Chuyển hóa liên ký hiệu trong điện ảnh châu Á hiện đại (Tác phẩm của Fyodor Dostoevsky)

Luận án tiến sĩ nghiên cứu văn học vấn đề chuyển hóa liên ký hiệu trong điện ảnh châu á hiện đại trường hợp các phim cải biên, phát triển phương pháp mới, đánh giá hiệu quả ứng

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Lý luận văn học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ văn học

2021

223
3
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1. Lịch sử nghiên cứu dịch liên ký hiệu tác phẩm của F. Dostoevsky trong điện ảnh

1.2. Hướng nghiên cứu của đề tài

2. CHƯƠNG 2: CHUYỂN HÓA LIÊN KÝ HIỆU VÀ VẤN ĐỀ PHIM CHÂU Á CẢI BIÊN TỪ TÁC PHẨM CỦA F. DOSTOEVSKY

2.1. Những tiền đề lý thuyết trong cái nhìn tham chiếu

2.2. Ký hiệu và ký hiệu học trong văn học nghệ thuật

2.3. Dịch liên ký hiệu: cầu nối giữa hệ ký hiệu thẩm mỹ văn chương và điện ảnh

2.4. Dịch liên ký hiệu, cải biên và liên văn bản: Những tương liên

2.5. Mô hình dịch liên ký hiệu giữa tác phẩm văn học và tác phẩm điện ảnh

2.6. Điện ảnh châu Á cải biên từ tác phẩm của F. Dostoevsky

3. CHƯƠNG 3: CẢI BIÊN VÀ SỰ CHUYỂN HÓA KÝ HIỆU LOẠI HÌNH

3.1. Từ tiểu thuyết đến phim Chàng ngốc: sự hiện đại hóa qua ký hiệu điện ảnh

3.2. Viết lại nhân vật: diễn xuất mang tính biểu trưng cao độ

3.3. Chuyển dịch không-thời gian: dàn cảnh sâu mang tính lập thể

3.4. Chuyển hóa người kể chuyện và điểm nhìn: quay phim linh hoạt

3.5. Dịch chuyển ngôn ngữ - lời nói: âm thanh biểu đạt đa chiều kích

4. CHƯƠNG 4: DÀN HÀNG THƯƠNG THẢO VÀ SỰ CHUYỂN HÓA KÝ HIỆU VĂN HÓA

4.1. Hệ ký hiệu tín ngưỡng - tôn giáo

4.2. Phật giáo và tinh thần Thiền đạo trong Chàng ngốc

4.3. Hindu giáo, Hồi giáo và Thiên chúa giáo trong Người yêu dấu

4.4. Thiên chúa giáo và Nho giáo trong Dịu dàng

4.5. Hệ ký hiệu lễ hội và nghệ thuật

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về chuyển hóa liên ký hiệu trong điện ảnh châu Á

Chuyển hóa liên ký hiệu trong điện ảnh châu Á hiện đại từ tác phẩm của Dostoevsky là một chủ đề thú vị. Nó không chỉ phản ánh sự giao thoa văn hóa mà còn thể hiện cách mà các đạo diễn châu Á đã tiếp cận và tái hiện các tác phẩm văn học vĩ đại. Dostoevsky, với những tác phẩm nổi tiếng như 'Chàng ngốc' và 'Những đêm trắng', đã trở thành nguồn cảm hứng cho nhiều bộ phim. Việc chuyển thể này không chỉ đơn thuần là việc chuyển đổi từ văn học sang điện ảnh mà còn là một quá trình sáng tạo, nơi các yếu tố văn hóa và nghệ thuật được hòa quyện.

1.1. Ý nghĩa của chuyển hóa liên ký hiệu trong điện ảnh

Chuyển hóa liên ký hiệu không chỉ là việc chuyển thể nội dung mà còn là việc truyền tải các giá trị văn hóa. Điều này giúp khán giả hiểu rõ hơn về bối cảnh văn hóa của tác phẩm gốc và cách mà nó được diễn giải trong một nền văn hóa khác.

