Tổng quan luận án

Đề tài luận án tiến sĩ: "Sự chuyển đổi từ ngôn ngữ văn học sang ngôn ngữ điện ảnh (Qua một số tác phẩm cụ thể)". Luận án được thực hiện thuộc chuyên ngành Ngôn ngữ học, tiếp cận đối tượng nghiên cứu theo hướng liên ngành giữa ngôn ngữ học, tín hiệu học, lí luận văn học và lí luận điện ảnh.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Trong đời sống giao tiếp của con người, ngôn ngữ nói và viết giữ vai trò quan trọng, song các phương tiện phi ngôn từ cũng chiếm tỷ trọng tác động lớn trong cấu trúc thông điệp (lời nói chiếm 7%, thanh âm chiếm 38%, ngôn ngữ không lời chiếm 55% theo nghiên cứu của Albert Mehrabian). Sự phát triển của công nghệ truyền thông hiện đại đã mở rộng các kênh giao tiếp hình ảnh và âm thanh, đòi hỏi ngành ngôn ngữ học phải mở rộng biên độ nghiên cứu sang các hệ thống tín hiệu nghệ thuật khác.

Hiện tượng chuyển thể tác phẩm văn học sang phim truyện điện ảnh diễn ra phổ biến từ khi nghệ thuật điện ảnh ra đời. Mặc dù trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu về tín hiệu học điện ảnh và chuyển dịch liên tín hiệu, nhưng tại Việt Nam trước thời điểm thực hiện đề tài, chưa có công trình khoa học nào tiếp cận, so sánh các loại hình ngôn ngữ nghệ thuật và hoạt động giao tiếp nghệ thuật một cách hệ thống theo hướng liên ngành. Luận án được triển khai nhằm giải quyết khoảng trống học thuật này.

Mục tiêu nghiên cứu

Luận án xác định ba mục tiêu nghiên cứu cụ thể:

  1. Làm rõ những xu hướng chuyển đổi ở phương diện ngôn ngữ khi hoạt động giao tiếp văn học chuyển tiếp sang hoạt động giao tiếp điện ảnh / văn bản văn học được chuyển thể sang phim truyện điện ảnh.
  2. Làm rõ những yếu tố trong hệ thống giao tiếp chi phối đến những xu hướng chuyển đổi từ ngôn ngữ văn học sang ngôn ngữ điện ảnh.
  3. Củng cố, làm rõ thêm đường hướng tiếp cận một vấn đề thuộc khoa học ngôn ngữ từ góc độ liên ngành.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Ngôn ngữ văn học và ngôn ngữ điện ảnh trong sự chuyển tiếp từ hoạt động giao tiếp văn học sang hoạt động giao tiếp điện ảnh.
  • Phạm vi nội dung: Tác giả không khảo sát toàn bộ từng câu chữ do sự bất tương đương về đơn vị cú pháp giữa văn học và điện ảnh, mà tập trung vào hai nhóm loại tín hiệu trọng tâm:
    • Hệ thống tín hiệu - biểu tượng: Khảo sát sự chuyển đổi từ mã tín hiệu ngôn từ nghệ thuật (dạng viết) sang mã tín hiệu hình ảnh điện ảnh.
    • Ngôn ngữ đối thoại: Khảo sát sự chuyển đổi từ ngôn ngữ đối thoại dạng viết trong văn học sang ngôn ngữ đối thoại dạng âm thanh (lời nói) trong phim truyện điện ảnh.
  • Phạm vi thể loại: Tập trung vào văn bản truyện kể văn học (tiểu thuyết và truyện ngắn) Việt Nam và các phim truyện điện ảnh chuyển thể tương ứng. Căn cứ lựa chọn dựa trên kết quả khảo sát cho thấy 97% tác phẩm văn học Việt Nam được chuyển thể sang phim truyện điện ảnh là tiểu thuyết và truyện ngắn.
  • Phạm vi thời gian và ngữ liệu: Khảo sát các tác phẩm trong giai đoạn 10 năm phát triển của điện ảnh Việt Nam tính từ năm 1995 (thời điểm phim Thương nhớ đồng quê phát hành) đến năm 2014 (thời điểm tiến hành khảo sát ngữ liệu). Ngữ liệu gồm 12 cặp văn bản truyện kể văn học nguồn và phim truyện điện ảnh chuyển thể có chất lượng nghệ thuật cao (đạt giải thưởng) hoặc thu hút dư luận xã hội.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Các hướng nghiên cứu trên thế giới

Tác giả đã điểm lại hệ thống tài liệu quốc tế theo hai nhánh nghiên cứu chính:

