Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu Ở chương này, chúng tôi sẽ đi sâu vào tình hình nghiên cứ lý thuyết nữ quyền ở thế giới và ở Việt Nam. Ngoài ra, chúng tôi còn tổng thuật, làm sáng rõ về tình hình nghiên cứu truyện ngắn Việt Nam từ góc nhìn phê bình văn học nữ quyền từ trước đến nay qua các giai đoạn, qua đó, khẳng định những thành tựu 5 luan an và hạn chế của các công trình đi trước. Từ đó, đề xuất những hướng nghiên cứu mới và hướng nghiên cứu bổ sung cho luận án của chúng tôi, chủ yếu ở hướng tiếp cận phê bình văn học nữ quyền và phê bình văn học nữ quyền sinh thái. Chương 2: Lý thuyết nữ quyền, Phê bình văn học nữ quyền và ý thức nữ quyền trong văn học Việt Nam Ở chương này, chúng tôi quan tâm và đi sâu tìm hiểu lý thuyết nữ quyền và phê bình văn học nữ quyền, đặc biệt là sự gắn bó mật thiết của phê bình văn học nữ quyền với truyện ngắn hiện đại Việt Nam.
Trong đó, cần làm rõ vấn đề nữ quyền, nguồn gốc và khái niệm; sự xuất hiện của chủ nghĩa nữ quyền và sự phát triển của quyền lực nữ quyền; lịch sử phát triển của chủ nghĩa nữ quyền đồng thời, làm rõ bản chất của lý thuyết giới, lý thuyết nữ quyền và phê bình văn học nữ quyền. Sau cùng là tìm hiểu khái quát sự thể hiện ý thức nữ quyền trong văn học Việt Nam từ truyền thống cho đến hiện đại. Chương 3: Các kiểu nhân vật nữ mang đặc trưng giới trong truyện ngắn nữ Việt Nam 2000 - 2015 từ góc nhìn phê bình văn học nữ quyền Trong chương này, chúng tôi trình bày hệ thống thế giới nhân vật đa dạng, phong phú đầy “thiên tính nữ” đóng vai trò quan trọng trong việc làm rõ ý thức phái tính trong văn học hiện đại Việt Nam từ góc nhìn phê bình văn học nữ quyền. Đó là nhân vật nữ với sự tranh đấu cho quyền sống và quyền tự do; thiên tính làm mẹ và khát vọng tình yêu; bản năng tính dục và nhu cầu giải phóng tính dục; khát vọng giải phóng bản thân cùng mối liên hệ với môi trường sinh thái.
Chương 4: Phương thức nghệ thuật của truyện ngắn nữ Việt Nam 2000 - 2015 từ góc nhìn phê bình văn học nữ quyền Ở chương này, chúng tôi đi sâu phân tích về giọng điệu nghệ thuật; điểm nhìn trần thuật; diễn ngôn nghệ thuật có liên quan đến nữ quyền trong các truyện ngắn tiêu biểu của các tác giả nữ Việt Nam 2000 - 2015. Từ đó, khẳng định lối viết nữ cùng phương thức nghệ thuật trần thuật đã và đang chiếm một vị trí đặc biệt quan trọng trong việc cách tân thể loại truyện ngắn Việt Nam hiện đại và đương đại. 6 luan an NỘI DUNG Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1. Tình hình nghiên cứu lý thuyết nữ quyền 1.
Tình hình nghiên cứu lý thuyết nữ quyền trên thế giới Nghiên cứu về lý thuyết nữ quyền là nghiên cứu về sự đấu tranh để đạt được quyền bình đẳng giới trên tất cả mọi phương diện của đời sống xã hội và tinh thần. Nói một cách khác: “Lý thuyết nữ quyền tập trung phân tích sự bất bình đẳng giới. Chủ đề khám phá trong phong trào nữ quyền bao gồm phân biệt đối xử, áp bức, chế độ phụ hệ, rập khuôn, lịch sử nghệ thuật và nghệ thuật đương đại, và thẩm mỹ” [115]. Ở phương Tây, ngoài những tác phẩm viết về nữ quyền nổi tiếng như Giới thứ hai (1949) của Simone de Beauvoir, Một căn phòng riêng của Virginia Woolf (1929), Sự xác minh về các quyền của phụ nữ (A Vindication of the Right of Women, 1792) của Marie Wollstonerast, Cuốn sổ tay vàng (The Golden Notebook, 1979) của Doris Lesing, thì còn phải kể đến học thuyết Phân tâm học của Sigmund Freud và Phân tâm học cấu trúc của Jacques Lacan.
