Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ chuyên ngành Quản lý văn hóa (mã số: 9229042) của nghiên cứu sinh Phạm Phương Oanh, thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Văn Đức Thanh tại Viện Văn hóa Nghệ thuật quốc gia Việt Nam (năm 2022), tập trung vào đề tài: "Quản lý hoạt động biểu diễn nghệ thuật tại các Đoàn Văn công Quân đội trong giai đoạn hiện nay".

Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu, tác giả xuất phát từ quan điểm chỉ đạo của Đảng xác định văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực phát triển kinh tế - xã hội. Trong Quân đội nhân dân Việt Nam, hoạt động văn hóa, văn nghệ là một bộ phận hữu cơ của công tác Đảng, công tác chính trị, có nguồn gốc lịch sử từ ngày 22 tháng 12 năm 1944 khi Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân được thành lập với nguyên tắc "chính trị trọng hơn quân sự", "người trước, súng sau" và lấy "chính trị làm gốc". Các Đoàn Văn công Quân đội được tổ chức nhằm thực hiện nhiệm vụ chính trị, phục vụ bộ đội và nhân dân cả trong thời chiến lẫn thời bình.

Trước yêu cầu của Nghị quyết Đại hội XII của Đảng, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Quân đội lần thứ X và Chỉ thị số 355-CT/QUTW ngày 20 tháng 4 năm 2017 của Quân ủy Trung ương về việc tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo công tác văn hóa, văn học nghệ thuật trong Quân đội giai đoạn hiện nay, công tác quản lý hoạt động biểu diễn nghệ thuật tại các đoàn văn công đang đứng trước nhiều biến động. Đó là sự chuyển đổi của cơ chế thị trường, ảnh hưởng từ dịch bệnh COVID-19, sự bùng nổ của công nghệ thông tin cùng nhu cầu thẩm mỹ ngày càng đa dạng của cán bộ, chiến sĩ. Tác giả chỉ ra rằng các đơn vị biểu diễn nghệ thuật quân đội đang lúng túng trong phương thức vận hành, thiếu kỹ năng quản lý, kỹ năng kinh doanh, hạn chế về nguồn nhân lực, phương tiện kỹ thuật và thiếu cơ chế chính sách đặc thù. Do đó, việc nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp quản lý hoạt động biểu diễn nghệ thuật tại các đoàn văn công quân đội là yêu cầu cấp thiết.

Mục đích nghiên cứu của luận án là phân tích thực trạng công tác quản lý hoạt động biểu diễn nghệ thuật của các Đoàn Văn công Quân đội, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động này trong thời gian tới.

Để đạt được mục đích trên, luận án xác định 4 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Hệ thống hóa những khái niệm, những vấn đề lý luận và thực tiễn về hoạt động biểu diễn nghệ thuật và cơ chế quản lý các hoạt động này tại các đoàn văn công quân đội.
  2. Phân tích thực trạng công tác quản lý hoạt động biểu diễn nghệ thuật của một số đoàn văn công theo phạm vi nghiên cứu của đề tài.
  3. Đánh giá chất lượng các hoạt động biểu diễn nghệ thuật qua việc phân tích, làm rõ các nguyên nhân của ưu điểm và hạn chế từ thực trạng quản lý hoạt động này tại 03 đoàn văn công quân đội từ năm 2018 đến nay.
  4. Nêu định hướng và đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng các hoạt động biểu diễn nghệ thuật tại các đoàn văn công quân đội nhằm đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ, gắn liền với xu hướng phát triển văn hóa nghệ thuật của Quân đội và đất nước trong giai đoạn hiện nay.

Hệ thống câu hỏi nghiên cứu của luận án gồm 3 câu hỏi:

  1. Hoạt động biểu diễn nghệ thuật và quản lý hoạt động biểu diễn nghệ thuật của các Đoàn Văn công Quân đội có đặc thù gì ảnh hưởng đến chất lượng quản lý, chất lượng hoạt động biểu diễn nghệ thuật?
  2. Thực trạng công tác quản lý hoạt động biểu diễn nghệ thuật của các Đoàn Văn công Quân đội trong giai đoạn hiện nay như thế nào?
  3. Định hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý hoạt động biểu diễn nghệ thuật của các Đoàn Văn công Quân đội trong giai đoạn hiện nay?

Hệ thống giả thuyết nghiên cứu gồm 3 nội dung:

  1. Hoạt động biểu diễn nghệ thuật của các đoàn văn công quân đội là nội hàm hoạt động của các thiết chế văn hóa, là một bộ phận của công tác Đảng, công tác chính trị của Quân đội nhân dân Việt Nam nhằm đáp ứng nhu cầu sáng tạo, phổ biến, hưởng thụ, bảo tồn các giá trị văn hóa; tuyên truyền giáo dục, nâng cao đời sống văn hóa, tinh thần cho bộ đội. Đồng thời góp phần đấu tranh phòng, chống "diễn biến hòa bình", suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, góp phần củng cố trận địa văn hóa tư tưởng của Đảng trong Quân đội, xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Vì vậy, công tác quản lý hoạt động biểu diễn nghệ thuật tại các đơn vị này có những đặc thù riêng biệt so với các đơn vị nghệ thuật chuyên nghiệp công lập thuộc khối dân sự.
  2. Công tác quản lý hoạt động biểu diễn nghệ thuật của các Đoàn Văn công Quân đội trong giai đoạn hiện nay đã được thực hiện tốt, đạt hiệu quả, góp phần nâng cao đời sống tinh thần bộ đội và hoàn thành nhiệm vụ chính trị, song vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế, bất cập cần được tháo gỡ.
  3. Để công tác quản lý đạt hiệu quả cao, cần có hệ thống giải pháp đồng bộ, toàn diện, bám sát đường lối phát triển văn hóa của Đảng, Nhà nước và Quân đội, bảo đảm nguyên tắc văn hóa do Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân là chủ thể sáng tạo và đội ngũ văn nghệ sĩ giữ vai trò nòng cốt.

