CHƯƠNG 1: CƠ SỞ VĂN HOÁ, XÃ HỘI VÀ ĐIỆN ẢNH HÀN QUỐC ĐƯƠNG ĐẠI 1.1 Nho giáo và những ảnh hưởng đối với văn hoá xã hội Hàn Quốc đương đại Hàn Quốc, tiếp nhận Nho giáo rất sớm (năm 392). Nho giáo được các triều đại phong kiến áp dụng một cách triệt để, các nho sĩ không chỉ học tập Ngũ kinh, Tứ thư mà còn tranh luận sâu sắc về nghĩa lý, tạo ra những học phái tranh luận quyết liệt. Do nhà nước Chosun sùng bái Nho giáo, đến thế kỷ XV, thời vua Sejong, Nho giáo đã vượt lên trên Phật giáo, chiếm địa vị độc tôn. Sự độc tôn đó được các triều vua Chosun ngày càng đẩy lên mức cao hơn, thậm chí cực đoan.
Qui phạm đó còn được coi là qui phạm đạo đức và được chế độ phong kiến coi như luật pháp và bắt buộc mọi người phải tuân theo. Hơn thế nữa, Nho giáo tôn lên như một lẽ trời định phận cho mỗi con người, vua phải ra vua, tôi ra tôi, cha ra cha, con ra con, chồng ra chồng, vợ ra vợ. Điều đó có nghĩa là, cách ứng xử cần phải tương ứng với thân phận (vua - tôi, cha - con, vợ - chồng). Vua phải thương dân, dân phải trung thành với vua; cha phải nuôi con, thương yêu dạy dỗ con cái nên người, làm con phải có hiếu với cha mẹ, ghi nhớ công ơn dưỡng dục sinh thành, phụng dưỡng cha mẹ lúc tuổi già; anh em cần phải thương yêu nhường nhịn lẫn nhau, làm em thì phải biết nghe lời anh chị… Cách ứng xử theo danh phận đó, Nho giáo gọi là Lễ.
Trong gia đình truyền thống tuân theo quy phạm Nho giáo, người ông, người cha có quyền quyết định cao nhất. Tất cả việc lớn trong nhà đều do 8 z họ quyết định. Đồng thời, họ cũng là người có trách nhiệm và nghĩa vụ lớn nhất đối với cuộc sống gia đình.Họ phải “tu thân” tốt thì “tề gia” mới tốt. “Tu thân” ở đây không chỉ hiểu ở nghĩa trau dồi đạo đức, nhân phẩm của cá nhân mà còn phải phấn đấu đạt tới những điều tốt đẹp liên quan đến kinh tế gia đình và bản thân, mà con đường đi sáng sủa nhất là học hành thành tài, thi cử đỗ đạt, ra làm quan (đã ra làm quan thì gia đình sung túc, danh giá và cả họ được nhờ).
Người con trong gia đình phải lễ phép nghe lời cha mẹ, con phải đặt đạo Hiếu lên trên hết. Đạo Hiếu là đạo ứng xử của con cái đối với cha mẹ, hiểu theo nghĩa rộng hơn, còn là đạo ứng xử đối với thế hệ trên nữa, tức các bậc tiên tổ. Làm người có hiếu không chỉ đối xử lễ phép, chu đáo với ông bà, cha mẹ khi còn sống mà cả khi qua đời; lo ma chay chu đáo, trông nom giữ gìn cho mồ yên mả đẹp, lo cúng giỗ đầy đủ, ghi nhớ công ơn cha mẹ. Dẫu xã hội Hàn Quốc ngày nay đã có nhiều biến đổi nhưng việc thờ cúng tổ tiên tại nhà và ở mộ vẫn được duy trì, thậm chí còn thịnh soạn hơn thời phong kiến do đời sống kinh tế khá giả.
Ở nông thôn, gian thờ tổ tiên vẫn tồn tại.Nhưng ở thành phố, bàn thờ tổ tiên không được lập nên, chỉ tới ngày giỗ mới lập ban thờ, dựng bài vị, bày đồ cúng lễ và cung thỉnh tổ tiên về chứng giám lòng thành. Đời sống càng khá giả, giàu có thì việc cúng giỗ càng theo phương thức mà các Yang ban (quí tộc) trong quá khứ đã làm. Việc cúng giỗ này vẫn được thực hiện để bày tỏ lòng hiếu thảo đối với tổ tiên, cầu mong tiên tổ phù hộ độ trì cho con cháu có được cuộc sống yên bình, làm ăn phát đạt. 9 z Việc thờ cúng tổ tiên càng được chú trọng hơn vào dịp Tết trung thu và Tết Nguyên đán.