1.2. Tác phẩm của Dostoevsky và ảnh hưởng đến điện ảnh châu Á

Tác phẩm của Dostoevsky đã được cải biên thành nhiều bộ phim tại châu Á, từ Nhật Bản đến Ấn Độ. Những bộ phim này không chỉ giữ lại cốt truyện gốc mà còn thêm vào các yếu tố văn hóa địa phương, tạo nên những phiên bản độc đáo.

II. Vấn đề và thách thức trong chuyển hóa liên ký hiệu

Chuyển hóa liên ký hiệu từ văn học sang điện ảnh gặp phải nhiều thách thức. Một trong những vấn đề lớn nhất là làm sao để giữ được tinh thần của tác phẩm gốc trong khi vẫn phải phù hợp với thị hiếu và văn hóa của khán giả địa phương. Điều này đòi hỏi các đạo diễn phải có sự sáng tạo và nhạy bén trong việc lựa chọn các yếu tố cần thiết để chuyển thể.

2.1. Giữ gìn bản sắc văn hóa trong chuyển thể

Việc giữ gìn bản sắc văn hóa trong quá trình chuyển thể là rất quan trọng. Các đạo diễn cần phải cân nhắc kỹ lưỡng để không làm mất đi những giá trị cốt lõi của tác phẩm gốc.

2.2. Thách thức trong việc tái hiện nhân vật

Tái hiện các nhân vật từ tác phẩm văn học vào điện ảnh là một thách thức lớn. Các đạo diễn phải làm sao để nhân vật vẫn giữ được tính cách và động cơ của họ trong bối cảnh mới.

III. Phương pháp chuyển hóa liên ký hiệu hiệu quả trong điện ảnh

Để chuyển hóa liên ký hiệu thành công, các đạo diễn thường áp dụng nhiều phương pháp khác nhau. Một số phương pháp phổ biến bao gồm việc sử dụng hình ảnh biểu tượng, âm thanh và cách dàn dựng để tạo ra một trải nghiệm điện ảnh phong phú. Những yếu tố này không chỉ giúp khán giả dễ dàng tiếp cận nội dung mà còn tạo ra những cảm xúc sâu sắc.

3.1. Sử dụng hình ảnh biểu tượng trong chuyển thể

Hình ảnh biểu tượng là một công cụ mạnh mẽ trong điện ảnh. Chúng giúp khán giả kết nối với các chủ đề và thông điệp của tác phẩm một cách sâu sắc hơn.

3.2. Âm thanh và nhạc nền trong điện ảnh

Âm thanh và nhạc nền đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ra bầu không khí cho bộ phim. Chúng có thể làm tăng cảm xúc và giúp khán giả hiểu rõ hơn về tâm trạng của nhân vật.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu

Nghiên cứu về chuyển hóa liên ký hiệu trong điện ảnh châu Á từ tác phẩm của Dostoevsky đã chỉ ra rằng các bộ phim cải biên không chỉ thành công về mặt nghệ thuật mà còn tạo ra những cuộc đối thoại văn hóa phong phú. Những bộ phim này đã mở ra những cách nhìn mới về các tác phẩm văn học cổ điển, đồng thời làm phong phú thêm nền điện ảnh châu Á.

4.1. Phân tích các bộ phim cải biên tiêu biểu

Các bộ phim như 'Chàng ngốc' và 'Người yêu dấu' đã thể hiện rõ nét sự chuyển hóa liên ký hiệu. Chúng không chỉ giữ lại cốt truyện mà còn thêm vào các yếu tố văn hóa địa phương.

4.2. Kết quả từ nghiên cứu và ứng dụng

Kết quả từ nghiên cứu cho thấy rằng việc chuyển hóa liên ký hiệu có thể tạo ra những tác phẩm điện ảnh độc đáo, góp phần làm phong phú thêm nền văn hóa điện ảnh châu Á.