Đối tượng nghiên cứu của luận án là công tác quản lý hoạt động biểu diễn nghệ thuật của các Đoàn Văn công Quân đội trong giai đoạn hiện nay.

Phạm vi nghiên cứu được xác định cụ thể:

  • Về không gian: Luận án chọn khảo sát 03 đơn vị đại diện cho các địa bàn và tính chất hoạt động:
    • Đoàn Văn công Quân khu 1: Hoạt động biểu diễn tại các tỉnh miền núi phía Bắc gồm Lạng Sơn, Cao Bằng, Bắc Giang, Bắc Kạn, Bắc Ninh, Thái Nguyên.
    • Đoàn Văn công Quân khu 3: Địa bàn hoạt động tại 9 tỉnh, thành phố duyên hải và đồng bằng phía Bắc gồm Quảng Ninh, Hải Phòng, Hải Dương, Hưng Yên, Thái Bình, Nam Định, Hà Nam, Ninh Bình và Hòa Bình.
    • Đoàn Văn công Quân chủng Phòng không - Không quân: Đơn vị nghệ thuật chuyên nghiệp trực thuộc quân chủng kỹ thuật, có phạm vi hoạt động linh hoạt, biểu diễn tại các điểm đóng quân trên phạm vi toàn quốc từ Bắc vào Nam.
  • Về thời gian: Nghiên cứu đánh giá tiến trình quản lý từ khi hình thành các đoàn văn công đến thời điểm nghiên cứu; trong đó, dữ liệu khảo sát thực tế và số liệu định lượng được thu thập từ năm 2018 đến năm 2021.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tổng quan tình hình nghiên cứu trong luận án được phân chia thành ba nhóm tư liệu chính:

Nhóm nghiên cứu về quản lý văn hóa nghệ thuật và biểu diễn nghệ thuật ở nước ngoài: Tác giả dẫn dụng các nghiên cứu của Laurent Lapierre trong tác phẩm Lãnh đạo và quản lý nghệ thuật, nhìn nhận quản lý tổ chức nghệ thuật qua lăng kính quản lý nhân sự - nghệ sĩ, xem nghệ sĩ vừa là lao động vừa là chủ thể sáng tạo. Tác giả Byrnes trong Management and the Arts đánh giá quản lý nghệ thuật tương đồng với quản lý tổ chức nói chung qua 4 chức năng: lập kế hoạch, điều hành, lãnh đạo và giám sát. Tác phẩm Art management, nghiên cứu From Arts Management to Cultural Administration, và Jim Volz trong How to run a theatre (Làm thế nào để vận hành một tổ chức nghệ thuật: một hướng dẫn thú vị, thực tế về quản lý văn hoá nghệ thuật) tập trung phân tích cấu trúc tổ chức, công cụ quản trị và giải pháp duy trì tính nghệ thuật trong điều kiện tự chủ tài chính. Cuốn Theatre Management: Producing and Managing the Performing Arts cung cấp các mô hình quản lý tạo động lực sáng tạo cho nghệ sĩ. Tác giả luận án nhận xét các nghiên cứu phương Tây tuy cung cấp lý thuyết quản trị hiện đại nhưng đặt trong bối cảnh thị trường phát triển, khác biệt với thể chế chính trị và thiết chế quân sự Việt Nam.

