đặt vấn đề “bước ngoặt văn chương trong nhân học đương đại” (Bob Scholte, 1986). Trước hết, xin được bàn về những chuyển động trong lòng nhân học. Văn chương có thể xâm nhập vào nhân học và gây xáo trộn mạnh mẽ vào cuối thế kỉ XX một phần là bởi ngay từ khoảng trước sau thập niên 70 của thế kỉ này, bản thân nhân học cũng đang tự chuyển mình. Tuyển tập tiểu luận của các tiếng nói hàng đầu về nhân chủng học ở Mĩ, xuất bản năm 1972, do Dell Hymes biên tập, đã cất lên tiếng nói khẩn thiết như đúng tinh thần của nhan đề sách: Tái tạo nhân học [11]! Họ báo động tình trạng lay chuyển tận gốc của những trụ cột cố vị trong nhân học Hoa Kì và đòi hỏi thiết lập ý thức phản tư (reflexive) trong nhân học.
Thời kì này được F. Weber gọi là “sự thắng lợi của dân tộc chí phản tư” [12,280]. Theo đó, họ đòi hỏi một nền nhân học hòa quyện chặt chẽ với những lĩnh vực xã hội khác, một nền nhân học tôn trọng tính chủ quan không thể chối cãi của người nghiên cứu, một nền nhân học hướng tới những giá trị tự do. Ý thức phản tư, được khơi gợi từ thập niên 1960, 1970, trở thành một giá trị được chấp nhận rộng rãi trong 2 thập niên sau [13,805], đã mở đường cho cái nhìn cởi mở và linh hoạt hơn về thẩm quyền và tính hợp thức của các lĩnh vực khác xuất hiện trong nhân học, trong đó có văn chương.
Theo quỹ đạo đó, năm 1986, James Clifford cùng với George E. Marcus tập hợp các bài viết của hai ông và những tác giả khác, xuất bản Văn hoá viết: Thi học và chính trị học trong dân tộc chí [14]. Cuốn sách ra đời dựa trên những kết quả của seminar hai năm trước đó giữa các nhà nhân học, sử học và nghiên cứu văn học, trên một mối bận tâm chung: “việc tạo lập các văn bản nhân học” [15,267]. Ngay trong phần đầu bản đề dẫn, Marcus và Clifford đã khẳng định ảnh hưởng của lí thuyết văn học đối với sự đổi mới nhân học lúc bấy giờ.
“Những chuyển động gần đây trong lòng lí thuyết văn học đã khuyến khích xu hướng “văn bản” (“textual” trend) trong nhân học, nó gợi mở khả năng các tác phẩm nhân học có thể được hiểu theo những phương cách vượt ra khỏi những giới hạn chuyên ngành” [15,267]. Trong lời giới thiệu sách, Clifford đề cập tới lối đánh đồng nhân học với thực hành khoa học khô cứng: “Viết chỉ còn được quy giản thành các thao tác: ghi chép điền dã chỉnh tề, phác thảo lộ trình chuẩn xác, trình bày kết quả trên giấy” [14,2] và 14 tuyên bố “Tập tiểu luận này sẽ bẻ vụn cái lề lối ấy” [14,2]. Họ đả phá lối nghĩ cố hữu về thẩm quyền của nhân học. Đối với họ, nhân học văn hóa “là cái nằm bên trong, chứ không phải vượt thoát lên trên, các tiến trình lịch sử và ngôn ngữ” [14,2].
Không phải ngẫu nhiên mà sau khi tập tiểu luận ra đời, Bob Scholte đã viết bài review với nhan đề: Bước ngoặt văn chương trong nhân học đương đại [16]. Tập hợp các bài viết, tuy dựa trên dữ liệu cụ thể khác nhau, nhưng đều khai thác các khảo tả văn hóa từ một khía cạnh: hành động viết. Có thể nói, “bước ngoặt văn chương” trong nhân học ở đây tập trung ở tiêu điểm: các nhà nhân học tự ý thức về hành động “viết” của mình. Viết nhân học, ở một số khía cạnh, cũng giao cắt với con đường viết văn chương.