  1. Nghiên cứu về chuyển đổi ngôn ngữ nói chung:

    • Cấp độ từ và mã tín hiệu: Roman Jakobson (1959) chỉ ra tính bất tương đương trọn vẹn giữa các đơn vị mã và yêu cầu chuyển đổi toàn bộ thông điệp; John Dryden (1680) phân chia ba lối dịch (dịch từng chữ, dịch thoát ý, phỏng dịch); Jean Paul Vinay và Jean Darbelnet (1958) phân lập 7 lối chuyển dịch (vay mượn, sao lại nguyên văn, chuyển dịch nguyên văn, chuyển đổi từ loại, biến thái, tương đương, thích ứng).
    • Cấp độ câu và ngữ pháp: Eugene Nida (1964) ứng dụng mô hình ngữ pháp tạo sinh của Noam Chomsky để phân tích cấu trúc bề mặt và cấu trúc sâu trong việc chuyển giao thông điệp.
    • Cấp độ văn bản và chức năng: Katharina Reiss (1977) phân loại văn bản theo ba chức năng (thông tin, diễn cảm, vận động) gắn với phương pháp dịch tương ứng; Werner Koller (1979) đề xuất các tham biến cân nhắc khi chuyển đổi văn bản; Basil Hatim và Ian Mason (1990), Mona Baker (1992) vận dụng lý thuyết chức năng hệ thống của Michael Halliday để khảo sát ba biến số (field, tenor, mode) tương ứng với ba siêu chức năng (ý niệm, liên nhân, tạo văn bản); Kitty M. van Leuven-Zwart (1989) thiết lập mô hình miêu tả và so sánh vi/vĩ cấu trúc; André Lefevere (1992) nghiên cứu nhân tố văn hóa, quyền lực và ý thức hệ chi phối người dịch.
  2. Nghiên cứu về chuyển đổi từ ngôn ngữ văn học sang ngôn ngữ điện ảnh:

    • Hướng tiếp cận dịch dịch liên tín hiệu (intersemiotic translation): Dựa trên lý thuyết của Roman Jakobson, các tác giả Corinne Lhermite (2005), Rachel Weissbrod (2006), Irini Stathi (2015), Jyotsna Krishnan (2015), Olga A. Leontovich (2015), Sholeh Kolahi và Solmaz Mahdavi đã phân tích tần suất mã điện ảnh, chủ ý sáng tạo của đạo diễn và ý nghĩa văn hóa của mã tín hiệu.
    • Hướng tiếp cận lý thuyết liên văn bản (intertextuality): Robert Stam (2000), Linda Hutcheon (2006), Thomas Leitch (2012) khảo sát các biến đổi liên văn bản (pastiche, twisting, borrowing, commentary, collage).
    • Hướng tiếp cận đối sánh giao tiếp: Zachar Alexander Laskewicz (2008) phân tích tính chất chủ động của việc đọc văn học đối lập với tính chất tiếp nhận nghe nhìn trong điện ảnh; Linda Catarina Gualda (2010) phân định sự khác biệt giữa hình ảnh gợi mở qua trí tưởng tượng trong văn học và hình ảnh mô phỏng trực quan trong điện ảnh. Ngoài ra, các tác phẩm nền tảng về tín hiệu học nghệ thuật được điểm lại gồm: John Berger (1972), Yuri Mikhailovich Lotman (1971/1977, 1976), Roland Barthes (1977), Marcel Danesi (2004), Gunther Kress và Theo van Leeuwen (2006), Peggy Albers (2008).

Các hướng nghiên cứu tại Việt Nam

Tại Việt Nam, các nghiên cứu liên quan được phân bố ở các lĩnh vực:

  • Ngôn ngữ học chuyển đổi: Nguyễn Lai (1996) khảo sát sự chuyển hóa từ mã ngôn ngữ sang mã hình tượng; Trương Viên (2003) nghiên cứu uyển ngữ tiếng Anh sang tiếng Việt; Hà Thị Bích Liên (2009) nghiên cứu hình thức và ý nghĩa thể câu.
  • Lí luận điện ảnh: Nguyễn Mạnh Lân, Trần Duy Hinh, Trần Trung Nhàn (2002) nghiên cứu mối quan hệ giữa văn học dân gian và nghệ thuật tạo hình điện ảnh; Phan Thị Bích Hà (2005) nghiên cứu ảnh hưởng của văn học nghệ thuật truyền thống đến ngôn ngữ phim truyện.
  • Lí luận văn học về chuyển thể: Nguyễn Nam (2006), Lê Thị Dương (2012, 2015), Phan Bích Thủy (2014), Đào Lê Na (2015) nghiên cứu mối quan hệ chuyển thể giữa truyện và phim ở các phương diện cốt truyện, nhân vật, tính trung thực của nguyên tác.
  • Nghiên cứu tín hiệu thẩm mỹ và phong cách: Đỗ Hữu Châu (1990) nghiên cứu tính đồng nghĩa của tín hiệu thẩm mỹ giữa các loại hình nghệ thuật; Nguyễn Hữu Đạt (2011), Bùi Minh Toán (2012) bàn về sự chuyển hóa phong cách giữa các loại hình nghệ thuật.
  • Nghiên cứu so sánh chuyên biệt: Đỗ Phương Thảo với khóa luận tốt nghiệp (2007) so sánh hệ thống hình ảnh biểu trưng qua các tác phẩm của Nguyễn Tuân, Sơn Nam, Nguyễn Huy Thiệp và luận văn thạc sĩ (2009) nghiên cứu đặc trưng đối thoại qua tác phẩm của Nguyễn Huy Thiệp và phim chuyển thể.