Freud với “mặc cảm Oedipus” đã phân định ra đặc trưng trong tính cách nam và nữ: nam giới chủ động và chiếm hữu còn nữ giới thì bị động, lệ thuộc. Có thể nói, Marie Wollstonerast đã mở ra một chương mới với lý thuyết nữ quyền trong cuốn Sự xác minh về các quyền phụ nữ năm 1972 bao gồm các nghiên cứu sau: “Phụ nữ đang thay đổi”, “Không phải tôi là một phụ nữ”, “Speech sau khi bắt giữ bất hợp pháp cho quyền biểu quyết”. Còn Nancy Cott thì tuyên truyền cho quyền bầu cử của phụ nữ vào năm 1920. Và như vậy, người phụ nữ trong xã hội đã được tôn trọng và đóng vai trò như một thực thể với các quyền lợi về chính trị như nam giới.
Tác giả Jean Baker Miller thì nổi tiếng với tâm lý học nữ quyền. Bà xem lý thuyết nữ quyền luôn gắn với tâm lý người phụ nữ, nó quyết định mọi hành động sau này. 7 luan an Ở Mỹ, cuốn A handbook of Critical Approaches to Literature (1979) (Sổ tay về các phương pháp phê bình văn học) của tác giả Wilfried L. Guerin, Earle Larbor, Morgan do nhà xuất bản Oxford ấn hành giúp người đọc hiểu về các khuynh hướng phê bình nữ quyền cụ thể và sâu sắc.
Tác phẩm The New Feminist Criticism (1985) (Lý thuyết phê bình nữ quyền mới) của Elaine Showalter với hơn 300 bài tiểu luận và nghiên cứu có giá trị về phê bình nữ quyền ở Mỹ được đánh giá cao. Theo tác giả, nghiên cứu lý thuyết nữ quyền bao gồm nhiều giai đoạn khác nhau như “phê bình nữ quyền”, “lý thuyết giới”. Nhà nghiên cứu Robert Con Davis với Contemporary Literary Criticism (Phê bình văn học đương đại) với phần “Biện chứng giới” về nữ quyền được phân tích một cách sâu sắc. Cuốn Feminism and Autobiography (Nữ quyền và tự truyện) do Tess Cosslett, Celia Lury và Penny Summerfield biên soạn, được xuất bản năm 2000 tại Anh, Mỹ và Canada là công trình nghiên cứu về nữ quyền sâu sắc, có giá trị.
Đối với phê bình nữ quyền thì chủ nghĩa nữ quyền (Feminism) ra đời là hệ quả tất yếu của phong trào cách mạng tư sản cận đại, có bề dày phát triển hơn hai trăm năm. Một số phong trào về nữ quyền có sức ảnh hưởng lan tỏa rộng lớn đến khắp thế giới. Tiêu biểu, khi Đại cách mạng tư sản Pháp bùng nổ, vào tháng 10 năm 1789, một nhóm phụ nữ xông thẳng vào trụ sở Quốc dân đại hội, đòi quyền nam nữ bình đẳng. Sau chiến tranh thế giới lần thứ hai, đa số các nước đều xác nhận nam nữ bình quyền trong Hiến pháp.
Chủ nghĩa nữ quyền giai đoạn này có ảnh hưởng to lớn đến văn học. Tiêu biểu, năm 1964, nữ tác gia người Anh Mary Astell với tác phẩm Một đề nghị nghiêm túc cho quý bà. Năm 1970, nữ tác gia Pháp Olympe de Gouges đã phát biểu Tuyên ngôn quyền lợi phụ nữ bao gồm 17 điều yêu cầu của giới phụ nữ. Đến năm 1792, nữ kịch tác gia người Anh Mary Wollstonecraft viết công trình Biện hộ cho nữ quyền.
