Chương 1: Cơ sở ly luận và thực tiễn Chương 2: Bao lực và hòa giải Chương 3: Tính nước đôi trong căn tính của người da đen CHUONG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIEN 1.1 Khái lược về căn tính 1.1 Tộc người và căn tính tộc người Căn tính (tiếng Anh: identity; tiếng Việt: căn tính, bản sắc, căn cước) tộc người được nhiều ngành khoa học khác nhau quan tâm nên chúng ta khó có thể xác lập nó một cách vững chắc. Các nhà nhân chủng học, xã hội học, dân tộc học, sử học, văn học, ngôn ngữ học, dia lý học. đều có lĩnh vực riêng của mình. Tranh luận xung quanh câu chuyện về căn tính đã xuất hiện trong truyền thông triết học từ xa xưa như việc đưa ra các khái niệm bản chất.
Trong bài viết Tộc người và tính tộc người Kolpakov E.M có viết: "Tộc người được hiểu là một loại hình cộng đồng người. Còn tiếp sau đó cần thiết phải vạch ra những dấu hiệu đề phân biệt nó với mọi cộng đồng khác của con người. Làm được điều này cũng thật vô cùng khó khăn mặc dù sự ton tại, hiện hữu tộc người trong hiện thực thật hiển nhiên” [8, tr.127] Con người tạo ra rất nhiều những nhóm hay cộng đồng khác nhau trong đó có thể phân ra các loại: bền vững va tạm thời, xuất hiện có tính chất lịch sử - tự nhiên hoặc do con người hình thành nên vì những mục đích nào đó, theo lãnh thé va do quyền ngoại giao,. Cùng một người có thé thuộc về những cộng đồng khác nhau - gia đình hay dòng họ, công xã lãnh thổ hay tôn giáo, hội nghề nghiệp hay đảng phái, tộc người hay quốc gia.
Theo quan điểm của Hannah Arendt, xã hội của một quốc gia trong thé giới hiện đại là thế giới hỗn hợp kỳ lạ, nơi lợi ích cá nhân có nghĩa chung. Cộng đồng này mang tính nước đôi và văn hóa mang tính tạm thời. Ý thức xã hội phù hợp với từng phần của quá trình hình thành cộng đồng, nhà nước, dân tộc. Van đề nằm ở cách diễn giải, cách người ta kiến tạo trường ý nghĩa va biêu tượng găn liên với đời sông dân tộc.
Quôc gia với tư cách là một hình 10 thức xây dựng van hóa, một cơ quan tường thuật nước đôi giữ văn hóa ở vi trí hiệu quả nhất của nó như một lực lượng dé phục tùng (subordination), bẻ gãy (fracturing) và khuếch tán (diffusing). Văn hóa dân tộc có tính cục bộ khi không thống nhất, không đơn nhất. Bản thân nó luôn phải đối mặt với quá trình lai ghép, kết hợp. Có nhiều tiêu chí để xem xét về tộc người.
Đó là ngôn ngữ, lãnh thổ, cơ sở kinh tế, các đặc trưng sinh hoạt văn hóa và ý thức tự giác tộc người. Tất cả các yếu tố này tồn tại trong đặc tính của bất kỳ tộc người nào. Trong đó, ý thức tự giác tộc người là điều quan trọng. Ý thức đó nhất định phải được phải được xem xét trong việc xác định tộc thuộc của mỗi cá nhân hay cả một nhóm người nghĩa là trong việc xác định họ thuộc thành phần của tộc người này hay tộc người khác.
Hai người cùng thuộc một một nền văn hóa, một tộc người có nghĩa là họ dién giải thế giới theo những cách gần giống nhau. Họ có thé bay tỏ bản thân, suy nghĩ và cảm xúc của mình về thế giới theo cách người kia hiểu. Văn hóa phụ thuộc vào việc nhiều người tham gia giải thích những gì đang diễn ra xung quanh họ và “tạo ra ý nghĩa” (make sense) về thế giới theo cách tương tự nhau. Sản phẩm biểu dat đáng chú ý nhất là hoạt động của ngôn ngữ.