Viết là sáng tạo, chứ không phải là sự sắp chữ các kết luận khoa học đơn thuần. Viết nên văn hóa, viết trong văn hóa, viết bằng văn hóa, chứ không phải là dùng một thứ thẩm quyền bề trên để viết “về” văn hóa. Có thể thấy, mối bận tâm chính của lí thuyết về mối quan hệ văn chương - nhân học tới nửa sau thế kỉ XX đã dịch chuyển từ quỹ đạo của “huyền thoại” tới hành động “viết”. Xoay quanh tiêu điểm “viết”, các nhà nghiên cứu có điều kiện khai mở thêm nhiều khía cạnh đa diện trong chính hai địa hạt này.
Văn hoá viết, gọi theo tên gọi tắt thường dùng của cuốn sách, đã trở thành hiện tượng lúc bấy giờ trong làng nhân học. Những thảo luận về “bước ngoặt văn chương” góp phần khiến nó trở thành một hòn đá tảng trong dòng mạch lí thuyết về nhân học văn hóa, chất vấn những khả năng và giới hạn của nhân học, để các thập niên sau đó, giới nhân học vẫn thường bàn thảo về lịch sử nhân học sau cột mốc Văn hoá viết [17]. Nhìn từ góc độ ảnh hưởng của nhân học đối với văn chương, giới học giả lúc bấy giờ đã thừa nhận “bước ngoặt nhân học” trong nghiên cứu văn chương. Sự xuất hiện của Bước ngoặt nhân học trong nghiên cứu văn chương tại Đức, do Jürgen Schlaeger biên tập, chỉ một thập niên sau Văn hóa viết, là minh chứng cho điều này [18].
Cuốn niên san năm 1996 của tổng tập Nghiên cứu văn học Anh - Mĩ đã bàn thảo các vấn đề lí thuyết cũng như ứng dụng nhân học vào việc đọc từng tác giả, tác phẩm cụ thể (như E. Tuy nhiên, cuốn sách chưa gây được tiếng vang trong giới học giả. Chỉ tới đầu thế kỉ XXI, đối trọng của Văn hoá viết trong giới văn chương mới thực sự xuất hiện. Bước sang đầu thế kỉ XXI, mối quan hệ nhân học - văn chương vẫn tiếp tục được nhìn nhận trong bối cảnh mới.
Đáng chú ý là tiểu luận của Clifford Geertz, có ý nghĩa như một bản đúc kết cho lối viết nhân học mang phẩm tính văn chương mà ông là một đại diện tiêu biểu, và chuyên đề trên tập san Teksty Drugie của giới hàn lâm Ba Lan, được coi như một đối trọng của Văn hóa viết của giới văn chương. 15 Năm 2002, nhà nhân loại học Clifford Geertz, sau nửa thế kỉ dấn thân để hiểu đất và người Java, Bali, Morocco., trình bày những chiêm nghiệm của mình trong tiểu luận Một mối kì duyên: Nhân học và văn chương [19]. Nhất quán với sứ mệnh nhà nhân học - kẻ “đọc văn bản từ vai kẻ khác” [19,30], Geertz nhìn lại nỗ lực nhẫn nại và kiên định của mình trong hành trình diễn giải văn hóa, mà ở đó, mối duyên nợ với văn chương, ông khẳng định, đóng vai trò “thiết yếu” [19,30]. Chỉ với niềm yêu và sự thông tuệ với văn hóa, văn chương, Geertz mới nhìn thấy trong những trận chọi gà phấn khích, cuồng nộ ở Bali sự chuyển điệu của những xúc cảm Macbeth.