V. Kết luận và tương lai của chuyển hóa liên ký hiệu

Chuyển hóa liên ký hiệu trong điện ảnh châu Á từ tác phẩm của Dostoevsky không chỉ là một xu hướng mà còn là một phần quan trọng trong việc phát triển nghệ thuật điện ảnh. Tương lai của chuyển hóa này hứa hẹn sẽ tiếp tục phát triển, mở ra nhiều cơ hội cho các đạo diễn và nhà sản xuất trong việc khám phá và sáng tạo.

5.1. Xu hướng tương lai trong điện ảnh châu Á

Xu hướng chuyển hóa liên ký hiệu sẽ tiếp tục phát triển, với nhiều tác phẩm văn học khác được cải biên thành phim. Điều này sẽ tạo ra nhiều cơ hội cho các nhà làm phim.

5.2. Tác động của chuyển hóa liên ký hiệu đến văn hóa

Chuyển hóa liên ký hiệu không chỉ ảnh hưởng đến điện ảnh mà còn tác động đến văn hóa xã hội, tạo ra những cuộc đối thoại văn hóa phong phú giữa các nền văn hóa khác nhau.

28/05/2025
Luận án tiến sĩ văn học vấn đề chuyển hóa liên ký hiệu trong điện ảnh châu á hiện đại trường hợp các phim cải biên từ tác phẩm của fyodor dostoevsky

Trích đoạn nội dung tài liệu

chương 1, chúng tôi tập trung vào tông quan van dé nghiên cứu, đó là lịch sử nghiên cứu dịch liên ký hiệu (diễn trình lịch sử lý thuyết và ứng dụng dịch liên ký hiệu trong các loại hình nghệ thuật) trên thé giới và ở Việt Nam; tiếp đó, chúng tôi khu biệt nhỏ hơn — khảo sát lịch sử nghiên cứu dịch liên ký hiệu tác pham của F.Dostoevsky trong điện ảnh trên thế giới và tại Việt Nam. Trong luận án này, chúng tôi đôi chỗ dùng “chuyên hóa liên ký hiệu”, đôi chỗ dùng “dịch liên ký hiệu”. Chúng tôi cho răng, “chuyển hóa liên ký hiệu” liên quan đến quá trình, /@ van dé nghiên cứu của hai đối tượng văn học và điện ảnh, còn “dịch liên ký hiệu” (thuật ngữ của R.Jakobson) là phương pháp luận, góc tiếp cận của luận án. Bởi vậy, “chuyên hóa” hay “dịch” chỉ là cách dùng từ khác nhau, nhưng mang ý nghĩa như nhau, thé hiện tính chất chuyên đổi, chuyên hóa phức tạp giữa các văn bản.

Trong tiêu mục lịch sử nghiên cứu Dostoevsky tại Việt Nam, chúng tôi bồ sung lịch sử tiếp nhận tác phẩm văn học của Dostoevsky dé có cái nhìn khái quát và tong thé trong nghiên cứu Dostoevsky tại Việt Nam (không chi trong điện ảnh mà đã từ rất lâu trong văn học). Cuối cùng, chúng tôi đi cụ thể vào những tác phâm là đối tượng của luận án. Từ đó, chúng tôi đánh giá những thành tựu của nghiên cứu dịch liên ký hiệu tác phẩm của Dostoevsky đã đạt được, đồng thời chỉ ra những khoảng trồng — mảnh đất chưa được khai thác — như là van đề của luận án. Lịch sử nghiên cứu dịch liên ký hiệu 1.

Trên thé giới Dịch liên ký hiệu và “bước ngoặt dich thuật ” Bước sang thế kỷ XX, như nhiều ngành khoa học khác, nghiên cứu dịch thuật có nhiều thành tựu quan trọng. Sự ra đời của ngành Phiên dịch học là bước ngoặt lớn trong lịch sử phiên dịch. Nó tạo sự chính danh và nghiêm túc cho các hoạt động chuyên ngữ đã có từ ngàn năm. Chúng ta có thể kế đến những học giả nỗi tiếng như Saussure, Firth, Chomsky, Jakobson, Bassnett, Venuti,.