Ngôn ngữ cấu thành các đối tượng vật chất và thực tiễn xã hội có ý nghĩa và dễ hiểu. Căn tính tộc người là do hiện tượng nhóm, được tạo nên như là truyền thống tập thé được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, phương tiện dé xã hội hóa cá nhân trong khuôn khổ nhóm có cùng xuất xứ với nó. Nhờ tác động của tính tộc người, con người trở thành yếu tổ vi tộc người, đồng nhất cá nhân. Tuy nhiên “con người tộc người” — đó chỉ là một trong số những kẻ sắm vai không nhất thiết là vai chính của “con người xã hội”.
Con người nhận thức mình là bộ phận của cộng đồng (hoặc là những cái gì đó trong cộng đồng 11 này). Căn tính tộc người thấm sâu vào bất cứ phạm vi nào của đời sống con người nếu tạo ra ảo tưởng răng chúng là bộ phận của chính tính tộc người, rằng chính tính tộc người đó tập hợp, liên kết tất cả mọi quan hệ xã hội, tồn tại xã hội. Stuart Hall từng đưa ra khái niệm về “chủ thé xã hội hoc” (sociological subject) dé chỉ ra rằng bản thân bị phân mảnh, có những căn tính thay đổi đôi khi trái ngược nhau. Xã hội và cá nhân cau thành lẫn nhau.
Nội tâm hóa các giá trị và vai xã hội thông qua các tiếp biến văn hóa sẽ ôn định cá nhân và đảm bảo rằng họ “phù hợp” (fit) với cấu trúc xã hội. Điều này được hình thành bằng cách tương tác giữa thế giới bên trong và thế giới bên ngoài thông qua các quá trình như khen ngợi, trừng phạt, bắt chước. Chúng ta được hình thành từ các giá trị, ý nghĩa và biểu tượng của nền văn hóa. Chúng ta luôn phải cân đối giữa cái tôi bên trong (inner self) và cái tôi bên ngoài (outer self), căn tính cá nhân (self-identity) va căn tính xã hội (social identity).
Việc tường thuật về bản thân (narrative of the self) khiến chúng ta cảm thấy mình có căn tính thống nhất. Sự thống nhất này được mô tả tốt hơn như sự ăn khớp giữa những điều khác biệt. Căn tính mà nền văn hóa xem là thống nhất vĩnh cửu có thé được coi là sự 6n định cụ thé, duy nhất về mặt lịch sử hoặc khép kín ý nghĩa một cách tùy tiện. Cái mà chúng ta gọi là "căn tính", "bản sắc" Ở đây được hiểu là một sản phẩm, một sự tạm thời.
Có sự thay thé không ngừng và bổ sung thông qua việc sử dụng các dấu hiệu thách thức sự đồng nhất của những dấu hiệu với ý nghĩa cố định. Điều đó khiến giai cấp (class), xã hội (society), căn tính (identities),. không còn được quan niệm là các đối tượng đơn nhất với ý nghĩa cố định. Vai trò của ý thức hệ và các thực hành bá quyền là dé có gắng khắc phục sự khác biệt, khép lại ý nghĩa không 6n định của các kí hiệu trong lĩnh vực diễn ngôn.
12 Do tính “trừu tượng” của mình trong hệ thống các mối quan hệ nhân — quả và đồng thời do bản chất có ở mọi noi, tính tộc người thực sự có thé được xây dựng bang các biện pháp thuần túy tư tưởng, nói chính xác hơn thì đó là tính gần tộc người. “Mọi người không phải đơn giản sống cùng nhau đơn giản chỉ là để được cùng nhau. Họ sống cùng nhau là để cùng nhau làm gì đó” (Ortegi-i-Gasset) [9, tr. Bởi vậy, tính tộc người vừa ôn định vừa mang tính kiến tạo.2 Căn tinh và quyền lực Khái niệm "căn tính" trở thành phạm trù trung tâm của các nghiên cứu trong những năm 1990.
