Tổng quan nghiên cứu

Nằm ở vị trí trung tâm vùng Đồng bằng sông Cửu Long, cách thành phố Cần Thơ 35 km và cách Thành phố Hồ Chí Minh 130 km, tỉnh Vĩnh Long sở hữu bề dày truyền thống lịch sử cùng phong trào văn hóa nghệ thuật phát triển sâu rộng với 109 câu lạc bộ, đội văn nghệ quần chúng đang hoạt động tại các địa phương. Trong giai đoạn 2014 - 2018, đời sống vật chất và tinh thần của người dân không ngừng được nâng cao, thúc đẩy nhu cầu hưởng thụ, sáng tạo các giá trị văn hóa ngày càng đa dạng. Tuy nhiên, sự bùng nổ của các phương tiện truyền thông số và giải trí đa nền tảng đã đặt công tác quản lý văn hóa cơ sở trước thách thức cạnh tranh gay gắt, nguy cơ sụt giảm lượng khán giả trực tiếp và khó khăn trong việc duy trì nguồn lực vận hành bền vững.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn là nhận diện, phân tích toàn diện thực trạng công tác quản lý hoạt động văn nghệ quần chúng tại Trung tâm Văn hóa tỉnh Vĩnh Long – thiết chế đóng vai trò nòng cốt định hướng phong trào nghệ thuật của địa phương. Mục tiêu cụ thể của đề tài nhằm hệ thống hóa cơ sở lý luận về quản lý văn hóa cơ sở, đánh giá khách quan các mặt thành tựu cũng như hạn chế trong việc quản lý tổ chức hoạt động và nguồn lực giai đoạn 2014 - 2018, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý trong bối cảnh mới.

Phạm vi nghiên cứu tập trung vào các hoạt động nghệ thuật biểu diễn có tổ chức mang tính Nhà nước tại Trung tâm Văn hóa tỉnh Vĩnh Long trong mốc thời gian 5 năm (2014 - 2018). Luận văn mang lại ý nghĩa thực tiễn to lớn khi cung cấp hệ thống luận cứ khoa học giúp cơ quan quản lý tối ưu hóa quy trình tổ chức, hỗ trợ trực tiếp cho hơn 500 hội viên thuộc các câu lạc bộ cơ sở, đồng thời duy trì tỷ lệ hoàn thành vượt mức kế hoạch năm từ 108% đến 166% trong các hoạt động biểu diễn và hội diễn nghệ thuật.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn xây dựng trên nền tảng lý luận về nhu cầu và nhu cầu văn hóa theo tinh thần Nghị quyết số 23-NQ/TW của Bộ Chính trị, khẳng định văn học nghệ thuật là nhu cầu thiết yếu thỏa mãn khát vọng chân, thiện, mỹ của con người. Bên cạnh đó, đề tài tiếp cận lý thuyết quản lý khoa học của Henry Fayol với 5 chức năng cơ bản gồm kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, điều chỉnh, kiểm soát và tư tưởng quản trị hướng đến kết quả thực tiễn của Peter Drucker.

Khung lý thuyết của đề tài xoay quanh các khái niệm và mô hình cốt lõi:

  • Văn nghệ quần chúng: Hoạt động văn nghệ không chuyên nghiệp mang tính chất kép vừa là hoạt động xã hội tự nguyện của quần chúng nhân dân, vừa mang tính Nhà nước thông qua sự định hướng, hỗ trợ của các thiết chế văn hóa công lập.
  • Quản lý văn hóa: Quá trình chủ thể quản lý sử dụng hệ thống luật pháp, cơ chế, chính sách và nguồn lực để tác động có mục đích lên khách thể nhằm phát triển các giá trị văn hóa tinh thần.
  • Quản lý tổ chức hoạt động văn nghệ quần chúng: Công tác chỉ đạo, dàn dựng, kiểm duyệt và triển khai các hình thức ca múa nhạc tạp kỹ, tuyên truyền lưu động, hội thi, hội diễn và sinh hoạt câu lạc bộ.
  • Quản lý nguồn lực văn nghệ quần chúng: Quá trình khai thác, phân bổ và sử dụng hiệu quả hệ thống cơ sở vật chất, tài chính công, nguồn tài trợ xã hội hóa và phát triển đội ngũ nhân lực hạt nhân.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp đồng bộ phương pháp định lượng và phương pháp định tính nhằm thu thập dữ liệu đa chiều, khách quan:

  • Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu định lượng: Thực hiện khảo sát bằng bảng hỏi với tổng quy mô mẫu 200 đối tượng theo phương pháp chọn mẫu phi xác suất có chủ đích. Cụ thể bao gồm 80 văn nghệ sĩ chuyên và không chuyên (20 viên chức chuyên môn của Trung tâm Văn hóa tỉnh và 60 hội viên thuộc các Chi hội Âm nhạc, Sân khấu, Múa của tỉnh) cùng 120 người dân sinh sống tại khu vực thành phố Vĩnh Long và các huyện phụ cận.
  • Phương pháp nghiên cứu định tính: Sử dụng kỹ thuật phỏng vấn sâu và phỏng vấn bán cấu trúc đối với 8 cá nhân đại diện. Trong đó gồm 4 chủ thể quản lý (lãnh đạo Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Vĩnh Long, lãnh đạo Phòng Quản lý Văn hóa, lãnh đạo Trung tâm Văn hóa tỉnh, cán bộ Phòng Nghệ thuật quần chúng) và 4 khách thể quản lý (chủ nhiệm câu lạc bộ nghệ thuật, cộng tác viên biểu diễn và 2 khán giả thường xuyên).
  • Lý do lựa chọn phương pháp phân tích: Việc kết hợp thống kê mô tả định lượng với phân tích ngữ cảnh định tính giúp lượng hóa chính xác mức độ hài lòng của công chúng, đồng thời lý giải thấu đáo những rào cản về cơ chế tài chính, biên chế và quy trình tổ chức thực tế. Dữ liệu thứ cấp được tổng hợp và đối chiếu liên tục trong suốt khung thời gian nghiên cứu từ năm 2014 đến năm 2018.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Quá trình khảo sát và phân tích dữ liệu thực tế tại Trung tâm Văn hóa tỉnh Vĩnh Long đã chỉ ra những kết quả nổi bật:

Thứ nhất, hoạt động biểu diễn của Đội Tuyên truyền lưu động và ca múa nhạc tạp kỹ ghi nhận hiệu suất công tác vượt mức chỉ tiêu. Trong giai đoạn 2014 - 2018, đơn vị đã xây dựng mới 50 chương trình nghệ thuật (20 chương trình theo kế hoạch nhà nước và 30 chương trình theo đơn đặt hàng phục vụ nhiệm vụ chính trị), tổ chức biểu diễn gần 400 buổi. Trung bình mỗi năm Đội Tuyên truyền lưu động thực hiện 120 - 140 buổi diễn, vượt từ 20% đến 40% so với định mức 100 - 120 buổi theo quy định của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch. Riêng năm 2018, đơn vị tham gia 5 cuộc hội thi cấp khu vực và toàn quốc đạt 166% kế hoạch năm (tăng 66% so với bình quân các năm trước), đồng thời tổ chức 130 buổi diễn phục vụ cơ sở đạt 108% chỉ tiêu giao.

Thứ hai, mạng lưới câu lạc bộ nghệ thuật phát triển đa dạng với hơn 10 mô hình thu hút trên 500 hội viên. Câu lạc bộ Đờn ca tài tử duy trì đều đặn 50 buổi sinh hoạt và giao lưu mỗi năm với sự góp mặt của 31 nghệ nhân ban đầu cùng các Nghệ nhân ưu tú. Câu lạc bộ Sân khấu hài mở rộng quy mô từ 20 thành viên lên trên 30 thành viên, sáng tác và dàn dựng hơn 25 tiểu phẩm tự biên trong 5 năm. Bên cạnh đó, mô hình Nhóm Nghệ thuật đường phố thành lập năm 2016 đã tổ chức thành công 11 kỳ biểu diễn quy mô tại Quảng trường thành phố Vĩnh Long năm 2018, tạo điểm nhấn văn hóa cuối tuần cho cộng đồng.