Nhóm nghiên cứu lý luận và chính sách quản lý văn hóa nghệ thuật trong nước: Luận án kế thừa các công trình lý luận chung như: Nguyễn Đình Quang (1998) với Văn hóa nghệ thuật với sự hình thành nhân cách và phát triển xã hội; Nguyễn Khoa Điềm (2001) trong Xây dựng và phát triển nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; Nguyễn Văn Hy và Phan Văn Tú (1998) với Quản lý hoạt động văn hóa; Hoàng Vinh với Mấy vấn đề lý luận và thực tiễn xây dựng văn hóa ở nước ta. Về khía cạnh chính sách và hội nhập, tác giả nghiên cứu công trình của Nguyễn Văn Tình (2009) về Chính sách văn hóa trên thế giới và việc hoàn thiện chính sách văn hóa ở Việt Nam; Phan Hồng Giang và Bùi Hoài Sơn (đồng chủ biên) với Quản lý văn hóa Việt Nam trong tiến trình đổi mới và hội nhập quốc tế; Lê Thị Hoài Phương (2009) với Hợp tác quốc tế về văn hóa trong thời kỳ đổi mới ở Việt Nam; Nguyễn Chí Bền (2010) với Văn hóa Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế. Về nghiệp vụ quản lý nghệ thuật, tác giả dẫn cứu các bài viết của Lương Hồng Quang (2001, 2004) về khái niệm quản lý nghệ thuật, marketing, gây quỹ và tài chính nhà hát; Lương Hồng Quang và Đỗ Thị Thanh Thủy (2004) dịch Nhập môn Quản lý Văn hóa nghệ thuật; Phạm Bích Huyền (2009); Nguyễn Duy Bắc với tuyển tập Về lãnh đạo, quản lý văn học nghệ thuật trong công cuộc đổi mới; Phạm Phương Thùy (về tự chủ và xã hội hóa nhà hát); Đào Đăng Hoàn (2011) đề xuất luật biểu diễn nghệ thuật và chính sách tuyển dụng; Lê Hường (2014) về nâng cao nhu cầu thẩm mỹ; và Lê Thị Hoài Phương với cuốn sách Quản lý hoạt động nghệ thuật biểu diễn trong cơ chế thị trường.

Nhóm công trình nghiên cứu về hoạt động nghệ thuật trong Quân đội: Các đề tài tiêu biểu gồm: Ứng Duy Thịnh (2003) với đề tài cấp Tổng cục Chính trị Nâng cao chất lượng hoạt động ca múa nhạc chuyên nghiệp trong quân đội hiện nay; Nguyễn An Thuyên (2007) với đề tài cấp Bộ Quốc phòng Đổi mới nội dung phương thức hoạt động văn hóa nghệ thuật góp phần bồi dưỡng phẩm chất bộ đội Cụ Hồ thời kỳ mới; Đặng Mỹ Hạnh (2009) với đề tài cấp Tổng cục Chính trị Nghiên cứu giải pháp nâng cao chất lượng biểu diễn ca múa nhạc của các đoàn nghệ thuật trong Quân đội hiện nay; Nguyễn Thị Tuyết Mai (2011) nghiên cứu về quản lý biểu diễn ca múa nhạc dân tộc trong quân đội; Nguyễn Đức Trịnh (2013) với đề tài cấp Bộ Quốc phòng Phát triển nguồn nhân lực văn hóa nghệ thuật Quân đội thời kỳ mới; Bùi Lê Phong nghiên cứu về hoạt động văn hóa văn nghệ cơ sở. Về lịch sử và các đoàn cụ thể, có cuốn sách 50 năm Đoàn ca múa nhạc Quân đội nhân dân (1951-2001) (Nxb Quân đội Nhân dân, 2001); luận văn thạc sĩ của Lê Thị Minh Thu (2018) về Nhà hát Ca múa nhạc Quân đội; Lê Đặng Bảo Anh (2017) về Đoàn Văn công Phòng không - Không quân; Nguyễn Văn Hiếu (2018) về Đoàn Văn công Quân khu 3. Bên cạnh đó là các bài viết và báo cáo chuyên ngành của Trần Văn Giàu (2006) về đặc điểm văn hóa quân đội; Phạm Văn Xây về giáo dục văn hóa thẩm mỹ; Báo cáo tổng kết của Tổng cục Chính trị tại Hội nghị Trung ương 5 khóa VIII (1998) và ấn phẩm Một số hiểu biết cơ bản về văn học - nghệ thuật (2001).

Khoảng trống nghiên cứu được luận án giải quyết: Tác giả chỉ ra rằng các công trình trước đây chủ yếu tập trung nghiên cứu lý luận quản lý văn hóa chung hoặc tiếp cận hoạt động biểu diễn nghệ thuật quân đội dưới góc độ nâng cao chất lượng tiết mục, phục vụ nhiệm vụ chính trị, hoặc chỉ khảo sát riêng lẻ từng đoàn văn công. Chưa có công trình nào nghiên cứu một cách tổng thể, có hệ thống về công tác quản lý hoạt động biểu diễn nghệ thuật tại các Đoàn Văn công Quân đội dưới góc độ khoa học Quản lý văn hóa liên ngành. Luận án lựa chọn giải quyết khoảng trống này bằng việc khảo sát đồng thời ba đơn vị mang tính đại diện vùng miền và quân chủng, kết hợp phân tích định tính văn bản với dữ liệu điều tra xã hội học định lượng giai đoạn 2018 - 2021.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án làm rõ các khái niệm công cụ phục vụ nghiên cứu:

  • Quản lý: Trích dẫn Từ điển Bách khoa Việt Nam, giáo trình Khoa học quản lý, Đại cương về khoa học quản lý và Bách khoa toàn thư Britannica, quản lý được xác định là quá trình tổ chức, điều khiển, định hướng, kiểm soát các yếu tố nhân lực, vật lực, tài lực nhằm đạt mục tiêu xác định theo các quy luật khách quan.
  • Hoạt động biểu diễn nghệ thuật: Kế thừa quan điểm của Nguyễn Khoa Điềm, Trần Trí Trắc, Đỗ Thị Hương và viện dẫn các căn cứ pháp lý: Quyết định số 47/2004/QĐ-BVHTT ngày 02/7/2004 của Bộ trưởng Bộ Văn hóa - Thông tin ban hành Quy chế hoạt động biểu diễn và tổ chức biểu diễn nghệ thuật chuyên nghiệp; Nghị định số 79/2012/NĐ-CP ngày 05/10/2012 của Chính phủ; và Văn bản hợp nhất số 4955/VBHN-BVHTTDL ngày 31/10/2018 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch. Biểu diễn nghệ thuật được định nghĩa là hoạt động trình diễn chương trình, tiết mục, vở diễn trực tiếp trước công chúng của người biểu diễn.
  • Quản lý hoạt động biểu diễn nghệ thuật: Là hệ thống cơ chế, chính sách do Nhà nước và Quân đội ban hành nhằm điều chỉnh, chỉ đạo, kiểm soát hoạt động biểu diễn nghệ thuật theo đúng pháp luật và định hướng chính trị.
  • Đoàn Văn công Quân đội: Là thiết chế văn hóa nghệ thuật chuyên nghiệp trong quân đội, thống nhất tên gọi ở cấp Quân khu, Quân chủng và Bộ đội Biên phòng.

Về cơ sở lý thuyết, tác giả vận dụng ba lý thuyết chính:

  1. Thuyết quản trị nhân lực của Douglas McGregor (Thuyết X và Thuyết Y): Nhấn mạnh lao động sáng tạo, sự tự điều khiển, sự gắn kết giữa mục tiêu cá nhân và mục tiêu tổ chức, thúc đẩy việc dùng chính sách kích thích, khen thưởng và trao quyền cho nghệ sĩ.
  2. Lý thuyết thành tố sáng tạo của Teresa Amabile: Tiếp cận thông qua nghiên cứu của Phạm Thành Nghị trong Tâm lý học sáng tạo, khẳng định sáng tạo được hình thành từ tương tác của 3 thành tố: chuyên môn, kỹ năng sáng tạo và động lực làm việc (nội sinh), đòi hỏi môi trường quản lý dân chủ, linh hoạt và cởi mở.
  3. Lý thuyết quản lý hành chính của Henry Fayol và Max Weber: Vận dụng 14 nguyên tắc quản trị và 6 chức năng (dự báo, lập kế hoạch, tổ chức, chỉ huy, phối hợp, kiểm soát) của Fayol cùng nguyên tắc tổ chức thứ bậc, quyền hạn gắn liền chức vụ, hoạt động chuẩn hóa bằng văn bản của Weber vào mô hình quản lý hành chính quân sự.

Khung phân tích của đề tài: Luận án xây dựng khung phân tích gồm:

  • Chủ thể quản lý: Bộ Quốc phòng, Tổng cục Chính trị, Cục Tuyên huấn, Cục Chính trị các cấp; phối hợp với cơ quan quản lý nhà nước dân sự (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Cục Nghệ thuật biểu diễn, các Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch).
  • Ban chỉ huy Đoàn Văn công: Trưởng đoàn, Phó Trưởng đoàn phụ trách chuyên môn, Phó Trưởng đoàn phụ trách hành chính - hậu cần - kỹ thuật.
  • 6 nội dung quản lý: (1) Triển khai văn bản, chính sách pháp lý; (2) Xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch biểu diễn; (3) Quản lý chất lượng hoạt động biểu diễn nghệ thuật; (4) Quản lý nguồn nhân lực; (5) Quản lý cơ sở vật chất, trang thiết bị; (6) Thanh tra, kiểm tra, giám sát và thi đua khen thưởng.

Phương pháp tiếp cận và phương pháp nghiên cứu: Tác giả áp dụng phương pháp tiếp cận liên ngành: Quản lý văn hóa (đánh giá hoạt động quản lý), Nghệ thuật học (phân tích thành tố chuyên môn biểu diễn), Xã hội học (khảo sát nhu cầu thẩm mỹ cán bộ, chiến sĩ) và Kinh tế học văn hóa (xem xét đầu tư trang thiết bị, tài chính).

Về phương pháp thu thập và xử lý dữ liệu:

  • Phương pháp điều tra xã hội học: Tiến hành phát phiếu hỏi ngẫu nhiên tới cán bộ, chiến sĩ tại 10 đơn vị cơ sở thuộc địa bàn Quân khu 1, Quân khu 3 và Quân chủng Phòng không - Không quân. Tổng số mẫu thu về là 495 phiếu hợp lệ.
  • Phần mềm xử lý: Dữ liệu được xử lý bằng phần mềm SPSS phiên bản 22.0. Kỹ thuật phân tích gồm: thống kê mô tả tần suất (%), phân tích so sánh điểm trung bình Mean (phân chia 2 nhóm tuổi dưới 30 tuổi và từ 30 tuổi trở lên), phân tích tương quan giữa biến độc lập và biến phụ thuộc.
  • Phương pháp phỏng vấn sâu: Phỏng vấn cán bộ quản lý đoàn văn công, diễn viên, nghệ sĩ và các chuyên gia quản lý văn hóa quân đội.
  • Phương pháp tổng hợp tài liệu: Thu thập văn bản chỉ đạo, hồ sơ lưu trữ nội bộ của các đoàn văn công từ năm 2018 đến 2021.

