liên quan gì đến nhau vì một bên là hình thức đấu tranh chính trị còn bên kia là một dòng nghệ thuật của dân tộc. Tác giả Đỗ Dũng trong cuốn Sân khấu Cải lƣơng Nam bộ 1918 – 2000, trên cơ sở tham khảo, tập hợp các tài liệu về sân khấu Nam bộ cho rằng cụm từ “sân khấu Cải lƣơng là Cải lƣơng sàn diễn, tức là ca kịch trên sân khấu. Nghĩa của Cải lƣơng là đổi mới, cải cách làm đẹp và sân khấu Cải lƣơng cũng có nghĩa là sự cách tân về sân khấu” [04, tr 12]. Nghệ thuật sân khấu Cải lương: khởi thủy từ “cải lƣơng” có nghĩa là sửa đổi làm cho tốt hơn.