Thứ ba, công tác quản lý nguồn lực bộc lộ nhiều điểm nghẽn nghiêm trọng. Về tổ chức bộ máy, Đội Tuyên truyền lưu động chỉ có 09 nhân sự thực tế trên tổng số 11 biên chế được giao, dẫn đến tình trạng cán bộ phải kiêm nhiệm quá nhiều vai trò. Về tài chính, ngân sách cấp cho hoạt động ca múa nhạc tạp kỹ duy trì ở mức hơn 200 triệu đồng/năm (bình quân 20 - 30 triệu đồng/chương trình), trong khi kinh phí hỗ trợ câu lạc bộ Đờn ca tài tử chỉ đạt 7 - 8 triệu đồng/năm. Đáng chú ý, Câu lạc bộ Sân khấu cải lương với 15 nghệ sĩ đã buộc phải ngừng hoạt động vào năm 2015 sau 3 năm vận hành do kiệt quệ nguồn kinh phí xã hội hóa và sụt giảm khán giả.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân của những hạn chế trên xuất phát từ sự bất cập trong chính sách đãi ngộ và phương thức vận hành. Chế độ tài chính chi trả cho tuyên truyền viên theo Quyết định số 11/2017/QĐ-UBND tỉnh Vĩnh Long và Thông tư liên tịch số 46/2016/TTLT-BTC-BVHTTDL quy định mức bồi dưỡng tập luyện 50.000 đồng/buổi/4 giờ (tối đa 10 buổi/chương trình) và bồi dưỡng biểu diễn từ 70.000 đến 80.000 đồng/buổi. Mức phụ cấp này quá thấp so với chi phí sinh hoạt thực tế, gây khó khăn trong việc thu hút tài năng trẻ và dẫn đến hiện tượng lão hóa đội ngũ diễn viên cơ hữu.

So sánh với các nghiên cứu tương đồng tại Trung tâm Văn hóa tỉnh Bình Dương hay các thiết chế văn hóa cấp huyện tại Tiền Giang và Bến Tre, tình trạng thiếu hụt kinh phí hoạt động và khó khăn khi thu hút khán giả trẻ là thách thức mang tính hệ thống của các thiết chế văn hóa công lập trong cơ chế thị trường. Để nâng cao tính trực quan trong báo cáo quản lý, toàn bộ dữ liệu chỉ tiêu và kết quả thực hiện giai đoạn 2014 - 2018 có thể được chuẩn hóa qua bảng tổng hợp so sánh mức độ hoàn thành kế hoạch (đạt từ 108% đến 166%), kết hợp biểu đồ cột thể hiện sự biến động số lượng buổi diễn phục vụ lưu động (dao động từ 120 đến 140 buổi/năm) nhằm minh chứng rõ nét xu hướng phát triển và áp lực công việc của đơn vị.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động văn nghệ quần chúng tại Trung tâm Văn hóa tỉnh Vĩnh Long, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp chiến lược:

  1. Đổi mới phương thức dàn dựng và ứng dụng công nghệ truyền thông: Giao Trung tâm Văn hóa tỉnh chủ trì lộ trình 2024 - 2026 thực hiện hiện đại hóa 100% kịch bản tuyên truyền lưu động bằng hình thức sân khấu hóa tổng hợp, tích hợp màn hình LED và hiệu ứng âm thanh ánh sáng hiện đại. Phấn đấu tăng tỷ lệ tiếp cận công chúng trẻ tuổi trên các nền tảng mạng xã hội thêm 25 - 30% mỗi năm.
  2. Kiện toàn tổ chức bộ máy và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực: Đề nghị Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch phối hợp với Sở Nội vụ tuyển dụng bổ sung đủ 100% chỉ tiêu biên chế (từ 09 lên đủ 11 người cho Đội Tuyên truyền lưu động) trong năm 2025. Tổ chức định kỳ 02 khóa tập huấn chuyên môn/năm cho hơn 500 hội viên câu lạc bộ, đồng thời nâng định mức hỗ trợ duy trì hoạt động cho các câu lạc bộ nòng cốt lên 20 - 30 triệu đồng/năm.
  3. Hoàn thiện cơ chế xã hội hóa và đa dạng hóa nguồn tài chính: Ủy ban nhân dân tỉnh Vĩnh Long cần ban hành quy chế ưu đãi thu hút doanh nghiệp tài trợ cho các sự kiện văn nghệ quần chúng. Đặt mục tiêu nâng tỷ trọng kinh phí huy động xã hội hóa ngoài ngân sách lên mức 15 - 20% trên tổng chi phí hoạt động văn hóa giai đoạn 2025 - 2030.
  4. Mở rộng không gian văn hóa công cộng và phát triển khán giả: Tăng tần suất biểu diễn của Nhóm Nghệ thuật đường phố và Câu lạc bộ Hát với nhau tại Quảng trường thành phố Vĩnh Long từ 01 buổi lên 02 - 03 buổi/tuần vào các tối cuối tuần. Phấn đấu thu hút thêm 30 - 40% lượt người dân tham gia tương tác trực tiếp trước năm 2026.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung nghiên cứu của luận văn mang lại giá trị ứng dụng thiết thực cho 4 nhóm đối tượng chính:

  1. Cán bộ quản lý tại Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch cùng hệ thống Trung tâm Văn hóa các cấp: Tài liệu cung cấp cơ sở thực tiễn để hoạch định chính sách, phân bổ ngân sách nhà nước hợp lý và thiết lập chỉ tiêu hoạt động tuyên truyền lưu động khoa học, phù hợp với năng lực thực tế của đơn vị.
  2. Ban chủ nhiệm và hội viên các câu lạc bộ nghệ thuật quần chúng: Nắm vững quy trình quản lý tự chủ, kỹ năng xây dựng chương trình sinh hoạt định kỳ và phương pháp vận động nguồn tài trợ xã hội hóa từ 10 đến 15 triệu đồng/năm để duy trì câu lạc bộ ổn định.
  3. Học viên cao học, sinh viên và nhà nghiên cứu chuyên ngành Quản lý Văn hóa: Khai thác khung lý thuyết hệ thống, bộ công cụ khảo sát định lượng 200 mẫu và kỹ thuật phỏng vấn sâu 8 đối tượng làm tài liệu tham khảo cho các đề tài nghiên cứu về thiết chế văn hóa cơ sở.
  4. Lãnh đạo chính quyền địa phương và các tổ chức, doanh nghiệp tài trợ: Hiểu rõ nhu cầu hưởng thụ văn hóa tinh thần của nhân dân địa phương, từ đó xây dựng các chương trình tài trợ văn hóa gắn với trách nhiệm xã hội và xúc tiến du lịch cộng đồng.

Câu hỏi thường gặp

1. Hoạt động văn nghệ quần chúng khác biệt như thế nào so với biểu diễn nghệ thuật chuyên nghiệp?
Văn nghệ quần chúng là hoạt động không chuyên nghiệp, mang tính tự nguyện và quần chúng cao, do nhân dân hoặc Nhà nước tổ chức để đáp ứng nhu cầu hưởng thụ, sáng tạo văn hóa tại chỗ. Khác với biểu diễn chuyên nghiệp đòi hỏi đào tạo bài bản và bán vé sinh lợi, ranh giới giữa người xem và người diễn trong văn nghệ quần chúng rất mờ nhạt, lấy phương châm cổ vũ, động viên tinh thần làm trọng tâm.