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết

Các công trình tại Việt Nam chủ yếu tiếp cận việc chuyển thể từ góc độ lí luận văn học hoặc lí luận điện ảnh, chưa có công trình nào khảo sát toàn diện quá trình chuyển đổi từ ngôn ngữ văn học sang ngôn ngữ điện ảnh dưới góc nhìn ngôn ngữ học liên ngành và lý thuyết tín hiệu học. Luận án giải quyết khoảng trống này bằng cách phân tích hệ thống mã tín hiệu ngôn từ (biểu tượng từ ngữ, lời thoại viết) và sự dịch chuyển sang mã tín hiệu nghe nhìn (biểu tượng hình ảnh, lời thoại âm thanh) trên một hệ ngữ liệu xác thực gồm 12 cặp tác phẩm.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và khái niệm sử dụng

Luận án xây dựng khung phân tích dựa trên các lý thuyết nền tảng:

  • Lý thuyết tín hiệu học (Semiotics):
    • Mô hình nhị phân của Ferdinand de Saussure: Khái niệm cái biểu đạt (signifiant / sound image) và cái được biểu đạt (signifié / concept), tính hình tuyến của ngôn ngữ và tính võ đoán của tín hiệu.
    • Mô hình tam diện của Charles Sanders Peirce: Cái đại diện (Representamen), Biểu ý (Interpretant), Khách thể (Object); phân loại ba dạng tín hiệu gồm Biểu hiệu (Symbol - quy ước), Hình hiệu (Icon - tương đồng trực quan), Chỉ hiệu (Index - quan hệ chỉ dẫn/nhân quả).
    • Mô hình cấu trúc phân tầng của Louis Hjelmslev và Roland Barthes (1972): Phân biệt hệ thống tín hiệu thứ nhất (hệ thống biểu thị / denotation) và hệ thống tín hiệu thứ hai (hệ thống hàm nghĩa / connotation / tín hiệu huyền thoại).
  • Khái niệm ngôn ngữ và ngôn ngữ nghệ thuật: Tiếp thu định nghĩa của Ferdinand de Saussure và Yuri Mikhailovich Lotman (hệ thống ngôn ngữ tự nhiên, nhân tạo, thứ sinh). Luận án xác định ngôn ngữ văn học là hệ thống tín hiệu ngôn từ hàm biểu mang tính hình tuyến, phi vật thể và đa nghĩa; ngôn ngữ điện ảnh là hệ thống tín hiệu tích hợp đa kênh giữa hình ảnh (màu sắc, ánh sáng, góc máy, cỡ cảnh, động tác máy, cử chỉ) và âm thanh (tiếng động, âm nhạc, lời thoại).
  • Lý thuyết về biểu tượng nghệ thuật: Tiếp thu quan điểm của Jean Chevalier, Claude Lévi-Strauss, Sigmund Freud (1899), Carl Gustav Jung (nguyên mẫu archetypes, vô thức cộng đồng) và G.W.F. Hegel. Biểu tượng nghệ thuật được xem là biến thể loại hình của biểu tượng văn hóa; sự vận động ngữ nghĩa của biểu tượng diễn ra qua độ chênh giữa cái biểu đạt và cái được biểu đạt (Stephen Ullmann), qua quan hệ kết hợp trên trục ngữ đoạn và quan hệ lựa chọn/đối lập trên trục hệ hình.
  • Lý thuyết về ngôn ngữ đối thoại: Khái niệm cấu trúc cuộc hội thoại (cặp trao đáp, bước thoại/lượt lời, hành động nói); nguyên tắc cộng tác của Herbert Paul Grice gồm bốn phương châm (lượng, chất, quan hệ, cách thức) và cơ chế hàm ý hội thoại; các chức năng đối thoại theo Mikhail Bakhtin (cá thể hóa tính cách nhân vật, thông tin - miêu tả, dẫn dắt và tổ chức câu chuyện, quan hệ liên cá nhân).
  • Lý thuyết chuyển đổi ngôn ngữ: Mô hình chuyển dịch liên tín hiệu của Roman Jakobson và quy trình giải mã (decoding) - tái mã hóa (encoding) theo Eugene Nida.