Năm 1872, nhà văn Pháp Alexandre Dumas công bố luận văn Bàn về phụ nữ với những nội dung mới mẻ, cập nhật. Bên cạnh đó là những công trình có giá trị khác: Judith Sargent Murray với tiểu luận Bàn về sự bình đẳng giới năm 1790; Virginia Woolf với Căn phòng riêng (1929), Ba đồng ghi nê (1938). 8 luan an Chủ nghĩa nữ quyền chỉ thực sự trở nên có sức lan tỏa mạnh mẽ thông qua tác phẩm “kiệt xuất” của nữ văn sĩ người Pháp Simone de Beauvoir: Giới thứ hai (1949). Trong tác phẩm của mình, Beauvoir chỉ trích gay gắt nền văn hóa phụ hệ đã đẩy người phụ nữ ra ngoài lề của xã hội cũng như của văn học nghệ thuật.
Và trong tư tưởng của nền văn hóa ấy, nam giới luôn gắn liền với nhân loại, lịch sử, còn phụ nữ thì bị nhìn nhận như một “kẻ khác” (the Other), luôn ở thế bị động, phụ thuộc, phải dựa hoàn toàn vào nam giới. Với nội dung phân tích sự áp bức và yêu cầu cao hơn nữa để giải phóng phụ nữ trong đời sống xã hội, Giới thứ hai đóng vai trò quan trọng thúc đẩy phong trào phụ nữ chuyển sang một bước tiến mới. Nhờ vậy, Liên hiệp quốc đã tuyên bố năm 1975 là Năm quốc tế phụ nữ. Với tiêu đề công trình của mình, bà không dùng Giới nữ mà lại dùng Giới thứ hai.
Theo bà, Giới nữ gắn liền với những quan niệm tất yếu của xã hội: đó là mềm yếu, dễ thuyết phục. và đó là sản phẩm của xã hội và văn hóa, của thế giới đàn ông cố tạo nên quy chuẩn ngầm cho phụ nữ. Simone de Beauvoir phải dùng Giới thứ hai để giảm nhẹ thiên kiến của xã hội gán ghép cho giới nữ. Do đó, bà kêu gọi các văn sĩ hãy dùng sức mạnh ngôn từ đấu tranh chống lại sự khống chế của nam giới, của định kiến xã hội, chứ không chịu an phận trong những ngôn từ quy thuận của mình.
Giới thứ hai được xem là một “bản tuyên ngôn nữ quyền” của giới nữ, vốn không được xem trọng trong xã hội thời bấy giờ. Nội dung của tác phẩm nói về những vấn đề mà phụ nữ bị áp bức, kìm hãm lâu dài dẫn đến trở thành giới ít quan trọng hơn (giới thứ hai) so với nam giới (giới thứ nhất). Đối với Beauvoir, trong Giới thứ hai, bà xem phụ nữ như là tha nhân và giới đóng vai trò quan trọng trong xã hội. Bên cạnh đó, bà đã khám phá ra được thân phận phụ nữ, người phụ nữ có một vai trò bất di bất dịch trong xã hội chính là “tha nhân” của đàn ông.
Từ đó, tạo nên một quan hệ bất bình đẳng (phụ nữ bị áp bức một cách phổ biến) và cần phải giải quyết sự bất công trong quan hệ đó. Cái hay của Beauvoir trong Giới thứ hai là bà vận dụng nhiều kiến thức về triết học, sinh học, thần thoại học, nhân loại học, lịch sử, phân tâm học để chứng 9 luan an minh cho luận điểm của mình. Ví như, khi bàn luận về sinh học và lịch sử, bà chỉ ra phụ nữ phải trải qua một số hiện tượng đặc thù như kinh nguyệt, thai nghén, cho con bú. Điều này khiến cho phụ nữ khác biệt so với nam giới.
Nói tóm lại, Simone de Beauvoir được xem là người đi tiên phong, đặt nền móng đầu tiên cho phong trào nữ quyền mới, mở ra một hướng đi tiến bộ cho công cuộc giải phóng phụ nữ mà không hề lặp lại các phương pháp đấu tranh truyền thống đã có trong quá khứ. Hưởng ứng tinh thần của Beauvoir, hàng loạt bài viết về đấu tranh giành quyền bình đẳng cho nữ giới ra đời, đánh dấu sự phát triển mạnh mẽ của phong trào phê bình nữ quyền.