Bảng cơ cấu mẫu khảo sát xã hội học (N = 495):

Tiêu chí phân loại Phân nhóm cụ thể Tần số (người) Tỷ lệ (%)
Giới tính Nam giới 468 94,5
Nữ giới 27 5,5
Nhóm tuổi Dưới 25 tuổi 194 39,2
Từ 26 đến 35 tuổi 132 26,7
Từ 36 tuổi trở lên 169 37,1
Độ tuổi tổng thể Từ 17 đến 54 tuổi 495 100,0

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận và khái quát về các đoàn văn công quân đội

Chương 1 có dung lượng 42 trang, tập trung giải quyết các nội dung lý luận nền tảng và bối cảnh tổ chức. Tác giả phân tích chi tiết tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước, khẳng định hoạt động biểu diễn nghệ thuật trong quân đội là một bộ phận đặc thù của công tác tư tưởng. Chương này xác lập hệ thống khái niệm chuẩn mực về quản lý hoạt động biểu diễn nghệ thuật theo các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành và làm rõ việc vận dụng ba lý thuyết: lý thuyết quản trị nhân lực của Douglas McGregor, lý thuyết thành tố sáng tạo của Teresa Amabile và lý thuyết quản trị hành chính của Henry Fayol, Max Weber.

Trong phần khái quát các đơn vị khảo sát, tác giả làm rõ chức năng, quá trình xây dựng và địa bàn hoạt động của 03 đoàn văn công. Đoàn Văn công Quân khu 1 gắn với nhiệm vụ biểu diễn phục vụ đồng bào và chiến sĩ vùng căn cứ địa Việt Bắc, biên giới Đông Bắc. Đoàn Văn công Quân khu 3 đảm nhiệm địa bàn ven biển, đồng bằng Bắc Bộ có truyền thống văn hóa dân gian phong phú. Đoàn Văn công Quân chủng Phòng không - Không quân đại diện cho khối quân chủng kỹ thuật hiện đại, có lực lượng đóng quân rải rác trên toàn quốc. Các đoàn đều có cơ cấu tổ chức gồm Ban Chỉ huy đoàn (Trưởng đoàn, các Phó Trưởng đoàn), các đội ca, múa, nhạc và bộ phận kỹ thuật, hành chính.

Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động biểu diễn nghệ thuật của các đoàn văn công quân đội trong giai đoạn hiện nay

Chương 2 có dung lượng 45 trang, trình bày kết quả khảo sát thực tế và phân tích số liệu về công tác quản lý tại 03 đoàn văn công từ năm 2018 đến năm 2021.

Hệ thống bảng biểu và dữ liệu định lượng được tác giả công bố trong chương gồm:

  • Bảng 1 (Cơ chế quản lý các đơn vị nghệ thuật công lập và lực lượng vũ trang): So sánh sự khác biệt về thẩm quyền quản lý giữa Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (khối dân sự) với Bộ Quốc phòng và Tổng cục Chính trị (khối lực lượng vũ trang).
  • Bảng 2 (Số lượng buổi biểu diễn hàng năm của các đơn vị): Phản ánh chỉ tiêu và thực tế biểu diễn phục vụ bộ đội tại cơ sở, vùng sâu, vùng xa và thực hiện nhiệm vụ đối ngoại quân sự.
  • Bảng 3 (Chất lượng hoạt động biểu diễn nghệ thuật của các Đoàn Văn công Quân đội hiện nay): Tỷ lệ đánh giá của khán giả quân nhân về tính tư tưởng, tính nghệ thuật và hình thức dàn dựng.
  • Bảng 4 (Trình độ học vấn đội ngũ hoạt động biểu diễn nghệ thuật của các đơn vị, bao gồm cả lao động hợp đồng): Thể hiện cơ cấu trình độ từ trung cấp, cao đẳng, đại học đến sau đại học của nghệ sĩ, nhạc công, diễn viên múa.
  • Bảng 5 (Thống kê nguồn nhân lực hoạt động biểu diễn nghệ thuật tại các đơn vị): Phân chia biên chế quân nhân chuyên nghiệp, viên chức quốc phòng và hợp đồng lao động.
  • Bảng 6 (Đánh giá về chất lượng đội ngũ biểu diễn của các Đoàn Văn công Quân đội): Tỷ lệ % ý kiến khảo sát đánh giá về năng lực chuyên môn, đạo đức nghề nghiệp và tác phong quân sự.
  • Bảng 7 (Cơ cấu theo độ tuổi của đội ngũ hoạt động nghệ thuật tại các đơn vị): Phản ánh tỷ lệ trẻ hóa hoặc già hóa diễn viên múa, ca sĩ trong các đoàn.
  • Bảng 8 (Tương quan giữa tuổi với lý do quan tâm đến các Đoàn Văn công Quân đội): Tỷ lệ % phân hóa nhu cầu theo lứa tuổi bộ đội.
  • Bảng 9 (Số lượng Nghệ sĩ nhân dân - Nghệ sĩ ưu tú của các đơn vị): Thống kê số lượng danh hiệu vinh dự nhà nước đạt được qua các thời kỳ.
  • Bảng 10 (Xe trang bị cho các đoàn Văn công Quân đội): Đánh giá thực trạng phương tiện cơ động phục vụ biểu diễn dã ngoại.
  • Bảng 11 (Mức độ yêu thích về loại hình biểu diễn), Bảng 12 (Mức độ yêu thích về loại hình nghệ thuật), Bảng 13 (Mức độ yêu thích về chương trình nghệ thuật): Tỷ lệ % thị hiếu của 495 cán bộ, chiến sĩ đối với ca, múa, nhạc, kịch ngắn.
  • Bảng 14 (Tương quan giữa tuổi với đề xuất việc cần làm để đổi mới nâng cao chất lượng hoạt động biểu diễn nghệ thuật): Phân tích sự khác biệt ý kiến giữa nhóm dưới 30 tuổi và trên 30 tuổi.
  • Hệ thống Biểu đồ 1, 2, 3, 4: Minh họa mức độ thưởng thức nghệ thuật, lý do quan tâm và các ưu tiên đổi mới của cán bộ, chiến sĩ.

