Chương 1. TONG QUAN VE CAI BIEN HỌC VÀ TÁC PHAM MAMMA MIA: gồm có 21 trang, từ trang 13 đến trang 33 Lý thuyết nghiên cứu cải biên học và nghệ thuật kể chuyện khá bao quát, trai đài trên một diện rộng thuộc nhiều lĩnh vực như văn học, báo chí, quảng cáo, sân khấu, điện ảnh nên luận văn trình bày tóm lược các căn cứ từ những phương diện mang tính cụ thể hơn như người kế chuyện, điểm nhìn, giọng điệu, nhân vật, không gian, thời gian nghệ thuật để nghiên cứu nghệ thuật kể chuyện trong tác phẩm 11 Mamma Mia từ sân khâu đến điện ảnh. KHÔNG GIAN, THỜI GIAN VÀ THẺ GIỚI NHÂN VẬT TRONG TÁC PHẨM MAMMA MIA TỪ SÂN KHAU DEN ĐIỆN ANH: : gồm có 37 trang, từ trang 34 đến trang 70 Trong chương này, chúng tôi tập trung nghiên cứu không gian, thời gian và thế giới nhân vật từ sân khấu đến điện ảnh qua các phương diện: bối cảnh, không gian sự kiện, không gian tâm lý, thời gian nghệ thuật, hệ thống nhân vật, nghệ thuật xây dựng nhân vật trong từng loại hình. DIEM NHÌN, NGÔN NGỮ NGHỆ THUAT VÀ ÂM NHAC TRONG TÁC PHAM MAMMA MIA TỪ SÂN KHAU DEN ĐIỆN ANH : gồm có 26 trang, từ trang 71 đến trang 96 Trong chương này, luận văn sẽ tập trung nghiên cứu điểm nhìn, ngôn ngữ nghệ thuật và âm nhạc được xử lý như thế nào từ sân khấu đến điện ảnh.
Tìm hiểu đặc điểm ngôn ngữ nghệ thuật của điện ảnh và kịch không chỉ có ý nghĩa quan trọng trong việc hiểu tác giả, nhân vật, chủ đề tư tưởng của tác phẩm mà còn góp phần làm rõ đặc trưng ngôn ngữ, phong cách nghệ thuật của tác phẩm. Dựa vào những đặc điểm này, chúng tôi sẽ tiến hành phân tích ngôn ngữ điện ảnh trong phim và tiếp đó so sánh với ngôn ngữ trong sân khấu kịch. Bên cạnh đó, vở kịch và bộ phim Mamma Mia như chiêu đãi người xem một bữa tiệc thịnh soạn với phần hình ảnh mãn nhãn và những giai điệu từng vang bóng một thời của nhóm nhạc ABBA. TONG QUAN VE CAI BIEN HỌC VA TAC PHAM MAMMA MIA 1.
Cải biên hoc va các hướng áp dụng 1. Về thuật ngữ “cải biên” Từ trước đến nay, khi nhắc đến một tác phâm điện ảnh sử dụng các chất liệu có trước, các phương tiện truyền thông hoặc các bài nghiên cứu thường dùng thuật ngữ “chuyên thé”. Tuy nhiên, năm 2017, trong công trình nghiên cứu mang tên Chân trời của hình ảnh — Từ văn chương đến điện ảnh qua trường hợp Kurosawa Akira tác giả Đào Lê Na đã dùng thuật ngữ “cải biên” thay cho thuật ngữ “chuyền thé” dé lý thuyết cải biên (adaptation studies) được áp dụng rộng rãi hơn. Theo tác giả, dù nghe không quen tai nhưng đây là thuật ngữ phản ánh chính xác bản chất tác phẩm vốn dựa vào chất liệu có trước.