So sánh đặc trưng hai hệ thống ngôn ngữ

Luận án tổng hợp bảng đối sánh hệ thống giữa ngôn ngữ văn học và ngôn ngữ điện ảnh:

Tiêu chí Ngôn ngữ văn học Ngôn ngữ điện ảnh
Điểm tương đồng - Ngôn ngữ nghệ thuật, phương tiện biểu đạt là hệ thống tín hiệu ngôn ngữ hàm biểu.
- Có tính thẩm mĩ và tính đa nghĩa (đa trị).
- Ngôn ngữ nghệ thuật, phương tiện biểu đạt là hệ thống tín hiệu ngôn ngữ hàm biểu.
- Có tính thẩm mĩ và tính đa nghĩa (đa trị).
Hệ thống tín hiệu Chỉ gồm hệ thống tín hiệu ngôn từ (chữ viết/âm thanh ngôn ngữ). Gồm hệ thống phức hợp tín hiệu hình ảnh điện ảnh và âm thanh (lời thoại, âm nhạc, tiếng động).
Cấu trúc tuyến tính Mang tính hình tuyến nghiêm ngặt. Vừa có tính hình tuyến (âm thanh, dòng thời gian), vừa phi hình tuyến (không gian khuôn hình).
Bản chất biểu đạt Tính hình tượng phi vật thể (tâm lí, cảm quan). Tính trực quan, cụ thể hóa vật thể trên màn ảnh.
Cơ chế gợi nghĩa Tín hiệu ngôn từ gợi lên (evoke), chỉ chiếu đến một vật/ý niệm. Tín hiệu hình ảnh trình chiếu (show), chiếu đến một hoặc một chuỗi sự vật cụ thể.
Phương thức tạo hình Miêu tả hình ảnh qua ngôn từ. Tái tạo trực tiếp hình ảnh qua công cụ tạo hình nghe nhìn.

Phương pháp nghiên cứu

Luận án sử dụng phương pháp nghiên cứu liên ngành kết hợp:

  1. Phương pháp nghiên cứu định lượng: Sử dụng thủ pháp thống kê nhằm xác định số lượng biểu tượng và lời đối thoại được chuyển đổi, không được chuyển đổi, hoặc sáng tạo mới trong phim chuyển thể so với văn bản nguồn; lập các bảng dữ liệu đối ứng và vẽ biểu đồ so sánh.
  2. Phương pháp miêu tả: Sử dụng các thủ pháp phân loại, phân tích ngôn cảnh và phân tích nghĩa tố nhằm làm rõ các thuộc tính ngữ nghĩa, ngữ pháp của tín hiệu biểu tượng và cấu trúc lời thoại khi chuyển đổi môi trường giao tiếp.
  3. Thủ pháp so sánh đối chiếu: Xác định cơ sở so sánh dựa trên các nhóm tiêu chí (có/không có, biến đổi/không biến đổi) và giải thích tài liệu nhằm phát hiện quy luật tương đồng và khác biệt giữa hai mã ngôn ngữ.

Nguồn tư liệu và ngữ liệu nghiên cứu

Ngữ liệu khảo sát gồm 12 cặp tác phẩm văn bản truyện kể văn học (VBTKVH) và phim truyện điện ảnh (PTĐA) chuyển thể tại Việt Nam giai đoạn 1995–2014:

STT Văn bản truyện kể văn học nguồn (VBTKVH) Phim truyện điện ảnh chuyển thể (PTĐA)
1 Thương nhớ đồng quê (1992, truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp) Thương nhớ đồng quê (1995, Đạo diễn Đặng Nhật Minh)
2 Những người thợ xẻ (1989, truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp) Những người thợ xẻ (1999, Đạo diễn Vương Đức)
3 Ba người trên sân ga (1990, truyện ngắn của Hữu Phương) Đời cát (1999, Đạo diễn Nguyễn Thanh Vân)
4 Bến không chồng (1990, tiểu thuyết của Dương Hướng) Bến không chồng (2000, Đạo diễn Lưu Trọng Ninh)
5 Ngôi nhà xưa (1992, truyện ngắn của Đặng Nhật Minh) Mùa ổi (2001, Đạo diễn Đặng Nhật Minh)
6 Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành (1983, truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu) Người đàn bà mộng du (2003, Đạo diễn Nguyễn Thanh Vân)
7 Mùa len trâu & Một cuộc biển dâu (1962, hai truyện ngắn của Sơn Nam) Mùa len trâu (2005, Đạo diễn Nguyễn Võ Nghiêm Minh)
8 Tiếng đàn môi sau bờ rào đá (1999, truyện ngắn của Đỗ Bích Thúy) Chuyện của Pao (2006, Đạo diễn Ngô Quang Hải)
9 Trăng nơi đáy giếng (2001, truyện ngắn của Trần Thùy Mai) Trăng nơi đáy giếng (2008, Đạo diễn Nguyễn Vinh Sơn)
10 Mười ba bến nước (2004, truyện ngắn của Sương Nguyệt Minh) Mười ba bến nước (2008, Đạo diễn Đặng Thái Huyền)
11 Cánh đồng bất tận (2005, truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư) Cánh đồng bất tận (2010, Đạo diễn Nguyễn Phan Quang Bình)
12 Phiên bản (2009, tiểu thuyết của Nguyễn Đình Tú) Hương Ga (2014, Đạo diễn Cường Ngô)