Về nội dung thực trạng, luận án chỉ rõ chủ thể quản lý trực tiếp là Đảng ủy, Chỉ huy Cục Chính trị các Quân khu, Quân chủng, dưới sự chỉ đạo nghiệp vụ của Cục Tuyên huấn và Tổng cục Chính trị. Các đoàn đã chấp hành nghiêm các văn bản pháp lý của Nhà nước và Bộ Quốc phòng, xây dựng kế hoạch biểu diễn hằng năm hoàn thành định mức chỉ tiêu buổi diễn (trung bình 60 - 80 buổi/năm/đoàn).

Tuy nhiên, thực trạng quản lý bộc lộ nhiều hạn chế:

  • Nguồn nhân lực có sự mất cân đối về cơ cấu độ tuổi; đặc thù nghề múa có tuổi thọ nghề nghiệp ngắn (ngoài 30 - 35 tuổi khả năng biểu diễn giảm sút) nhưng cơ chế chuyển ngạch, giải quyết chế độ chính sách chuyển vùng, nghỉ hưu còn vướng mắc. Tỷ lệ diễn viên hợp đồng cao nhưng chế độ đãi ngộ thấp, khó giữ chân tài năng.
  • Cơ sở vật chất, âm thanh, ánh sáng và xe ô tô chuyên dụng phục vụ cơ động biểu diễn vùng biên giới, hải đảo còn thiếu thốn, cũ kỹ.
  • Phương thức biểu diễn ở một số chương trình còn xơ cứng, chậm đổi mới kết cấu, chưa ứng dụng mạnh mẽ các phương tiện kỹ thuật số.
  • Công tác phối hợp giữa đoàn văn công với cơ quan quản lý nhà nước về văn hóa tại địa phương chưa chặt chẽ; thiếu hoạt động nghiên cứu thị hiếu khán giả và hoàn toàn vắng bóng các kỹ năng marketing nghệ thuật.

Chương 3: Định hướng và giải pháp quản lý hoạt động nghệ thuật của các đoàn văn công quân đội

Chương 3 có dung lượng 48 trang, tập trung đề xuất hệ thống định hướng và giải pháp khoa học.

Về định hướng, tác giả căn cứ vào:

  • Nghị quyết số 33-NQ/TW ngày 09/6/2014 của Hội nghị Trung ương 9 khóa XI về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước;
  • Nghị quyết Đại hội XII của Đảng;
  • Chỉ thị số 355-CT/QUTW ngày 20/4/2017 của Quân ủy Trung ương;
  • Mục tiêu xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại.

Tác giả đề xuất 7 nhóm giải pháp quản lý đồng bộ:

  1. Về công tác tuyên truyền giáo dục nâng cao nhận thức: Nâng cao nhận thức của cấp ủy, chỉ huy các cấp và đội ngũ nghệ sĩ - chiến sĩ về vị trí của hoạt động nghệ thuật trong công tác Đảng, công tác chính trị; giáo dục bản lĩnh chính trị, giữ vững hình ảnh "Bộ đội Cụ Hồ".
  2. Đổi mới nội dung, hình thức, phương thức hoạt động biểu diễn nghệ thuật: Dàn dựng các tác phẩm phản ánh đời sống người lính trong thời bình, nhiệm vụ huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, cứu hộ cứu nạn; kết hợp ca múa nhạc truyền thống với kỹ thuật dàn dựng sân khấu hiện đại; đa dạng hóa quy mô biểu diễn từ sân khấu lớn đến các đội xung kích biểu diễn tại điểm chốt, đồn biên phòng, trạm radar.
  3. Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực: Thực hiện quy hoạch đội ngũ; phối hợp đào tạo với Trường Đại học Văn hóa Nghệ thuật Quân đội; có chính sách đặc thù trong tuyển dụng nhân tài; bồi dưỡng nâng cao trình độ quản lý cho Ban Chỉ huy đoàn; giải quyết chuyển đổi vị trí công tác cho diễn viên khi hết tuổi biểu diễn đỉnh cao.
  4. Đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị: Hiện đại hóa hệ thống âm thanh, ánh sáng chuyên dùng cơ động dã ngoại; trang bị xe ô tô chuyên dụng đáp ứng yêu cầu biểu diễn tại địa bàn miền núi, vùng sâu, vùng xa.
  5. Tăng cường cơ chế phối hợp, các hoạt động giao lưu, hợp tác: Thiết lập quy chế phối hợp thường xuyên giữa Cục Chính trị quân khu, quân chủng với Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch các địa phương; mở rộng giao lưu nghệ thuật với các đoàn ngoài quân đội và tham gia biểu diễn đối ngoại quân sự quốc tế.
  6. Tiếp cận hoạt động Marketing trong quảng bá hoạt động biểu diễn nghệ thuật: Ứng dụng các nguyên lý marketing văn hóa, nghiên cứu thị hiếu công chúng quân nhân; ứng dụng nền tảng số, mạng xã hội và truyền hình để lan tỏa các tác phẩm nghệ thuật quân đội tới công chúng ngoài quân đội.
  7. Hoàn thiện cơ chế, chính sách: Đề xuất Bộ Quốc phòng và Nhà nước ban hành chế độ phụ cấp đặc thù nghề nghiệp cho nghệ sĩ quân đội, chính sách tiền lương, định mức lao động biểu diễn, quy chế phong tặng danh hiệu và chế độ nghỉ hưu linh hoạt cho lực lượng diễn viên múa.

