chương 1, chúng tôi tập trung vào tông quan van dé nghiên cứu, đó là lịch sử nghiên cứu dịch liên ký hiệu (diễn trình lịch sử lý thuyết và ứng dụng dịch liên ký hiệu trong các loại hình nghệ thuật) trên thé giới và ở Việt Nam; tiếp đó, chúng tôi khu biệt nhỏ hơn — khảo sát lịch sử nghiên cứu dịch liên ký hiệu tác pham của F.Dostoevsky trong điện ảnh trên thế giới và tại Việt Nam. Trong luận án này, chúng tôi đôi chỗ dùng “chuyên hóa liên ký hiệu”, đôi chỗ dùng “dịch liên ký hiệu”. Chúng tôi cho răng, “chuyển hóa liên ký hiệu” liên quan đến quá trình, /@ van dé nghiên cứu của hai đối tượng văn học và điện ảnh, còn “dịch liên ký hiệu” (thuật ngữ của R.Jakobson) là phương pháp luận, góc tiếp cận của luận án. Bởi vậy, “chuyên hóa” hay “dịch” chỉ là cách dùng từ khác nhau, nhưng mang ý nghĩa như nhau, thé hiện tính chất chuyên đổi, chuyên hóa phức tạp giữa các văn bản.
Trong tiêu mục lịch sử nghiên cứu Dostoevsky tại Việt Nam, chúng tôi bồ sung lịch sử tiếp nhận tác phẩm văn học của Dostoevsky dé có cái nhìn khái quát và tong thé trong nghiên cứu Dostoevsky tại Việt Nam (không chi trong điện ảnh mà đã từ rất lâu trong văn học). Cuối cùng, chúng tôi đi cụ thể vào những tác phâm là đối tượng của luận án. Từ đó, chúng tôi đánh giá những thành tựu của nghiên cứu dịch liên ký hiệu tác phẩm của Dostoevsky đã đạt được, đồng thời chỉ ra những khoảng trồng — mảnh đất chưa được khai thác — như là van đề của luận án. Lịch sử nghiên cứu dịch liên ký hiệu 1.
Trên thé giới Dịch liên ký hiệu và “bước ngoặt dich thuật ” Bước sang thế kỷ XX, như nhiều ngành khoa học khác, nghiên cứu dịch thuật có nhiều thành tựu quan trọng. Sự ra đời của ngành Phiên dịch học là bước ngoặt lớn trong lịch sử phiên dịch. Nó tạo sự chính danh và nghiêm túc cho các hoạt động chuyên ngữ đã có từ ngàn năm. Chúng ta có thể kế đến những học giả nỗi tiếng như Saussure, Firth, Chomsky, Jakobson, Bassnett, Venuti,.
với những van dé ly thuyết được đặc biệt quan tâm: ngôn ngữ va văn hóa trong dịch thuật, dich là một sản phẩm hay một quá trình, dịch hình thức (cau trúc) hay dich nội dung (ý nghĩa), nhập mã và giải mã trong dich thuật là gi, van đề tương đương trong dịch thuật, dich là một khoa học hay một hoạt động bậc hai (nghệ thuật). Ở đây, chúng tôi trình bày tổng quan các khía cạnh dịch thuật liên quan đến hướng nghiên cứu dịch liên ký hiệu và nhấn mạnh vào sự chuyền dịch văn hóa. Trong tiểu luận “Bàn về những khía cạnh ngôn ngữ của dịch thuật” (“On linguistic aspects of translation”) (1959), nhà cấu trúc luận người Mỹ gốc Nga Roman Jakobson đề xuất ba mô hình dịch thuật: dịch nội ngữ (intralingual 11 translation), dịch liên ngữ (interlingual translation) va dịch liên ký hiệu (intersemiotic translation). Theo đó, dịch liên ký hiệu là diễn giải các ký hiệu ngôn ngữ bằng ký hiệu của các hệ thống ký hiệu phi ngôn từ.