với những van dé ly thuyết được đặc biệt quan tâm: ngôn ngữ va văn hóa trong dịch thuật, dich là một sản phẩm hay một quá trình, dịch hình thức (cau trúc) hay dich nội dung (ý nghĩa), nhập mã và giải mã trong dich thuật là gi, van đề tương đương trong dịch thuật, dich là một khoa học hay một hoạt động bậc hai (nghệ thuật). Ở đây, chúng tôi trình bày tổng quan các khía cạnh dịch thuật liên quan đến hướng nghiên cứu dịch liên ký hiệu và nhấn mạnh vào sự chuyền dịch văn hóa. Trong tiểu luận “Bàn về những khía cạnh ngôn ngữ của dịch thuật” (“On linguistic aspects of translation”) (1959), nhà cấu trúc luận người Mỹ gốc Nga Roman Jakobson đề xuất ba mô hình dịch thuật: dịch nội ngữ (intralingual 11 translation), dịch liên ngữ (interlingual translation) va dịch liên ký hiệu (intersemiotic translation). Theo đó, dịch liên ký hiệu là diễn giải các ký hiệu ngôn ngữ bằng ký hiệu của các hệ thống ký hiệu phi ngôn từ.

Dịch liên ký hiệu xuất hiện đầu tiên trong tiểu luận của Jakobson, được xem là cầu nối của hai hệ thống ký hiệu thâm mỹ khác nhau (như hệ thống ký hiệu ngôn ngữ của văn chương và hệ thống ký hiệu hình ảnh và âm thanh của điện ảnh; hệ thống ký hiệu đường nét và mau sắc của hội họa, hệ thống ký hiệu âm thanh của âm nhac,. Holmes công bố tiểu luận “Tên gọi và bản chất của phiên dịch học” (“The name and nature of translation studies”), ông đề nghị dùng danh xưng “Nghiên cứu dịch thuật” (Translation Studies) đề chi tat cả hoạt động liên quan đến phiên dịch, từ thực hành, lý thuyết, nghiên cứu và cả phê bình, lý luận trong phiên dịch. Theo đó, phiên dịch học có hai mục đích chính, đó là để mô tả các hiện tượng phiên dich và lý thuyết dịch, đồng thời thiết lập các nguyên tắc chung dé giải thích và tiên đoán mọi hoạt động liên quan đến phiên dịch. Về lịch sử lý thuyết dịch, công trình Translation Studies (1988) của Susan Bassnett đã khái quát dịch thuật qua các giai đoạn lịch sử và trào lưu văn học.

Bà bắt đầu tiểu luận bằng định nghĩa về dịch “Dịch thuật như là hành vi chuyên giao một van ban ở một ngôn ngữ này sang một ngôn ngữ khác, từ hơn một thiên niên ky qua, đã luôn là một nguồn chính của thông tin xuyên văn hóa” [7]. Đóng góp của công trình là tác giả đã lược thuật lại toàn bộ quá trình hình thành và phát triển của lý thuyết dịch. Trong mỗi giai đoạn, Susan Bassnett cô gắng chỉ ra các van dé quan trọng của dịch thuật như: dịch cái gì, dịch như thế nào (dịch chữ hay dịch nghĩa), nguyên tắc dịch, nhiệm vụ của dịch giả,. Jeremy Munday trong công trình Nhập môn nghiên cứu dich thuật (2001) đã cung cấp các kiến thức nhập môn vào lĩnh vực nghiên cứu dịch thuật.

Cuốn sách chia làm 11 chương với những kiến thức được trình bày một cách rõ ràng, chính xác đã cho thấy toàn cảnh về lịch sử của dịch thuật. Trong cuốn sách, ông đề cập đến các hướng tiếp cận dịch thuật khác nhau, trong đó có hai chương 8 và 9 phân tích nghiên cứu văn hóa trong dịch thuật — hướng tiếp cận mà chúng tôi quan tâm. Ở đây, chúng tôi nhấn mạnh sự kiện được xem là “bước ngoặt dịch thuật” (the translation turn). Trước “bước ngoặt dịch thuật”, các học giả nghiên cứu dich thuật từ lập trường ngôn ngữ, tập trung vào nguyên tắc dịch, nhiệm vụ của dịch, tính tương đương.