Kết quả và những đóng góp mới

Về mặt lý luận, luận án góp phần hệ thống hóa các vấn đề lý luận về quản lý hoạt động biểu diễn nghệ thuật trong môi trường lực lượng vũ trang. Tác giả xác lập khung phân tích chuyên ngành Quản lý văn hóa dựa trên sự kết hợp giữa lý thuyết quản lý hành chính, lý thuyết quản trị nhân sự và lý thuyết thành tố sáng tạo. Đề tài làm rõ đặc thù của đoàn văn công quân đội với tư cách là một thiết chế văn hóa mang tính chính trị - quân sự, chỉ huy tập trung nhưng sản phẩm đầu ra đòi hỏi quy luật sáng tạo thẩm mỹ.

Về mặt thực tiễn, luận án cung cấp bức tranh toàn diện và hệ thống dữ liệu thực nghiệm về thực trạng quản lý biểu diễn nghệ thuật tại 03 đơn vị đại diện (Đoàn Văn công Quân khu 1, Quân khu 3 và Quân chủng Phòng không - Không quân) giai đoạn 2018 - 2021. Kết quả xử lý 495 phiếu điều tra bằng phần mềm SPSS 22 là nguồn dữ liệu thực chứng làm rõ sự thay đổi thị hiếu của bộ đội và những bất cập trong quản trị nhân lực nghệ thuật quân đội.

Luận án đề xuất hệ thống 7 nhóm giải pháp quản lý có tính khả thi, gắn liền với các kiến nghị cụ thể gửi tới Bộ Quốc phòng, Tổng cục Chính trị và Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch về hoàn thiện cơ chế phối hợp, chính sách đãi ngộ nghệ sĩ và đầu tư trang thiết bị chuyên dụng phục vụ biểu diễn dã ngoại.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Về mặt hạn chế, phạm vi khảo sát thực nghiệm của luận án tập trung chủ yếu vào 03 đơn vị đại diện ở khu vực phía Bắc và quân chủng kỹ thuật (Quân khu 1, Quân khu 3, Phòng không - Không quân), chưa bao quát toàn diện các đơn vị nghệ thuật quân đội ở khu vực miền Trung, miền Nam (Quân khu 4, Quân khu 5, Quân khu 7, Quân khu 9 hay Quân chủng Hải quân).

Về thời gian, số liệu khảo sát thực địa được thu thập trong giai đoạn 2018 - 2021, thời điểm hoạt động biểu diễn nghệ thuật chịu sự gián đoạn và tác động lớn của đại dịch COVID-19.

Hướng nghiên cứu tiếp theo có thể mở rộng khảo sát trên phạm vi toàn quân, so sánh mô hình quản lý giữa các đoàn văn công quân khu phía Bắc và phía Nam; nghiên cứu sâu hơn về cơ chế tự chủ tài chính một phần gắn với dịch vụ văn hóa nghệ thuật quân đội trong bối cảnh thực hiện các nghị định mới về đơn vị sự nghiệp công lập.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo chuyên khảo hữu ích cho:

  • Cơ quan lãnh đạo, chỉ đạo: Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam, Cục Tuyên huấn, Cục Chính trị các Quân khu, Quân chủng và Ban Giám đốc các Đoàn Văn công Quân đội trong việc hoạch định chính sách, xây dựng kế hoạch biểu diễn và đổi mới quy trình quản lý nhân sự nghệ sĩ.
  • Cơ quan quản lý nhà nước: Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Cục Nghệ thuật biểu diễn trong việc xây dựng văn bản quy phạm pháp luật và hoàn thiện cơ chế phối hợp giữa quản lý nhà nước dân sự và quân sự.
  • Đào tạo và nghiên cứu học thuật: Cán bộ giảng dạy, học viên cao học, nghiên cứu sinh các chuyên ngành Quản lý văn hóa, Lý luận và Lịch sử văn hóa nghệ thuật, Văn hóa học tại các học viện, viện nghiên cứu và trường đại học nghệ thuật; đặc biệt là tại Trường Đại học Văn hóa Nghệ thuật Quân đội và Viện Văn hóa Nghệ thuật quốc gia Việt Nam.