Tết Trung thu ở Hàn Quốc không phải là Tết dành cho thiếu nhi như ở Việt Nam mà là ngày lễ lớn.Người Hàn Quốc gọi Tết này là Chuseok (Thu tịch), diễn ra vào ngày 15 tháng 8 âm lịch. Ngày lễ này còn được gọi là ngày lễ tạ ơn, là dịp mọi người tạ ơn tổ tiên của mình, cầu mong cho mùa màng bội thu, cuộc sống no đủ. Nguồn gốc của ngày lễ này bắt nguồn từ lễ hội mừng vụ mùa bội thu. Những sản phẩm mới thu hoạch từ vụ mùa được dâng cúng cho thần thánh trong làng và tổ tiên, tức là Chuseok bắt nguồn từ tín ngưỡng thờ cúng.
Trong xã hội hiện đại, Chuseok vẫn được xem như một lễ tạ ơn vô cùng quan trọng và có ý nghĩa đặc biệt đối với người Hàn Quốc.Đây là dịp đoàn tụ gia đình.Bất kể người Hàn Quốc nào dù đi làm ăn xa ở đâu cũng trở về quê hương và thể hiện lòng thờ kính tổ tiên.Nghi lễ không chỉ ở nhà mà còn được thể hiện một cách hết sức trang nghiêm ở ngoài phần mộ.Họ thường dọn sạch cây cỏ dại trên phần mộ, bày đồ cúng lễ và quì lạy hết sức kính cẩn. Tục này được gọi là Tảo mộ và cũng tương tự như ở Việt Nam, có điều, ở Việt Nam thường diễn ra vào mùa xuân chứ không thực hiện vào dịp Trung thu. Về phía nhà nước, Chính phủ cho phép được nghỉ dài ngày và tới ngày lễ, Tổng thống Hàn Quốc đều có bài phát biểu chúc Tết Trung thu, đồng thời cũng muốn bày tỏ quan điểm lãnh đạo của mình. Ngoài tính gia trưởng, tư tưởng trọng nam khinh nữ vẫn còn tồn tại trong văn hóa gia đình cũng như xã hội Hàn Quốc ngày nay.Dưới chế độ phong kiến Chosun, tư tưởng trọng nam khinh nữ thể hiện rõ trong đạo Tam tòng, tứ đức.
Phụ nữ Chosun nhất nhất phải tuân theo đạo Tam tòng: Ở nhà thì theo cha, lấy chồng thì theo chồng, chồng chết thì theo con (Tại gia tòng 10 z phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử) và Tứ đức - công, dung, ngôn, hạnh. Đây là nguyên tắc rất cứng nhắc của nhà nước Chosun. Nếu người phụ nữ nào vi phạm thì sẽ bị xử phạt, bị dư luận làng xã lên án; thậm chí, trong cách ăn nói thưa gửi, người phụ nữ phải sử dụng kính ngữ một cách mềm mại, dễ nghe, nếu không sẽ bị coi là thiếu giáo dục, không hiểu tứ đức là gì. Về phía nhà nước, nhằm “tuyên dương” những người phụ nữ thực hiện “xuất sắc” những điều trên, họ được phong danh hiệu là Liệt nữ.