Bất chấp những định kiến cao ngạo về văn minh và man dã, Geertz đã nhìn thấy trong cái trò chơi “sơ khai”, “lạc hậu” ở vùng đất Indonesia “một kiểu hình tượng, một câu chuyện, một kiểu mẫu, một phép ẩn dụ” [1,201], cho những giá trị văn hóa có thể được tìm thấy ở phương Tây văn minh và khắp địa cầu. Sự “bạo gan” ấy, như ông thú nhận, bởi lẽ “sự gắn kết của tôi với nhân học, tự thân nó, đã mang tính văn chương” [19,28], hay nói cách khác, xuất phát tự “mối duyên” giữa văn chương và nhân học. Những đúc kết này, được viết bởi chính Geertz, như một lời đáp chắc nịch và rốt ráo cho những nghi ngờ, định kiến bấy lâu về nhân học: “Nó [Nhân học] rời xa khỏi những nguyên tắc phương pháp khoa học lỗi thời, nhằm hướng đến chủ nghĩa trực giác linh động; tách xa khỏi viễn tượng về một thứ Khoa học về Con người đúng sự thật, có hệ thống, phi góc nhìn, dựa trên dự đoán, lập kế hoạch. Nó thế chỗ những tri nhận vô cớ và những cả quyết thẳng tưng, để đem đến một bản hòa âm của ý tưởng.
Giống như văn chương, thực tình” [19,29]. Năm 2012, chuyên đề Nhân học trong nghiên cứu văn chương được công bố trên tạp chí Ba Lan Teksty Drugie. Đóng góp của giới chuyên môn trong lĩnh vực vốn không còn quá mới mẻ này, theo như lời đề dẫn, chính là ở những dịch chuyển trong cách tiếp cận. Thay vì những ý tưởng biệt lập, manh mún như trước đây, cách tiếp cận ưu trội lúc này “ít khác biệt”, và hướng tới một “phạm vi” và “sức lan tỏa” rộng lớn hơn [20,8].
Những ứng dụng mang tính địa phương, ngắn hạn của bộ công cụ nhân học chỉ còn là vấn đề thứ yếu. Điều cốt yếu thuộc về “sự tái định hướng hoàn toàn lại bộ môn này, xét trên khía cạnh những tiền đề lí thuyết chung cho tới những chiến lược cụ thể cũng như những định nghĩa/ tham chiếu của nó” [20,8]. Trên tinh thần đó, phần đầu tiên của chuyên san như một “phép trắc địa” [20,13] đối với khoa học nhân văn đương đại; nó nỗ lực phác thảo phối cảnh giữa các bộ môn chuyên ngành, những cái được - mất của việc phân lập các bộ môn chuyên ngành và triển vọng của xu hướng liên ngành. Phần còn lại dành cho những khảo sát sâu các vấn đề văn chương từ góc nhìn nhân học.
Có thể nói, tới lúc này, vấn đề mối quan 16 hệ giữa nhân học - văn chương đã được thừa nhận rộng rãi; sự can dự lẫn nhau của chúng, vốn từng gây ra những chấn động đáng kể, nay đã đi vào trạng thái ổn định. Mối bận tâm của giới học giả vào đầu thế kỉ XXI hứa hẹn một viễn cảnh tốt lành trong tương lai gần cho những thực hành liên ngành giữa nhân học và văn chương. Như vậy, nhìn lại hành trình gắn kết giữa nhân học và văn chương, có thể thấy, điểm gặp gỡ đầu tiên chính là mối bận tâm về huyền thoại và cộng đồng nguyên thủy, được kết trái trong sự hưng thịnh của phê bình huyền thoại vào nửa đầu thế kỉ XX. Sang nửa sau thế kỉ XX, cùng với quá trình tự “tái tạo” trong lòng nhân học, vùng giao thoa giữa nhân học và văn chương được truy tìm ở vấn đề lối viết, tính chất biểu tượng và diễn giải của văn hóa.
Cho tới nay, giới nhân học cũng như giới nghiên cứu văn chương, tuy không tránh khỏi những chất vấn và hồ nghi ở những vấn đề cụ thể, nhưng đều đồng thuận ở việc khẳng định sự thâm nhập, can dự lẫn nhau, với một mức độ đáng kể, giữa văn chương và nhân học. Những đặc thù trong việc tiếp cận văn chương từ nhân học văn hóa Cách đây hơn nửa thế kỉ, trong Chiếc gương và ngọn đèn: Lí thuyết lãng mạn và truyền thống phê bình (1953), M. Abrams đã đề xuất cách phân loại lí thuyết văn học theo mô hình bốn “tọa độ” - một trong nhiều nỗ lực nhằm khái quát bức tranh lí luận phê bình vốn đương rất phức tạp.