Dịch liên ký hiệu xuất hiện đầu tiên trong tiểu luận của Jakobson, được xem là cầu nối của hai hệ thống ký hiệu thâm mỹ khác nhau (như hệ thống ký hiệu ngôn ngữ của văn chương và hệ thống ký hiệu hình ảnh và âm thanh của điện ảnh; hệ thống ký hiệu đường nét và mau sắc của hội họa, hệ thống ký hiệu âm thanh của âm nhac,. Holmes công bố tiểu luận “Tên gọi và bản chất của phiên dịch học” (“The name and nature of translation studies”), ông đề nghị dùng danh xưng “Nghiên cứu dịch thuật” (Translation Studies) đề chi tat cả hoạt động liên quan đến phiên dịch, từ thực hành, lý thuyết, nghiên cứu và cả phê bình, lý luận trong phiên dịch. Theo đó, phiên dịch học có hai mục đích chính, đó là để mô tả các hiện tượng phiên dich và lý thuyết dịch, đồng thời thiết lập các nguyên tắc chung dé giải thích và tiên đoán mọi hoạt động liên quan đến phiên dịch. Về lịch sử lý thuyết dịch, công trình Translation Studies (1988) của Susan Bassnett đã khái quát dịch thuật qua các giai đoạn lịch sử và trào lưu văn học.
Bà bắt đầu tiểu luận bằng định nghĩa về dịch “Dịch thuật như là hành vi chuyên giao một van ban ở một ngôn ngữ này sang một ngôn ngữ khác, từ hơn một thiên niên ky qua, đã luôn là một nguồn chính của thông tin xuyên văn hóa” [7]. Đóng góp của công trình là tác giả đã lược thuật lại toàn bộ quá trình hình thành và phát triển của lý thuyết dịch. Trong mỗi giai đoạn, Susan Bassnett cô gắng chỉ ra các van dé quan trọng của dịch thuật như: dịch cái gì, dịch như thế nào (dịch chữ hay dịch nghĩa), nguyên tắc dịch, nhiệm vụ của dịch giả,. Jeremy Munday trong công trình Nhập môn nghiên cứu dich thuật (2001) đã cung cấp các kiến thức nhập môn vào lĩnh vực nghiên cứu dịch thuật.
Cuốn sách chia làm 11 chương với những kiến thức được trình bày một cách rõ ràng, chính xác đã cho thấy toàn cảnh về lịch sử của dịch thuật. Trong cuốn sách, ông đề cập đến các hướng tiếp cận dịch thuật khác nhau, trong đó có hai chương 8 và 9 phân tích nghiên cứu văn hóa trong dịch thuật — hướng tiếp cận mà chúng tôi quan tâm. Ở đây, chúng tôi nhấn mạnh sự kiện được xem là “bước ngoặt dịch thuật” (the translation turn). Trước “bước ngoặt dịch thuật”, các học giả nghiên cứu dich thuật từ lập trường ngôn ngữ, tập trung vào nguyên tắc dịch, nhiệm vụ của dịch, tính tương đương.
“Bước ngoặt dịch thuật” mang ý nghĩa như một thành tựu đột phá của tư duy hậu cấu trúc. Nó chỉ bước chuyên văn hóa trong dịch. Theo đó, “dịch trở thành vấn đề trung tâm trong các diễn ngôn văn hóa khi văn hóa học bắt đầu mở rộng ra khỏi phạm vi quốc gia, tiến đến tính quốc tế, tính xuyên quốc gia của văn hóa” [93]. Nghiên cứu dịch từ hướng văn hóa được khởi xướng bởi Andre Lefevere 12 và Susan Bassnett trong công trình năm 1988 Dich thuật, Lịch sử và Văn hóa (Translation, History and Culture).
Hướng nghiên cứu nay được mở rộng theo các nhánh nhỏ như: Sherry Simon với dịch thuật và giới trong Giới trong dich thuật: bản sắc văn hóa và đặc điểm chính trị của truyền dat (Gender in Translation Culural Identity and the Politics of Transmission), Spivak với lý thuyết dịch hậu thuộc địa trong Chính tri cua dịch thuật (The Politics of Translation) năm 1993, Venuti với quan điểm về “ngoại lai hóa” và “bản dia hóa” trong Sự vô hình của dich giả: một lịch sử của phiên dịch (The Translation’s Invisibility: A History of Translation) (1995). Trong Dich thudt, Lich sw va Van hoa (Translation, History and Culture) (1990), Susan Bassnett va Andre Lefevere đã “vượt qua cấp độ ngôn ngữ dé tap trung vào mối tương tác giữa dich thuật va văn hóa, cach văn hóa tác động va câu thúc dịch thuật” [70, 198]. Họ khảo sát hình ảnh của văn học được tạo bởi các hình thức như tuyén tập, các ý kiến bình luận, cdi biên điện ảnh và dich phẩm, va cả các thiết chế tham gia vào quá trình này. Đây chính là bước chuyên từ dịch thuật với tư cách là văn bản sang dịch thuật với tư cách là văn hóa.