“Bước ngoặt dịch thuật” mang ý nghĩa như một thành tựu đột phá của tư duy hậu cấu trúc. Nó chỉ bước chuyên văn hóa trong dịch. Theo đó, “dịch trở thành vấn đề trung tâm trong các diễn ngôn văn hóa khi văn hóa học bắt đầu mở rộng ra khỏi phạm vi quốc gia, tiến đến tính quốc tế, tính xuyên quốc gia của văn hóa” [93]. Nghiên cứu dịch từ hướng văn hóa được khởi xướng bởi Andre Lefevere 12 và Susan Bassnett trong công trình năm 1988 Dich thuật, Lịch sử và Văn hóa (Translation, History and Culture).

Hướng nghiên cứu nay được mở rộng theo các nhánh nhỏ như: Sherry Simon với dịch thuật và giới trong Giới trong dich thuật: bản sắc văn hóa và đặc điểm chính trị của truyền dat (Gender in Translation Culural Identity and the Politics of Transmission), Spivak với lý thuyết dịch hậu thuộc địa trong Chính tri cua dịch thuật (The Politics of Translation) năm 1993, Venuti với quan điểm về “ngoại lai hóa” và “bản dia hóa” trong Sự vô hình của dich giả: một lịch sử của phiên dịch (The Translation’s Invisibility: A History of Translation) (1995). Trong Dich thudt, Lich sw va Van hoa (Translation, History and Culture) (1990), Susan Bassnett va Andre Lefevere đã “vượt qua cấp độ ngôn ngữ dé tap trung vào mối tương tác giữa dich thuật va văn hóa, cach văn hóa tác động va câu thúc dịch thuật” [70, 198]. Họ khảo sát hình ảnh của văn học được tạo bởi các hình thức như tuyén tập, các ý kiến bình luận, cdi biên điện ảnh và dich phẩm, va cả các thiết chế tham gia vào quá trình này. Đây chính là bước chuyên từ dịch thuật với tư cách là văn bản sang dịch thuật với tư cách là văn hóa.

Mary Snell- Hornby gọi đó là “bước ngoặt văn hóa” (the cultural turn). Dorothy Kelly nhìn nhận dịch là kỹ năng thấu hiểu văn bản nguồn và chuyên đạt nó sang ngôn ngữ của văn ban dich băng cách sử dụng một giọng điệu và ngôn ngữ thích hợp cho văn cảnh, cũng như dùng những kiến thức nền về ngôn ngữ cho một mục đích được nhắm tới. Bởi vậy, người dich được xem như người làm công việc /hương thảo về mặt ý nghĩa giữa hai ngôn ngữ và hai nền văn hóa, giữa văn bản nguồn và và văn bản đích. Andre Lefevere trong Dich thuật, Viết lại và Thao túng danh tiếng văn học (Translation, Rewriting, and the Manipulation of Literary Fame) (1992) cho rang, “Dịch là một kiểu viết lại dé nhận thấy nhất, và có tiềm năng anh hưởng nhiều nhất vì nó có thé phóng chiếu hình ảnh của tác giả cũng như tác phâm vượt khỏi biên giới nền văn hóa gốc của chúng” [142, 9].

Quan điểm của Lefevere được xây dựng từ lý thuyết đa hệ thống của Even-Zohar, ông quan tâm đến mối quan hệ quyền lực và ý thức hệ trong hệ thống văn học và văn hóa tương giao với dịch văn học. Chính mối quan hệ này quyết định chiến lược dịch. Khi đã thừa nhận bản dịch là một sự viết lại thì chiến lược dịch cũng là vấn đề được các lý thuyết gia quan tâm. Lawrence Venuti đã đề xuất chiến lược “bản địa hóa” và “ngoại lai hóa” trong tiểu luận “Sự vô hình của dich giả: một lịch sử của dịch thuật” (“The Translator’s Invisibility: A History of Translation”).