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÍ THUYẾT CỦA ĐỀ TÀI

Chương 1 thiết lập nền tảng lý luận toàn diện cho đề tài:

  • Hệ thống hóa các khuynh hướng nghiên cứu về chuyển đổi ngôn ngữ và chuyển thể điện ảnh trên thế giới và ở Việt Nam, xác định cách tiếp cận liên ngành của luận án.
  • Làm rõ nội hàm khái niệm ngôn ngữ học và tín hiệu học: Saussure (mô hình nhị diện), Peirce (mô hình tam diện và phân loại biểu hiệu/hình hiệu/chỉ hiệu), Hjelmslev và Barthes (cấu trúc phân tầng biểu thị và hàm nghĩa), Lotman (ngôn ngữ thứ sinh).
  • Phân tích bản chất, đặc trưng của ngôn ngữ văn học và ngôn ngữ điện ảnh; xác lập bảng đối sánh giữa hai loại hình phương tiện biểu đạt nghệ thuật.
  • Xây dựng cơ sở lý thuyết về biểu tượng nghệ thuật (sự chuyển hóa từ biểu tượng văn hóa sang biểu tượng nghệ thuật, biến đổi ngữ nghĩa trên trục ngữ đoạn và trục hệ hình), ngôn ngữ đối thoại (cấu trúc hội thoại, các phương châm Grice, chức năng cá thể hóa/liên nhân theo Bakhtin) và bản chất giải mã - tái mã hóa trong chuyển đổi ngôn ngữ.

Chương 2: SỰ CHUYỂN ĐỔI TỪ BIỂU TƯỢNG TRONG VĂN BẢN TRUYỆN KỂ VĂN HỌC SANG BIỂU TƯỢNG TRONG PHIM TRUYỆN ĐIỆN ẢNH

Chương 2 tập trung phân tích sự chuyển dịch từ các từ - biểu tượng ngôn từ sang các biểu tượng hình ảnh điện ảnh:

  • Khảo sát định lượng: Thiết lập hệ thống thống kê, đối ứng các biểu tượng giữa văn bản nguồn và phim chuyển thể (Bảng 2.1 và Bảng 2.2).
  • Miêu tả xu hướng chuyển đổi biểu đạt và ý nghĩa:
    • Phương diện biểu đạt: Tín hiệu ngôn từ dạng viết được chuyển hóa thành các khuôn hình điện ảnh thông qua các phương tiện tạo hình (cận cảnh, trung cảnh, toàn cảnh, đại cảnh, góc máy cao/thấp, động tác lia máy).
    • Phương diện cái được biểu đạt (ý nghĩa): Phân loại thành ba hướng chuyển dịch nghĩa cơ bản: (1) Chuyển dịch tương đương về nghĩa; (2) Chuyển dịch theo hướng thu hẹp ý nghĩa; (3) Chuyển dịch theo hướng mở rộng, phát triển thêm ý nghĩa.
  • Phân tích các trường hợp thực chứng tiêu biểu:
    • Trong Thương nhớ đồng quê: Phân tích cận cảnh máu từ tay bà Thoa nhỏ xuống mắt cá trên thớt, hình ảnh lưng trần, cận cảnh quái thai đặt trên bè chuối thả trôi sông, cận cảnh bàn tay Thủy cầm quả ổi chín đưa ra trước ánh mắt vô cảm của Hòa.
    • Trong Bến không chồng: Phân tích chuỗi hình ảnh bà Hơn cầm gà mái ghẹo gà trống của ông Vạn, hình ảnh bến nước làng Đông gắn với phụ nữ và chi tiết Nguyễn Vạn treo cổ tự vẫn ở bến không chồng.
    • Trong Hương Ga (chuyển thể từ Phiên bản): Phân tích trường đoạn nhân vật Diệu cầm chổi lửa xông vào đánh nhau, phang vào mặt Tuấn "chợ" và đốt phá chợ.
    • Trong Mùa len trâu (chuyển thể từ Mùa len trâu và Một cuộc biển dâu): Phân tích cảnh mưa thối đất, nước mênh mông, trâu và gà chết trong nước, Kìm vượt nước len trâu, xác bà Hai treo trên cành cây xóc chéo và rỏ từng giọt tan vào nước.
    • Trong Người đàn bà mộng du: Phân tích góc máy lia từ chiếc nón đầy hoa tương tư rơi xuống thi thể Lĩnh và hình ảnh con khỉ con phủ phục bên cạnh.
    • Trong Đời cát (chuyển thể từ Ba người trên sân ga): Phân tích biểu tượng dòng sông, con thuyền, hình ảnh Sao ngồi buông chèo và Lãng đứng ngóng vọng qua hai bờ sông.
  • Lí giải nguyên nhân chuyển đổi:
    • Sự bất tương đồng ở mã ngôn ngữ: Sự khác biệt giữa mã ngôn từ (trừu tượng, hình tuyến, khơi gợi liên tưởng) và mã hình ảnh điện ảnh (trực quan, đồng hiện đa chiều, cụ thể hóa vật chất).
    • Sự bất tương đồng ở thông điệp: Do sự điều chỉnh cấu trúc chủ đề tư tưởng giữa tác phẩm văn học nguồn và phim chuyển thể (thể hiện qua các sơ đồ cấu trúc nghĩa chủ đề).
    • Sự bất tương đồng ở chủ thể sáng tạo: Dấu ấn phong cách, tư duy nghệ thuật và quan điểm thẩm mỹ của đạo diễn so với nhà văn.

