Chương 1. Cơ sở lý luận về nghệ thuật hình thể. Khai thác sử dụng nghệ thuật hình thể của các nghệ sĩ trên sân khấu kịch nói Việt Nam. Luận bàn và xu hướng.
7 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU Trong phần tổng quan tài liệu, để thực hiện nghiên cứu được chuyên sâu NCS sắp xếp tài liệu thành các nhóm như sau: Nhóm 1. Tài liệu nghiên cứu về hoạt động hình thể - ngôn ngữ cơ thể Con người đã sử dụng hoạt động hình thể của mình để tồn tại và phát triển cuộc sống của mình. Hoạt động hình thể là hiện tượng tự nhiên tồn tại dưới dạng vật chất tiềm ẩn đặc biệt phản ánh bản chất sự vật hiện tượng. Con người sử dụng hoạt động hình thể làm ngôn ngữ đầu tiên để giao tiếp.
Sự sáng tạo ra ngôn ngữ nói là một bước tiến của xã hội loài người, kích hoạt sự say mê nghiên cứu sáng tạo rèn luyện để có nghệ thuật nói; lời nói có sức cuốn hút, khiến con người một thời lãng quên ngôn ngữ cơ thể. Tuy nhiên với bản chất vốn có hoạt động hình thể vẫn luôn âm thầm tồn tại hiện hữu trong đời sống của con người với chức năng bày tỏ thái độ phản ánh bản chất mọi sự vật hiện tượng. Những năm 50 thế kỷ 20, loài người nhận ra sức mạnh của ngôn ngữ cơ thể nên nhiều nhà khoa học cùng lúc nghiên cứu về những biểu hiện của chuyển động vật lý trên cơ thể người. Ray Birdwhistell - nhà nhân chủng học người Mỹ là người tiên phong nghiên cứu ngôn ngữ cơ thể, ông tập trung nghiên cứu phương thức truyền đạt thông điệp của các bộ phận cơ thể con người.
“Một ‘cây đại thụ’ khác về ngôn ngữ cơ thể là nhà động vật học, tiến sĩ Desmond Morris đã định nghĩa, điệu bộ là bất kỳ hành động nào gửi tín hiệu trực quan và truyền đạt thông tin tới người xem. Chúng có thể là hành động cố ý hay vô tình” [112, tr. Paul Ekman và Wallace Friesen (Mỹ) đã cùng nhau nghiên cứu những biểu hiện của nét mặt và ý nghĩa của ngôn ngữ cơ thể và phân chia thành năm nhóm lớn: một là ngôn ngữ cơ thể minh họa, hai là ngôn ngữ cơ thể biểu tượng, ba là ngôn ngữ cơ thể phô bày cảm xúc, bốn là ngôn ngữ cơ thể chuyển đổi, năm là ngôn ngữ cơ thể điều chỉnh. Sau này rất nhiều chuyên gia nghiên cứu về ngôn ngữ cơ thể trong số đó phải kể đến: Alan & Barbara là hai chuyên gia về ngôn ngữ cơ thể, họ kết hợp với nhau cho ra đời rất nhiều sách về ngôn ngữ cơ thể, với việc ứng dụng nó trong nhiều lĩnh vực, Lê Huy Tâm đã dịch vài cuốn ra tiếng 8 Việt: “Ngôn ngữ cơ thể trong tình yêu”, “Ngôn ngữ cơ thể ở nơi làm việc”, đặc biệt là “Cuốn sách hoàn hảo về ngôn ngữ cơ thể ”.
Với “Cuốn sách hoàn hảo về ngôn ngữ cơ thể”; Alan & Barbara dành tặng cho những ai có thị lực tốt nhưng không nhìn thấy được bản chất sự việc bằng đôi mắt của mình. Các tác giả đã đưa ra những lý giải về nhu cầu, những diễn biến tâm lý dẫn đến những cử chỉ, điệu bộ của toàn bộ hoạt động hình thể, để mọi người rõ về hoạt động của cơ thể người và những thông điệp do những chuyển động đó đưa ra. Joan Liebmann – Smith & Jacqueline Nardi Egan cho ra đời cuốn: “Những biểu hiện của cơ thể”; Cuốn sách đề cập đến những biểu hiện của cơ thể liên quan đến sức khỏe. Sự mệt mỏi, đau ốm của cơ thể phản ánh qua hoạt động hình thể.