Thuật ngữ “adaptation” là một thuật ngữ được sử dụng rộng rãi hiện nay khi bàn về các tác phẩm điện ảnh được sáng tạo dựa trên chất liệu có trước là tác phẩm văn học hoặc tác phẩm kịch, hội họa,. Trong tiếng Anh, người ta dùng thuật ngữ “adaptation” dé chỉ “một quá trình cụ thể liên quan tới việc chuyền đổi từ một loại hình nào đó thành loại hình khác: tiêu thuyết thành phim, kịch thành nhạc, kịch hóa văn xuôi tự sự và văn xuôi tiểu thuyết, hoặc những chuyền động ngược của việc làm phim thành văn xuôi”, là “một phiên bản chỉnh sửa hoặc biến đổi của một văn bản, một tác phẩm âm nhạc v. Ở Việt Nam, có rất nhiều cách dịch thuật ngữ này như cải bién/chuyén thé/dich liên ký hiệu. Trong giới nghiên cứu hiện nay, khái niệm “adaptation” tồn tại hai cách hiểu: + Cách hiểu thứ nhất coi tác phẩm “adaptation” như một sản phẩm phụ thuộc vào tác phẩm gốc, là sự sao chép lại tác phẩm gốc bằng một hình thức nghệ thuật khác.
Cách dịch “chuyển thể” cũng phản ánh một phần nội hàm của khái niệm. Cắt nghĩa tường tận thuật ngữ “chuyền thể” sẽ thấy một sự mặc định không đúng: chuyên thé là tác phẩm chỉ chuyên từ thé loại này sang thể loại khác. Với sự 13 mặc định này, khán giả và ngay cả người làm phim bắt buộc tác phẩm chuyền thê phải trung thành với tác phẩm gốc. Như vậy, giá trị thực sự của một bộ phim được thực hiện từ một nội dung thuộc loại hình nghệ thuật khác bị đánh giá sai.
Chính vì quan điêm đó, tác phâm “làm lại” nay từng có lúc, có nơi bi coi là “thứ yêu”, “phái sinh”, “bội tín”, “tâm gửi” của tác phâm gôc, còn tác phâm gôc thì được ví như “con môi”, “nạn nhân”của tac phẩm “làm lại”. ` A990 66 + Cách hiểu thứ hai coi tác phẩm này độc lập (tương đối) với tác phẩm gốc do nó liên quan tới tái diễn giải, tái sáng tạo. Trong ý nghĩa này, người ta nói tới “cái nhìn kép”, “quy trình kép”, “bản chất kép” gắn liền với sự giải mã và sáng tạo cái mới của tác phẩm “adaptation”, nghĩa là nó có mối liên hệ với tác phẩm gốc (tác phẩm văn học) nhưng cũng không thé phủ nhận cái riêng của nó. “Cái nhìn kép”, “quy trình kép” và “bản chất kép” của tác phâm loại này trong quan hệ kết nối văn bản gốc và với những yếu tố mỗi khi chúng ta nhìn văn bản đó theo những cách khác nhau.
Dé nói được hết “cái nhìn kép”, “quy trình kép”, “bản chất kép” nay của tác phẩm “adaptation”, Linda Hutcheon (2009) đã đề nghị sử dụng một danh xưng có vẻ như hơi dai nhưng đúng: fác phẩm cải biên như là cải biên. [52, tr26] Từ những điều nói trên, trong luận văn này, chúng tôi đồng ý, thống nhất chọn sử dụng thuật ngữ “cải biên” theo như tác giả Đào Lê Na. Lý thuyết cải biên và hướng áp dụng cải biên vào nghiên cứu tác phẩm Như đã phân tích ở trên, đối với các tác phẩm điện ảnh cải biên từ văn học hay các loại hình nghệ thuật khác, các nhà phê bình thường có những luận giải không xác đáng. Nhà nghiên cứu Vetuni đã từng trăn trở trong các bài viết của minh: “Phim cải biên theo như lệ thường đã được mô tả và đánh gia trên cơ sở sự tương xứng của nó với văn bản văn chương, theo đó, nó có xu hướng được đánh giá như là sự giao tiếp không trung thành hoặc bị bóp méo ý do biểu hiện của tác giả” [55, tr.
Không thé xem những bộ phim cải biên từ tác phẩm trước đó thuộc hàng hai, “kí sinh”. Tác phâm điện ảnh cải biên và tác phẩm nguồn, ở góc độ nhất định, can được coi là đông đăng, “cộng sinh”. Khi phân tích tác phâm điện ảnh cải biên, 14 người nghiên cứu không nên phán xét tính trung thành hay không trung thành của nó với tác phâm nguồn, mà nên tập trung nghiên cứu mục đích, phương thức, những sáng tao trong việc chuyển mã văn hóa, chuyển đổi ngôn ngữ nghệ thuật, đối thoại tư tưởng, đặc biệt là hiệu quả nghệ thuật của sự chuyển vị bên trong tác phẩm điện ảnh đối với người đọc, người xem trong các bối cảnh lịch sử, xã hội, văn hóa và thời đại, thời kỳ cụ thể. Khi nhắc đến cải biên, chúng ta trước hết cần khang định rang, cải biên là một quá trình đời đôi rất phức tap từ tac phâm “nguồn” đến tác pham “đích” (hay phiên ban dịch - cải biên của nó).