Chương 3: SỰ CHUYỂN ĐỔI TỪ NGÔN NGỮ ĐỐI THOẠI TRONG VĂN BẢN TRUYỆN KỂ VĂN HỌC SANG NGÔN NGỮ ĐỐI THOẠI TRONG PHIM TRUYỆN ĐIỆN ẢNH

Chương 3 khảo sát sự vận động của lời đối thoại từ dạng viết sang dạng âm thanh nghe nhìn:

  • Khảo sát định lượng lời đối thoại:
    • Thống kê đối ứng tổng số lời đối thoại giữa VBTKVH nguồn và PTĐA chuyển thể (Bảng 3.1, Hình 3.1).
    • Xác định các nhóm biến đổi số lượng: Lời đối thoại được giữ nguyên, lời đối thoại không được chuyển sang phim, và lời đối thoại được biên kịch/đạo diễn sáng tạo thêm (Bảng 3.2).
  • Miêu tả các xu hướng chuyển đổi lời thoại (Bảng 3.3):
    • Chuyển nguyên vẹn lời đối thoại: Giữ nguyên cấu trúc cú pháp và từ ngữ của nguyên tác sang lời thoại phim.
    • Chuyển lời đối thoại có biến đổi: Rút gọn dung lượng, thay đổi trật tự từ, khẩu ngữ hóa lời văn viết, hoặc lược bỏ lời thoại để thay thế bằng diễn xuất hình ảnh và cử chỉ nhân vật.
  • Phân tích các ngữ cảnh hội thoại cụ thể:
    • Trong Những người thợ xẻ: Phân tích chuỗi thoại kịch tính khi Bường bảo Chỉnh giữ dao để đập gỗ chặt chân Ngọc ("Bác giữ em con dao. Em lấy khúc gỗ này táng một phát, đứt ngay"), tiếng gào thét của Ngọc, lời quát của Chỉnh ("Dao đã khớp đâu mà chặt?!") và phản ứng tức giận của Thục ("Cút đi! Định giết người à?").
    • Trong Hương Ga: Phân tích thoại trường giữa Hưng "mã", Hương Ga và Châu "điên" kết hợp với các hành động đưa tiền, đóng mở cửa sổ chớp và đẩy đuổi nhân vật.
    • Trong Đời cát: Khảo sát thoại trường đối thoại giữa nhân vật Lãng và mẹ.
  • Kiến giải các yếu tố chi phối:
    • Bất tương đồng ở nhân vật và ngữ cảnh giao tiếp: Ngữ cảnh giao tiếp trong phim là thoại trường trực tiếp có sự tham gia của bối cảnh không gian thực, cử chỉ, nét mặt và diễn xuất diễn viên, không cần lời dẫn thoại miêu tả như văn học.
    • Bất tương đồng về mã ngôn ngữ: Lời thoại văn học tồn tại ở mã chữ viết tĩnh; lời thoại điện ảnh là mã âm thanh sống động gắn liền với ngữ điệu, âm lượng, tiếng động hiện trường và âm nhạc hỗ trợ.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lí luận

  1. Làm sáng tỏ cơ sở lí luận về bản chất của ngôn ngữ văn học và ngôn ngữ điện ảnh ở các cấp độ tín hiệu biểu tượng và ngôn ngữ đối thoại; phân định cụ thể các bình diện tương giao và bất tương giao giữa hai hoạt động giao tiếp nghệ thuật.
  2. Cung cấp những kiến giải có tính quy luật về quá trình tư duy, giải mã (decoding) và lập mã (encoding) khi chuyển dịch thông điệp từ hệ thống tín hiệu ngôn từ (mã văn học) sang hệ thống tín hiệu nghe nhìn tích hợp (mã điện ảnh).
  3. Khẳng định tính hiệu quả và giá trị phương pháp luận của hướng nghiên cứu liên ngành (ngôn ngữ học kết hợp tín hiệu học, lí luận văn học và điện ảnh) trong việc phân tích các phương tiện giao tiếp nghệ thuật đa phương thức.