James Borg với cuốn (Body Language “Ngôn ngữ cơ thể, 7 bài học”); James Borg đưa ra 7 bài học để giúp độc giả nhìn nhận lại và cải thiện những hành vi, cử chỉ, tạo ra ngôn ngữ cơ thể chuẩn mực cho bản thân, khiến ngôn ngữ cơ thể được đa dạng, chứa đầy đủ thông điệp cần chuyển tải đến đối tượng giao tiếp. Desmond Morris là một người Anh sinh năm 1928 - nhà nghiên cứu hàng đầu về hành vi con người và động vật với cuốn: (Body Talk - a World guide gestures - “Ngôn ngữ cơ thể - Cẩm nang giải mã cử chỉ và điệu bộ”). Desmond Morris đưa ra hàng nghìn chi tiết hành vi cử chỉ điệu bộ và cung cấp việc giải mã các hành vi cử chỉ, điệu bộ đó của con người và lý giải ý nghĩa, thông điệp, bối cảnh và địa phương có thói quen sử dụng những hành vi cử chỉ điệu bộ đó. Janine Driver & Mariska van Aalst cùng nhau cho ra đời cuốn “Vận dụng ngôn ngữ cơ thể mới”; với kế hoạch sử dụng ngôn ngữ cơ thể mới trong 7 ngày, để đạt được những điều bạn muốn, trong sự quan sát ngôn ngữ cơ thể và ứng dụng nó trong hoạt động đời sống của bạn với những người xung quanh.
Gregory Hartley là một chuyên gia dạy kỹ năng thẩm vấn và chống thẩm vấn trong quân đội Mỹ, ông kết hợp với Maryann Karinch cho ra đời nhiều cuốn sách về hành vi con người. Trong cuốn “Cẩm nang ngôn ngữ cơ thể”, Gregory Hartley và Marynn Carinch chỉ dẫn cho độc giả có cách nhìn thấy và đọc được suy nghĩ, ý định ẩn giấu ở người khác bằng cách quan sát chuyển động vật lý trên toàn bộ 9 cơ thể của con người, để lý giải những thông điệp được phát đi từ những động tác, cử chỉ, điệu bộ để kịp thời ứng xử cho phù hợp. Như vậy, trên thế giới đã có nhiều nhà nghiên cứu chuyên sâu về: hoạt động hình thể - ngôn ngữ cơ thể những thông điệp và tác động của nó trong rất nhiều lĩnh vực trong hiện thực khách quan cuộc sống của con người. Trong mọi lĩnh vực nghệ thuật con người sáng tạo, hoạt động hình thể được nâng lên thành hoạt động nghệ thuật hình thể để làm phương tiện thực hành sáng tạo.
Tại Việt Nam đầu thế kỷ 21 mới xuất hiện những cuốn sách dịch lại những nghiên cứu của các nhà khoa học trên thế giới viết về ngôn ngữ cơ thể con người được xuất bản đầu thế kỷ 20. Sau khi tìm kiếm hệ thống hóa các tài liệu nghiên cứu về hoạt động hình thể, ngôn ngữ cơ thể con người, NCS tiếp tục tìm hiểu nghiên cứu, hệ thống hóa những tài liệu nghiên cứu và phương cách khai thác sử dụng hoạt động hình thể - ngôn ngữ cơ thể của các nghệ sĩ, đạo diễn, diễn viên tiền bối trên sân khấu kịch (drame) phương Tây qua các thời kỳ - nhóm 2 Nhóm 2. Tài liệu nghiên cứu, ứng dụng ngôn ngữ hình thể trên sân khấu kịch phương Tây. Sân khấu kịch (dram) châu Âu, từ khi ra đời đã có một số nghệ sĩ sử dụng “những điệu bộ uốn éo nhào lộn” để nhằm gia tăng thông điệp của mình khi diễn xuất.