Bởi lẽ, đây chính là sự dịch chuyên (mang day tính chủ quan) các yếu tố tự sự từ một hệ thống ký hiệu này sang một hệ thống ký hiệu khác, chăng hạn như, từ văn chương, vở diễn sang âm nhạc, khiêu vũ, phim ảnh, hoặc tranh vẽ. Mặt khác, như chúng ta đều biết, mỗi hệ thống ký hiệu lại là một thành tổ riêng biệt thuộc về một cấu trúc biéu đạt nhất định, sự chuyên dịch tương đương các ký hiệu giữa các hệ thống này kéo theo sự xáo trộn, “tháo tung văn bản”, tái cấu trúc lại toàn bộ hệ thống của cdi-biéu-dat (và do đó, cả cái-được-biêu- đạt cũng thay đối theo). Trong một công trình Adaptation and Intertextuality, or, What isn’t an Adaptation, and What Does it Matter? (2012), Thomas da dua ra chin quan niém vé ban chat của “Cải biên” mà chúng tôi nhận thay đây là cơ sở tin cậy dé vận dung vào phân tích, nhìn nhận, đánh giá một tác phẩm thuộc loại này [54, tr. Cải biên mang tính điện ảnh, chỉ bao gom phim dựa trên tiểu thuyết, vở diễn, hay truyện ngắn; 2.
Cải biên mang tính liên truyền thông (intermedial), bao gồm việc chuyển dịch những thành t6 tự sự từ một hệ thống truyền thông này sang một hệ thong truyền thông khác; 3. Cải biên là đối tả (ekphrasis); 4. Cải biên là văn bản mà tình trạng của nó phụ thuộc vào việc chấp nhận của khán giả đổi với lời mời đọc nó như là tác phẩm Cải biên; 5. Cải biên là ví du của một dạng xuyên văn bản (transtextuality); 15 6.
Cải biên là bản dich; 7. Cải biên là diễn xuất; 8. Cải biên là vi dụ tinh túy của thực hành liên văn bản; 9. Cải biên là một điển hình, nhưng không phải là điển hình trung tâm của liên văn bản Từ những vấn đề lý luận bản chất của cải biên học này, người nghiên cứu cần vận dụng vao việc ly giải một hiện tượng nghệ thuật nào đó trong một tác phẩm.
Không chỉ vậy, yếu tố đặc trưng của từng thé loại hay giá trị và tài năng của tác giả tác phẩm cải biên cũng sẽ được đánh giá chính xác và sâu sắc hơn dưới góc nhìn của lý thuyết cải biên học. Vấn đề vận dụng này đã được nhà nghiên cứu người Canada Linda Hutcheon đồng tình khi bà đưa ra bản chất của cải biên học trong công trình A theory of adaptation (Một lý thuyết cải biên) năm 2006 dé chúng ta nhìn nhận rõ hơn giá trị của tác phẩm được tái tạo: “Trong nhiều trường hợp, bởi vì các tác pham cải biên hướng tới một phương tiện khác, chúng là các sự tái trung gian, cụ thể nghĩa là, các tác phẩm cải biên trong hình thức của sự chuyền vị liên ký hiệu từ một hệ thong ký hiệu (ví dụ như ngôn từ) sang một hệ thống ký hiệu khác (ví dụ như hình ảnh). Đây là dịch nhưng theo một nghĩa rất cụ thể: như là biến tố hoặc là chuyền mã, nghĩa là, nhất thiết là một sự tái mã hóa vào một bộ quy tắc cũng như là ký hiệu mới.” Như vậy khi áp dụng lý thuyết cải biên, với bộ mã và ký hiệu mới, tác phẩm cải biên sẽ được đánh giá, phê bình độc lập và công bang hơn.