2. Tại sao Câu lạc bộ Sân khấu cải lương của Trung tâm Văn hóa tỉnh Vĩnh Long phải ngừng hoạt động vào năm 2015?
Sau 3 năm hoạt động với 15 thành viên và dàn dựng khoảng 10 tác phẩm/năm, câu lạc bộ phải dừng bước do thiếu hụt nghiêm trọng nguồn kinh phí tài trợ, không có ngân sách nhà nước hỗ trợ định kỳ và sụt giảm lượng khán giả mộ điệu, dẫn đến việc các nghệ sĩ nòng cốt không thể duy trì sinh hoạt trước áp lực kinh tế cá nhân.

3. Định mức kinh phí và mức bồi dưỡng biểu diễn cho Đội Tuyên truyền lưu động tỉnh Vĩnh Long hiện nay ra sao?
Kinh phí hoạt động của Đội dao động từ 380 đến 490 triệu đồng/năm từ ngân sách. Theo Quyết định số 11/2017/QĐ-UBND tỉnh Vĩnh Long, thù lao tập luyện là 50.000 đồng/người/buổi (tối đa 10 buổi/chương trình mới), thù lao biểu diễn lưu động là 80.000 đồng/buổi cho vai diễn chính và 70.000 đồng/buổi cho vai diễn khác.

4. Mô hình Nhóm Biểu diễn nghệ thuật đường phố mang lại hiệu quả thực tế gì cho địa phương?
Thành lập từ năm 2016, nhóm tổ chức các chương trình định kỳ cuối tuần tại Quảng trường thành phố Vĩnh Long với 11 kỳ diễn lớn năm 2018. Mô hình kết hợp phong phú giữa âm nhạc đương đại với đờn ca tài tử, trích đoạn cải lương và nhảy hiện đại, tạo nên không gian sinh hoạt văn hóa mở thu hút hàng ngàn lượt thanh thiếu niên tham gia.

5. Cơ cấu mẫu nghiên cứu 200 người trong luận văn được phân bổ như thế nào để đảm bảo tính khách quan?
Mẫu định lượng được phân bổ cân đối gồm 80 chuyên gia và người thực hành nghệ thuật (20 cán bộ chuyên môn của Trung tâm Văn hóa, 60 hội viên các Hội Văn học Nghệ thuật chuyên ngành) cùng 120 người dân đại diện cho công chúng thụ hưởng tại thành phố Vĩnh Long và các huyện lân cận, bảo đảm phản ánh chính xác tương quan giữa cung và cầu văn hóa.

Kết luận

  • Luận văn hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về quản lý hoạt động và quản lý nguồn lực văn nghệ quần chúng trong hệ thống thiết chế văn hóa công lập cấp tỉnh.
  • Đánh giá trung thực bức tranh thực trạng giai đoạn 2014 - 2018 với 50 chương trình mới, gần 400 buổi diễn và hệ thống câu lạc bộ quy tụ hơn 500 hội viên.
  • Nhận diện chính xác các rào cản cốt lõi về tình trạng thiếu hụt biên chế (chỉ đạt 9/11 người), mức thù lao tập luyện 50.000 đồng/buổi còn thấp và nguy cơ gián đoạn của các bộ môn nghệ thuật truyền thống.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp đột phá gắn liền với lộ trình 2024 - 2030, hướng đến mục tiêu tăng trưởng 15 - 30% nguồn lực xã hội hóa và tỷ lệ khán giả tương tác.
  • Cung cấp tài liệu tham khảo khoa học và thực tiễn giá trị cho công tác quản lý văn hóa cơ sở tại tỉnh Vĩnh Long và khu vực Đồng bằng sông Cửu Long.

Các cơ quan quản lý văn hóa và chính quyền địa phương cần sớm áp dụng đồng bộ các đề xuất của luận văn để nâng cao chất lượng đời sống tinh thần cho nhân dân, xây dựng môi trường văn hóa cơ sở phát triển bền vững.