Aritxtốt có lời bảo vệ những diễn viên thực hiện tốt nghệ thuật hình thể, trong cuốn Nghệ thuật thi ca, ông viết: “không nên chê bai tất cả điệu bộ - nếu không thì có lẽ đến cả các điệu vũ cũng phải bãi bỏ - chỉ nên chê trách những điệu bộ của diễn viên kém” [85, Tr. Thời điểm đó diễn viên không được cổ súy còn bị chê bai, là vì trong giai đoạn này, khẩu ngữ là phương tiện cơ bản hàng đầu được chú trọng trong nghệ thuật diễn xuất của diễn viên, là bộ phận chính của cách luật của nghệ thuật. Mô-cun-xki, nhà nghiên cứu lịch sử sân khấu nổi tiếng Liên Xô cùng các tác giả đã tổng kết quá trình tồn tại và phát triển của sân khấu kịch các nước qua bộ sách “Lịch sử sân khấu thế giới”, nội dung tác phẩm đề cập rất nhiều vấn đề sân khấu kịch châu Âu… 10 Hoạt động hình thể trong diễn xuất của diễn viên được NCS tóm lược sau: Sân khấu thời kỳ Trung cổ, tồn tại nhiều loại hình sân khấu: Kịch lễ thức; bán lễ thức; sân khấu hiện thực thế tục; kịch kỳ tích; kịch thánh; kịch luân lý; kịch hề. Vào giai đoạn khi mới ra đời, kịch thánh có hình thức biểu diễn câm (gọi là kịch thánh – câm) trong đó các cốt truyện của kịch lễ thức được biểu hiện bằng điệu bộ.
Kịch hề được diễn viên sử dụng hình thể theo ngẫu hứng, “Ở giai đoạn này nghệ thuật kịch chỉ có thể làm nổi bật được nội dung cơ bản bằng cách phóng đại những nét bên ngoài nhấn mạnh ngữ điệu và cường điệu các cử chỉ” [105, tr. Ở giai đoạn này có nhiều hình thức diễn xuất, khẩu ngữ là phương tiện chính để thể hiện nội dung kịch, hoạt động hình thể được diễn viên thực hiện cường điệu, hình thức làm trò, động tác đơn giản có tính nghi thức. Thời đại Phục Hưng, là giai đoạn phát triển rực rỡ của nền văn học kịch châu Âu sản sinh ra nhiều tác phẩm văn học kịch kinh điển bất hủ. Khi đưa lên sân khấu phải đảm bảo được nguyên tác, vì vậy phương tiện biểu diễn cơ bản của diễn viên trên sân khấu kịch là khẩu ngữ - phương tiện cơ bản của nghệ thuật diễn xuất.
Sân khấu kịch châu Âu thời kỳ Khai sáng phát triển rộng khắp, nhiều thể loại kịch cùng phát triển, bên cạnh kịch nói, ca kịch và kịch câm. Kịch câm là một phát minh mới của sân khấu Anh thế kỷ 18, sử dụng hoàn toàn nghệ thuật hình thể. Giai đoạn này trên sân khấu kịch cũng có rất nhiều nhà nghiên cứu, nghệ sĩ quan tâm đến nghệ thuật hình thể, tiêu biểu là Garic - diễn viên chủ trương chú ý đến việc sử dụng nghệ thuật hình thể. Cổ súy cho ông phải nhắc đến nhà vũ đạo Pháp Love, ngoài ra nhà nghiên cứu lý luận sân khấu kịch Điđơrô cũng nhiệt tình ủng hộ: “Garic đọc lời thoại với những ngữ điệu biểu cảm và di động một cách đa dạng, cử chỉ của ông thường biểu cảm hơn cả văn bản.
Ông biểu diễn bằng tất cả con người mình. Nét mặt, hình thể thân người, cử động của tay, bộ tóc, y phục - tất cả được Garic dùng để tạo ra một hình tượng sân khấu chân thực”. Tuy nhiên, những nhà viết kịch đương thời vẫn luôn tuân thủ triết lý “nhà viết kịch của chúng ta chỉ có một phương tiện duy nhất để viết nên tác phẩm, đó là ngôn từ” [55, tr.15], với đặc trưng cơ bản của kịch là lời thoại, lý luận cơ bản 11 của kịch và việc thực hiện nghệ thuật nói vẫn là những điều mà các nghệ sĩ biểu diễn cần nhất để thỏa mãn đôi tai của khán giả đương thời.