Điều đó có nghĩa là, ngoài việc pháp luật bắt buộc phụ nữ Chosun phải tuân theo các đạo luật trên, làng xã, nhà nước Chosun còn có những biện pháp “mềm dẻo” để khuyến khích họ, coi điều đó là vinh dự không chỉ cho cá nhân mà còn cho cả dòng họ, làng xã. Còn đối với nam giới, người con trai dù có hèn kém thì cũng được coi trọng hơn con gái, dù có nhỏ tuổi cũng được tôn trọng hơn, được hưởng nhiều quyền lợi hơn người con gái lớn tuổi; người vợ dù có đảm đang nuôi nấng chăm lo gia đình thì cũng phải phụ thuộc vào người chồng dù lười biếng, bất tài, người đàn ông có thể lấy nhiều vợ cũng là chuyện thường tình, còn người phụ nữ “chỉ thờ một chồng”, dù trong hoàn cảnh nào cũng không được tái giá. (Tài trai năm thê bảy thiếp/Gái ngoan gái thờ một chồng.) Một quan điểm nổi bật nữa cũng phản ánh rõ tư tưởng trọng nam khinh nữ, đó là coi trọng việc sinh con trai nối dõi tông đường. Tư tưởng nho giáo cho rằng: “nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô” (sinh được một con trai thì coi là có con, sinh được mười con gái thì cũng coi là không), hoặc: 11 z “Bất hiếu hữu tam, vô hậu vi đại” (Tội bất hiếu thì có ba, song không có con trai nối dõi là lớn nhất.
Ngày nay, trong xã hội hiện đại, cùng với sự phát triển kinh tế, xã hội, quá trình dân chủ hóa đã làm biến đổi mạnh mẽ, sâu sắc tư tưởng phong kiến trọng nam khinh nữ. Quan hệ vợ chồng trong gia đình đã bình đẳng hơn trong sinh hoạt gia đình và nuôi dạy con cái. Tuổi kết hôn của phụ nữ đã cao lên, xấp xỉ 30 tuổi đã tạo ra một khoảng thời gian nhất định từ khi trưởng thành, đi làm và có thu nhập của người phụ nữ, bởi vậy, sau khi thành hôn, phụ nữ cũng có một số tiền trong tài khoản, tức không bị lệ thuộc hoàn toàn vào người chồng. Đó cũng là một trong những nguyên nhân chính tạo nên sự bình đẳng hơn trong gia đình.
Về mặt nhà nước và pháp luật, bộ luật về gia đình ban hành năm 1991 đã có nhiều điều mục liên quan đến quyền và nghĩa vụ của phụ nữ; Bộ Bình đẳng giới và Gia đình đã được thành lập ngày 23 tháng 6 năm 2005, chuyên giải quyết chính sách về phụ nữ, gia đình. Các đoàn thể xã hội, các tổ chức phi chính phủ không chỉ lên tiếng bênh vực quyền bình đẳng, quyền lợi cá nhân của phụ nữ mà còn có những biện pháp, việc làm thiết thực bảo vệ phụ nữ. Các Bộ có liên quan như Bộ Y tế và Phúc lợi, Bộ Giáo dục, Bộ Lao động và Việc làm đều có những giải pháp thiết thực giúp người phụ nữ thực hiện quyền bình đẳng. Tuy nhiên, tất cả những điều nêu trên cũng chỉ đang trong quá trình hướng tới sự bình đẳng nam nữ thực sự mà thôi.
Ảnh hưởng tiêu cực của Nho giáo chỉ có thể nói rằng đang dần thu hẹp lại chứ không thể loại bỏ hoàn toàn. Hơn nữa, trong sinh hoạt gia đình và cộng đồng, người phụ nữ dẫu có tinh thần tham gia tích cực vào công việc xã hội, dẫu chỉ sinh ít con nhưng do phải đảm bảo thiên chức làm vợ, làm mẹ nên gánh nặng công việc nội trợ, 12 z chửa đẻ, nuôi con vẫn đè lên vai người phụ nữ. Công việc vì thế bị gián đoạn, các công ty ở Hàn Quốc không chấp nhận giữ chỗ chờ đợi họ cho tới lúc có thể đi làm.Thực tế xảy ra trong các gia đình Hàn Quốc hiện nay khi có con nhỏ thì chi phí thuê người giúp việc, chăm sóc con nhỏ còn cao hơn cả tiền lương của người phụ nữ đi làm. Do vậy,mô hình gia đình xưa kia ở Hàn Quốc là người chồng ra ngoài kiếm tiền nuôi đủ cả gia đình, người vợ ở nhà chăm lo công việc nội trợ, dạy dỗ con cái lại lặp lại, hoặc nói cách khác, vẫn là một mô hình hợp lý.
Và lẽ tất nhiên, người vợ trong gia đình Hàn Quốc hiện đại nhiều lúc, nhiều nơi vẫn không thể bình đẳng với chồng.