Phần đáng tham khảo nhất là khung phân tích liên ngành, mô hình vận dụng lý thuyết Douglas McGregor và Teresa Amabile vào quản trị nhân lực nghệ thuật đặc thù, cùng hệ thống bảng hỏi điều tra thị hiếu bộ đội được xử lý bằng SPSS.

Câu hỏi thường gặp

1. Phạm vi địa bàn khảo sát của ba đoàn văn công trong luận án được phân định cụ thể như thế nào? Ba đơn vị được chọn có địa bàn đại diện: Đoàn Văn công Quân khu 1 biểu diễn tại các tỉnh miền núi biên giới phía Bắc (Lạng Sơn, Cao Bằng, Bắc Giang, Bắc Kạn, Bắc Ninh, Thái Nguyên); Đoàn Văn công Quân khu 3 biểu diễn tại 9 tỉnh, thành phố đồng bằng và duyên hải phía Bắc (Quảng Ninh, Hải Phòng, Hải Dương, Hưng Yên, Thái Bình, Nam Định, Hà Nam, Ninh Bình, Hòa Bình); Đoàn Văn công Quân chủng Phòng không - Không quân có địa bàn cơ động linh hoạt tại các trạm, chốt radar, sân bay trên toàn quốc từ Bắc vào Nam.

2. Mẫu khảo sát xã hội học của luận án có quy mô và cơ cấu ra sao? Khảo sát được thực hiện trên 495 cán bộ, chiến sĩ tại 10 đơn vị cơ sở thuộc địa bàn đóng quân của 3 đơn vị nghiên cứu, xử lý bằng phần mềm SPSS 22. Mẫu gồm 94,5% nam giới (468 người) và 5,5% nữ giới (27 người). Độ tuổi từ 17 đến 54 tuổi, chia thành 3 nhóm: từ 25 tuổi trở xuống chiếm 39,2% (194 người); từ 26 đến 35 tuổi chiếm 26,7% (132 người); từ 36 tuổi trở lên chiếm 37,1% (169 người).

3. Những cơ sở lý thuyết quản trị nào được tác giả ứng dụng để xây dựng khung phân tích? Tác giả phối hợp ba hệ thống lý thuyết: Thuyết quản trị nhân lực của Douglas McGregor (Thuyết X, Thuyết Y về động lực và sự gắn kết mục tiêu); Lý thuyết thành tố sáng tạo của Teresa Amabile (3 thành tố: chuyên môn, kỹ năng sáng tạo, động cơ nội sinh); và Lý thuyết quản lý hành chính của Henry Fayol (14 nguyên tắc, 6 chức năng) kết hợp với Max Weber (hệ thống chức vụ, quyền hạn và văn bản hóa quy trình).

4. Chỉ thị và Nghị quyết trọng tâm nào của Đảng và Quân đội giữ vai trò định hướng chính trong luận án? Luận án căn cứ vào: Nghị quyết Trung ương 4 khóa VII (1992); Báo cáo Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương 5 khóa VIII (1998); Nghị quyết số 33-NQ/TW ngày 09/6/2014 Hội nghị Trung ương 9 khóa XI; Nghị quyết Đại hội XII của Đảng; và Chỉ thị số 355-CT/QUTW ngày 20/4/2017 của Quân ủy Trung ương về tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo công tác văn hóa, văn học nghệ thuật trong Quân đội giai đoạn hiện nay.

5. Luận án đề xuất mấy nhóm giải pháp nhằm nâng cao chất lượng quản lý hoạt động biểu diễn nghệ thuật? Tác giả đề xuất hệ thống 7 nhóm giải pháp: (1) Tuyên truyền giáo dục nâng cao nhận thức; (2) Đổi mới nội dung, hình thức, phương thức biểu diễn; (3) Đào tạo nguồn nhân lực; (4) Đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị; (5) Tăng cường cơ chế phối hợp, giao lưu hợp tác; (6) Tiếp cận hoạt động marketing trong quảng bá; (7) Hoàn thiện cơ chế, chính sách đặc thù cho nghệ sĩ quân đội.

Kết luận

Luận án của nghiên cứu sinh Phạm Phương Oanh là công trình khoa học chuyên ngành Quản lý văn hóa, phản ánh hệ thống và toàn diện thực trạng quản lý hoạt động biểu diễn nghệ thuật tại các Đoàn Văn công Quân đội giai đoạn 2018 - 2021. Bằng việc kết hợp tiếp cận lý thuyết quản trị hiện đại với các văn bản pháp lý và số liệu khảo sát thực chứng 495 mẫu tại 3 đơn vị đặc thù, luận án đã làm rõ nét riêng của mô hình quản lý văn hóa quân sự. Hệ thống 7 nhóm giải pháp được tác giả đề xuất có tính ứng dụng thực tế, cung cấp cơ sở khoa học để các cấp chỉ huy quân đội và cơ quan quản lý văn hóa đổi mới cơ chế điều hành, đáp ứng yêu cầu xây dựng môi trường văn hóa quân đội trong tình hình mới.