Đóng góp về mặt thực tiễn

  1. Cung cấp hệ thống tư liệu miêu tả chi tiết và số liệu thống kê đối ứng về 12 tác phẩm văn học và 12 phim chuyển thể tiêu biểu của Việt Nam giai đoạn 1995–2014.
  2. Đóng vai trò là tài liệu tham khảo cho giới nghiên cứu ngôn ngữ, kí hiệu học, nghệ thuật học và bạn đọc quan tâm đến hai loại hình nghệ thuật đại chúng.
  3. Cung cấp cơ sở khoa học hữu ích cho các nhà biên kịch, đạo diễn và tác giả văn học trong việc xử lý kịch bản chuyển thể, nắm bắt quy luật biến đổi của ngôn ngữ đối thoại và hệ thống biểu tượng thị giác khi chuyển thể tác phẩm.
  4. Định hướng cho công chúng tiếp nhận văn bản nghệ thuật đúng với đặc trưng loại hình và mã ngôn ngữ tiếp nhận.

Kiến nghị rút ra từ nghiên cứu

Luận án đề xuất việc ứng dụng phương pháp phân tích liên tín hiệu vào giảng dạy và nghiên cứu ngôn ngữ học ứng dụng; mở rộng việc nghiên cứu các hệ thống giao tiếp phi ngôn từ và các loại hình văn bản truyền thông đa phương thức tại Việt Nam.


Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của luận án

  • Về phạm vi đối tượng: Luận án mới chỉ tập trung giải quyết sự chuyển đổi ở hai thành phần tín hiệu là biểu tượng và đối thoại; chưa khảo sát toàn diện các thành phần khác của ngôn ngữ kể chuyện như lời độc thoại nội tâm, lời người kể chuyện, cũng như các yếu tố âm thanh phi ngôn từ (âm nhạc, hiệu ứng tiếng động).
  • Về phạm vi ngữ liệu: Luận án chỉ giới hạn khảo sát 12 tác phẩm thuộc thể loại tự sự (truyện ngắn, tiểu thuyết) được chuyển thể thành phim truyện nhựa/phim truyện điện ảnh trong khung thời gian 1995–2014; chưa khảo sát các thể loại văn học khác (thơ, kịch bản sân khấu, ký) và các định dạng phim khác (phim truyền hình dài tập, phim tài liệu).

Hướng nghiên cứu tiếp

  • Mở rộng phạm vi nghiên cứu sang các thành phần tín hiệu khác trong hệ thống ngôn ngữ điện ảnh như mã âm nhạc, mã tiếng động, cấu trúc dựng phim (montage).
  • Mở rộng ngữ liệu khảo sát sang các phim truyền hình chuyển thể, các tác phẩm chuyển thể từ kịch bản sân khấu sang điện ảnh, hoặc các tác phẩm điện ảnh chuyển thể giai đoạn sau năm 2014.

Giá trị tham khảo

Luận án mang lại giá trị tham khảo chuyên môn cho các đối tượng:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học, giảng viên chuyên ngành Ngôn ngữ học và Tín hiệu học: Tham khảo khung lí thuyết tín hiệu học ứng dụng (Saussure, Peirce, Barthes, Lotman) và phương pháp luận nghiên cứu liên ngành đối với các hệ thống giao tiếp nghệ thuật.
  • Giảng viên, sinh viên ngành Lí luận văn học, Nghệ thuật học, Biên kịch và Đạo diễn điện ảnh: Tham khảo Chương 2 và Chương 3 để nắm bắt quy luật chuyển dịch biểu tượng từ ngôn từ sang hình ảnh, kỹ thuật biên tập và xử lý lời thoại khi chuyển hóa văn bản văn xuôi thành kịch bản phân cảnh điện ảnh.
  • Nhà nghiên cứu văn hóa và truyền thông: Sử dụng các số liệu thống kê và mô hình phân tích cấu trúc chủ đề để khảo sát sự biến đổi thông điệp văn hóa qua các phương tiện truyền thông nghệ thuật.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án khảo sát ngữ liệu trên những tác phẩm văn học và phim truyện điện ảnh cụ thể nào?

Luận án khảo sát 12 cặp tác phẩm văn học nguồn và phim chuyển thể tương ứng giai đoạn 1995–2014 của Việt Nam:

  1. Thương nhớ đồng quê (Truyện ngắn: Nguyễn Huy Thiệp – Phim: Đặng Nhật Minh, 1995).
  2. Những người thợ xẻ (Truyện ngắn: Nguyễn Huy Thiệp – Phim: Vương Đức, 1999).
  3. Ba người trên sân ga / Đời cát (Truyện ngắn: Hữu Phương – Phim: Nguyễn Thanh Vân, 1999).
  4. Bến không chồng (Tiểu thuyết: Dương Hướng – Phim: Lưu Trọng Ninh, 2000).
  5. Ngôi nhà xưa / Mùa ổi (Truyện ngắn & Phim: Đặng Nhật Minh, 2001).
  6. Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành / Người đàn bà mộng du (Truyện ngắn: Nguyễn Minh Châu – Phim: Nguyễn Thanh Vân, 2003).
  7. Mùa len trâu & Một cuộc biển dâu / Mùa len trâu (Truyện ngắn: Sơn Nam – Phim: Nguyễn Võ Nghiêm Minh, 2005).
  8. Tiếng đàn môi sau bờ rào đá / Chuyện của Pao (Truyện ngắn: Đỗ Bích Thúy – Phim: Ngô Quang Hải, 2006).
  9. Trăng nơi đáy giếng (Truyện ngắn: Trần Thùy Mai – Phim: Nguyễn Vinh Sơn, 2008).
  10. Mười ba bến nước (Truyện ngắn: Sương Nguyệt Minh – Phim: Đặng Thái Huyền, 2008).
  11. Cánh đồng bất tận (Truyện ngắn: Nguyễn Ngọc Tư – Phim: Nguyễn Phan Quang Bình, 2010).
  12. Phiên bản / Hương Ga (Tiểu thuyết: Nguyễn Đình Tú – Phim: Cường Ngô, 2014).