Đối với nghiên cứu văn hóa, "căn tính" là một công trình xây dựng văn hóa bởi các nguồn diễn ngôn hình thành chat liệu cho việc hình thành căn tính đều mang tính văn hóa. Chúng ta được cấu thành với tư cách cá nhân trong một quá trình xã hội thường được hiểu là sự tiếp biến văn hóa. "Căn tính" còn được hiểu như là diễn ngôn - biểu diễn (discursive- performative). "Căn tính" là một thực hành diễn ngôn ban hành hoặc tạo ra cái mà nó đặt trên thông qua trích dẫn hoặc nhắc lại quy ước, quy tắc.
Khái niệm về "căn tính" được triển khai sâu hơn nhăm liên kết cảm xúc bên trong (inside) với con người bên ngoài (outside). Kho tàng văn hóa đại chúng phương Tây cho rằng chúng ta có một con người thật (true-self) và một căn tính được sở hữu. Ở đây, căn tính được coi là cốt lõi, phố quát và vượt thời gian. Nó là thứ chúng ta thể hiện và người khác có thé nhận ra thông qua các dấu hiệu của sở thích, niềm tin, thái độ, lối sống.
Nhưng các nhà nghiên cứu văn hóa lập luận rang "căn tính" không phải thứ cỗ định. Nó linh hoạt, có thé thay đổi tùy thuộc vào sự kết hợp xã hội và văn hóa cụ thé. Quan điểm chống Chủ nghĩa Phi bản chất (Non-essentialism) được áp dụng rộng rãi trong các nghiên cứu văn hóa nhắn mạnh "căn tính" là một quá trình được xây dựng từ những điểm tương đồng và khác biệt. Do đó, nó 13 không phải bản chất mà là một mô tả liên tục thay đổi về bản thân.
Bởi vậy "căn tính" được bổ sung hoặc không ngừng khác biệt. Vì ý nghĩa không bao giờ kết thúc hoặc hoàn thành nên "căn tính" đại điện cho một lát cắt hoặc chụp ảnh nhanh các ý nghĩa đang mở ra. Lập luận này chỉ ra "căn tính" với tư cách là "sự sản xuất" và khả năng có nhiều căn tính thay đổi và phân mảnh được kết nối với nhau theo nhiều cách khác nhau. Các nghiên cứu về văn hóa đã chấp nhận ý tưởng rang "căn tính" là mâu thuẫn và cắt ngang hoặc có thê trật khớp lẫn nhau.
Không có "căn tính đơn lẻ nào" đóng vai trò là danh tính tong thé. Theo Ernesto Laclau, Stuart Hall nhận thay sự không cần thiết của mối liên hệ giữa các diễn ngôn hình thành nên chúng ta. Nói đúng hơn là các mối liên hệ mang tính ý nghĩa hoặc gợi hình được rèn rũa thông qua phong tục va thực tiễn lich sử. Không có sự kết nối tự động giữa các diễn ngôn khác nhau về căn tính (tầng lớp, tuổi tác, giới tính, chủng tộc.
Hall cho rằng một “khớp nối” (articulation) không bắt buộc phải tạo nên sự thống nhất giữa hai yếu tố khác nhau trong những điều kiện cụ thé. Các cá nhân có thé được hiểu là sự khớp nối độc đáo về mặt lich sử của các yêu tố diễn ngôn mang tinh ngẫu nhiên nhưng được xác định hoặc quy định về mặt xã hội. Do đó, người ta không cần phải chia sẻ chung một danh tính và thông tin nhận dạng. Chúng ta không bao giờ có thê nói chúng ta thực sự là ai, chúng ta chỉ có thể tiếp tục tạo ra những gì chúng ta cho là tốt hơn, hữu ích hơn cho những mô tả về bản thân.