Mary Snell- Hornby gọi đó là “bước ngoặt văn hóa” (the cultural turn). Dorothy Kelly nhìn nhận dịch là kỹ năng thấu hiểu văn bản nguồn và chuyên đạt nó sang ngôn ngữ của văn ban dich băng cách sử dụng một giọng điệu và ngôn ngữ thích hợp cho văn cảnh, cũng như dùng những kiến thức nền về ngôn ngữ cho một mục đích được nhắm tới. Bởi vậy, người dich được xem như người làm công việc /hương thảo về mặt ý nghĩa giữa hai ngôn ngữ và hai nền văn hóa, giữa văn bản nguồn và và văn bản đích. Andre Lefevere trong Dich thuật, Viết lại và Thao túng danh tiếng văn học (Translation, Rewriting, and the Manipulation of Literary Fame) (1992) cho rang, “Dịch là một kiểu viết lại dé nhận thấy nhất, và có tiềm năng anh hưởng nhiều nhất vì nó có thé phóng chiếu hình ảnh của tác giả cũng như tác phâm vượt khỏi biên giới nền văn hóa gốc của chúng” [142, 9].
Quan điểm của Lefevere được xây dựng từ lý thuyết đa hệ thống của Even-Zohar, ông quan tâm đến mối quan hệ quyền lực và ý thức hệ trong hệ thống văn học và văn hóa tương giao với dịch văn học. Chính mối quan hệ này quyết định chiến lược dịch. Khi đã thừa nhận bản dịch là một sự viết lại thì chiến lược dịch cũng là vấn đề được các lý thuyết gia quan tâm. Lawrence Venuti đã đề xuất chiến lược “bản địa hóa” và “ngoại lai hóa” trong tiểu luận “Sự vô hình của dich giả: một lịch sử của dịch thuật” (“The Translator’s Invisibility: A History of Translation”).
Venuti cho rang, bởi ban dich luôn bị coi là phái sinh, thứ yếu va xếp hang hai nên người dich có xu hướng làm cho bản dịch của mình “trôi chảy” “đọc được” dé tạo ra một “ảo tưởng về sự vô hình của chính mình”. Ban địa hóa là dich theo phong cách dé người 13 đọc không biết đó là bản dịch, dịch trôi chảy làm cho văn bản đích có ít chất ngoại lai nhất. Ngược lại, ngoại lai hóa “là người dịch không làm phiền tác giả, càng nhiều càng tốt, mà đưa người đọc đến với họ. Phương pháp ngoại lai này còn được gọi la chiến lược dịch “kháng cự”.
Dù cổ vũ cách dịch ngoại lai hóa, Venuti cũng biết răng đó là một khái niệm chủ quan và tương đối. Bản dịch vẫn phải có chút bản địa hóa, vì như vậy, mỗi khi bản dịch cố tình đi chệch khỏi những giá trị văn hóa đích chủ đạo thì người đọc mới biết là nó được ngoại lai hóa. Quan trọng hơn là “vấn đề một bản dịch đồng hóa một văn bản ngoại lai vào ngôn ngữ và văn hóa đích đến mức độ nào, và nó nên cho người đọc thấy những khác biệt của văn bản ấy đến đâu” [70, 229]. Giống Venuti và Kelly trong quan điểm về dịch, Linda Hutcheon quan tâm đến điều kiện văn cảnh trong chuyền thê.
Xuất phát từ quan điểm của một nhà hậu cau trúc, trong Một lý thuyết về chuyển thé (A Theory of Adaptation) (2006), Linda Hutcheon quan tâm đến ý nghĩa của điều kiện văn cảnh của chuyển thé với những câu hỏi “ở đâu” (địa điểm) và “khi nào” (thời gian). “Theo logic sự thay đổi về thời gian va địa điểm sẽ dẫn tới sự thay đổi về kết hợp chuyền giao văn hóa” [49, 157] và “khi chuyển thé một tác phẩm văn cảnh của sự tiếp nhận cũng quan trọng như văn cảnh của sự sáng tạo” [49, 160].