2. Vì sao tác giả chỉ tập trung nghiên cứu hệ thống biểu tượng và ngôn ngữ đối thoại mà không khảo sát toàn bộ câu chữ của văn bản?

Tác giả lý giải rằng đơn vị cú pháp của ngôn ngữ văn học và ngôn ngữ điện ảnh không có sự tương đương trực tiếp (từ, câu đối lập với cảnh, góc máy, khuôn hình). Số lượng từ ngữ trong văn bản và hình ảnh trong phim quá lớn, nếu khảo sát toàn bộ sẽ dễ dẫn đến trùng lặp, khó bao quát nhiều tác phẩm và hạn chế tính khái quát khoa học. Biểu tượng là tín hiệu thẩm mỹ thể hiện rõ nhất sự chuyển đổi từ mã ngôn từ sang mã hình ảnh; còn đối thoại thể hiện sự chuyển dịch trực tiếp từ mã ngôn từ viết sang mã ngôn từ âm thanh (lời nói). Việc thu hẹp vào hai nhóm tín hiệu này vừa đảm bảo tính khả thi trong thao tác, vừa phản ánh trọn vẹn bản chất cấu trúc của hai hệ thống ngôn ngữ.

3. Khung lý thuyết tín hiệu học nào được tác giả ứng dụng để phân tích cấu trúc của biểu tượng?

Tác giả ứng dụng kết hợp ba mô hình tín hiệu học:

  • Mô hình nhị diện của Saussure (Cái biểu đạt – Cái được biểu đạt).
  • Mô hình tam diện của Peirce (Cái đại diện – Biểu ý – Khách thể) cùng phân loại Biểu hiệu (Symbol), Hình hiệu (Icon), Chỉ hiệu (Index).
  • Mô hình cấu trúc phân tầng của Louis Hjelmslev và Roland Barthes: Hệ thống tín hiệu thứ nhất (biểu thị / denotation) là cơ sở để xây dựng hệ thống tín hiệu thứ hai (hàm nghĩa / connotation / biểu tượng nghệ thuật).

4. Những yếu tố nào chi phối sự biến đổi của biểu tượng và lời đối thoại khi chuyển thể sang điện ảnh?

Sự chuyển đổi và biến đổi chịu sự chi phối của ba yếu tố chính:

  • Sự bất tương đồng ở mã ngôn ngữ: Sự đối lập giữa mã ngôn từ văn học (tính tuyến tính, tính phi vật thể, trừu tượng) và mã nghe nhìn điện ảnh (tính trực quan, tính phi tuyến tính của khuôn hình, sự phối hợp âm thanh).
  • Sự bất tương đồng ở thông điệp tác phẩm: Sự thay đổi trong cấu trúc chủ đề tư tưởng giữa văn bản truyện kể nguồn và phim truyện chuyển thể.
  • Sự bất tương đồng ở chủ thể sáng tạo và ngữ cảnh giao tiếp: Ý đồ nghệ thuật của đạo diễn so với nhà văn và sự khác biệt giữa ngữ cảnh đọc đơn thoại với thoại trường trực quan của diễn viên trên màn ảnh.

Kết luận

Luận án là công trình nghiên cứu ngôn ngữ học liên ngành khảo sát có hệ thống sự chuyển đổi từ ngôn ngữ văn học sang ngôn ngữ điện ảnh qua hệ thống tín hiệu biểu tượng và ngôn ngữ đối thoại. Dựa trên khung lý thuyết tín hiệu học và phương pháp định lượng thống kê trên 12 cặp tác phẩm chuyển thể tiêu biểu của Việt Nam (1995–2014), tác giả đã làm sáng tỏ các xu hướng biến đổi ngữ nghĩa, cấu trúc lời thoại và những nhân tố chi phối quá trình tái mã hóa nghệ thuật. Công trình đóng góp cơ sở lý luận về giao tiếp nghệ thuật đa phương thức và cung cấp tài liệu tham khảo thực tiễn cho nghiên cứu ngôn ngữ, phê bình văn học và hoạt động sáng tạo điện ảnh.