Venuti cho rang, bởi ban dich luôn bị coi là phái sinh, thứ yếu va xếp hang hai nên người dich có xu hướng làm cho bản dịch của mình “trôi chảy” “đọc được” dé tạo ra một “ảo tưởng về sự vô hình của chính mình”. Ban địa hóa là dich theo phong cách dé người 13 đọc không biết đó là bản dịch, dịch trôi chảy làm cho văn bản đích có ít chất ngoại lai nhất. Ngược lại, ngoại lai hóa “là người dịch không làm phiền tác giả, càng nhiều càng tốt, mà đưa người đọc đến với họ. Phương pháp ngoại lai này còn được gọi la chiến lược dịch “kháng cự”.

Dù cổ vũ cách dịch ngoại lai hóa, Venuti cũng biết răng đó là một khái niệm chủ quan và tương đối. Bản dịch vẫn phải có chút bản địa hóa, vì như vậy, mỗi khi bản dịch cố tình đi chệch khỏi những giá trị văn hóa đích chủ đạo thì người đọc mới biết là nó được ngoại lai hóa. Quan trọng hơn là “vấn đề một bản dịch đồng hóa một văn bản ngoại lai vào ngôn ngữ và văn hóa đích đến mức độ nào, và nó nên cho người đọc thấy những khác biệt của văn bản ấy đến đâu” [70, 229]. Giống Venuti và Kelly trong quan điểm về dịch, Linda Hutcheon quan tâm đến điều kiện văn cảnh trong chuyền thê.

Xuất phát từ quan điểm của một nhà hậu cau trúc, trong Một lý thuyết về chuyển thé (A Theory of Adaptation) (2006), Linda Hutcheon quan tâm đến ý nghĩa của điều kiện văn cảnh của chuyển thé với những câu hỏi “ở đâu” (địa điểm) và “khi nào” (thời gian). “Theo logic sự thay đổi về thời gian va địa điểm sẽ dẫn tới sự thay đổi về kết hợp chuyền giao văn hóa” [49, 157] và “khi chuyển thé một tác phẩm văn cảnh của sự tiếp nhận cũng quan trọng như văn cảnh của sự sáng tạo” [49, 160].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Chuyển hóa liên ký hiệu trong điện ảnh châu Á hiện đại từ tác phẩm của Dostoevsky" khám phá cách mà các tác phẩm văn học của Dostoevsky đã được chuyển thể và tái hiện trong điện ảnh châu Á hiện đại. Bài viết nhấn mạnh sự tương tác giữa ngôn ngữ văn học và ngôn ngữ điện ảnh, đồng thời phân tích các yếu tố văn hóa và xã hội ảnh hưởng đến quá trình chuyển thể này. Độc giả sẽ nhận được cái nhìn sâu sắc về cách mà các ký hiệu văn học được chuyển hóa thành hình ảnh và âm thanh trong điện ảnh, từ đó mở rộng hiểu biết về mối liên hệ giữa hai lĩnh vực nghệ thuật này.

Để tìm hiểu thêm về sự chuyển đổi từ ngôn ngữ văn học sang ngôn ngữ điện ảnh, bạn có thể tham khảo tài liệu Luận án sự chuyển đổi từ ngôn ngữ văn học sang ngôn ngữ điện ảnh. Ngoài ra, tài liệu Luận văn thạc sĩ ngôn ngữ văn học và văn hóa việt nam chất liệu văn học trong điện ảnh việt nam qua trường hợp song lang cũng cung cấp cái nhìn thú vị về chất liệu văn học trong điện ảnh Việt Nam. Cuối cùng, bạn có thể khám phá thêm về quá trình chuyển thể qua tài liệu Cốt truyện và nhân vật trong tôi thấy hoa vàng trên cỏ xanh từ tác phẩm văn học đến điện ảnh. Những tài liệu này sẽ giúp bạn mở rộng kiến thức và hiểu biết về mối liên hệ giữa văn học và điện ảnh.