CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TIỂU THUYẾT VIỆT NAM THẬP NIÊN ĐẦU THẾ KỶ XXI TỪ GÓC NHÌN PHÂN TÂM HỌC 1. Các khuynh hướng phê bình văn học trên thế giới từ góc nhìn phân tâm học Ở phương Tây, nghiên cứu văn học cho đến hôm nay đã trải qua ba hệ hình tư duy: tiền hiện đại, hiện đại và hậu hiện đại. Trước ảnh hưởng của những thành tựu triết học, ngôn ngữ học và phân tâm học, mỗi hệ hình tư duy của khoa học nghiên cứu văn học đều bộc lộ những khả năng và hạn chế nhất định.
Mối quan hệ giữa lí thuyết phân tâm học và nghiên cứu văn học đã mở ra những phương pháp nghiên cứu mới, tập trung sự chú ý tới ba yếu tố cơ bản là tác giả, văn bản và người đọc. Elizabeth Wright trong công trình Phê bình phân tâm học hiện đại (1982) đã nói đến ba khuynh hướng phê bình phân tâm học. Đó là phê bình phân tâm học tiểu sử, phê bình phân tâm học văn bản và phê bình phân tâm học người đọc. Trước khi giới thiệu tổng quan tình hình nghiên cứu tiểu thuyết Việt Nam thập niên đầu thế kỷ XXI từ góc nhìn phân tâm học và hướng triển khai đề tài nghiên cứu theo phân tâm học, chúng tôi có cái nhìn khái lược về ba khuynh hướng phê bình văn học đó.
Phê bình phân tâm học tiểu sử Chúng ta biết rằng cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX là thời kỳ hình thành tư duy khoa học tiền hiện đại ở phương Tây. Đây là lúc người ta nhận ra rằng, ý nghĩa, bản chất của văn học không phải tự nó nói lên, mà để nhận biết chúng, cần phải tiếp cận một cách trung thành mọi hoạt động của tác giả trong đời sống hằng ngày liên quan đến văn bản văn học. Chủ nghĩa thực chứng của H.Taine ra đời trong bối cảnh đó. Nghiên cứu văn học tiền hiện đại trực tiếp gắn nghĩa của tác phẩm với người đã viết ra nó.
Nghĩa nội tại của văn bản không xuất phát từ bản chất của văn học mà từ thông điệp chủ ý, từ tính ý hướng của tác giả. Nhiều công trình lý thuyết về nghiên cứu phê bình văn học đã đề cao môi trường, thời điểm và chủng tộc theo tinh thần thực chứng của H.Taine, tác phẩm và tác giả đều nằm trong mối 6 quan hệ nhân quả, để hiểu tác phẩm, nhà nghiên cứu cần phải hiểu những nguyên cớ lịch sử - con người đã tạo ra nó. Không phải ngẫu nhiên mà phê bình phân tâm học tiểu sử đã có đất sống. Người đặt nền móng cho nghiên cứu phân tâm học tiểu sử không ai khác là S.
Theo Freud, phân tâm học có thể khám phá các yếu tố tâm lý của người nghệ sỹ để soi sáng nội dung tác phẩm. Với căn nền là vô thức, Freud đã xây dựng học thuyết phân tâm học của mình và ông đã dùng lí thuyết đó để diễn giải lĩnh vực sáng tạo nghệ thuật, bắt đầu khám phá về vô thức sáng tạo nơi Sophocle và Shakespeare. Freud cho rằng vô thức - tiềm thức, ý thức và siêu thức làm nên cơ chế hoạt động tâm thần. Vô thức chính là tâm thần, nó bao gồm những hiện tượng mà ý thức không kiểm soát được.
Vô thức quyết định sự hình thành và phát triển nhân cách của mỗi người. Nội hàm khái niệm dục năng (libido) của S.Freud không chỉ là hoạt động sinh lý thông thường mà bao hàm cả bản năng sống và bản năng chết, chúng ảnh hưởng đến hành vi tích cực và tiêu cực của con người. Liên quan đến quá trình trưởng thành và sự phát triển nhân cách của con người còn có yếu tố tính dục, nhất là tính dục ấu thơ.Freud xem phức cảm Oedipe là một trong những phức cảm quan trọng chi phối tình cảm và đạo đức con người trong suốt quá trình sống. Tất cả những yếu tố trên đây đã được Freud vận dụng để nghiên cứu các tác phẩm văn học, xuất phát từ người sáng tạo.
Các bài viết của S.Freud về văn học từ năm 1905 đến 1928 đều tập trung vào phân tâm học tiểu sử (tác giả). Tất cả nhằm trả lời cho câu hỏi: tại sao người ta phải viết văn? Viết văn là sự giải thoát những ẩn ức nằm sâu trong vô thức nhà văn. Chỉ qua tên các bài viết của Freud cũng đã toát lên tinh thần đó của ông: Lời nói tế nhị và quan hệ của nó với vô thức (1905), Hoang tưởng và giấc mơ trong truyện Gradiva của Jensen (1906), Sáng tạo văn học và giấc mơ khi tỉnh (1908), Kỉ niệm tuổi thơ của Léonard de Vinci (1910)… Bằng những khởi đầu của Freud, phê bình phân tâm học tiểu sử đã trở thành một khuynh hướng với những tên tuổi như Charles Mauron, Jean Delay, René Laforgue, Marie Bonafarte… Các nhà phê bình văn học này dựa trên căn nền lý 7 thuyết phân tâm học của Freud đã lưu ý người đọc phải có hiểu biết về tâm lý của các nhà văn thì mới hiểu được quá trình sáng tác của họ. Cần phải hiểu đời sống tinh thần của nhà văn, kể cả những ham muốn thì người đọc mới hiểu được các ẩn dụ và biểu tượng trong tác phẩm văn học.
Muốn làm được như vậy, nhà nghiên cứu phê bình văn học cần phải bám sát các dữ liệu đời tư của từng nhà văn, kể cả quá khứ của anh ta, xem những ẩn dụ ám ảnh là nơi con người vô thức của nhà văn thể hiện. Công trình viết về Edgar Poe (1933) của M. Bonafarte để lại dấu ấn quan trọng, tiêu biểu cho phương pháp phê bình phân tâm học tiểu sử. Điểm nổi bật ở công trình này là Bonafarte đã tìm cách soi sáng chứng loạn tâm thần ở Poe và sự chuyển dời vô thức nơi ông qua việc nhà văn này bị ám ảnh bởi hình ảnh người mẹ chết khi còn quá trẻ.
Delay thì lại coi trọng vai trò của những năm đầu đời đối với mỗi nhà văn, nhất là tính di truyền trong gia đình, vì tất cả những gì đã xảy ra đó đều ảnh hưởng sâu sắc đến tư duy sáng tạo nghệ thuật của người nghệ sỹ. Tuy nhiên, những thể nghiệm của M. Bonafarte, Charles Mauron, Jean Delay, René Laforgue và các nhà phê bình phân tâm học tiểu sử khác đã không tránh khỏi những hạn chế. Phương pháp xếp chồng văn bản của C.
Mauron đã khám phá huyền thoại cá nhân nhà văn không phải thích hợp để nghiên cứu mọi thể loại văn học, nhất là đối với kịch, do tính chất biểu diễn sân khấu đặc thù của nó. Với nền tảng lý thuyết phân tâm học của Freud, trong tinh thần thực chứng của tư duy nghiên cứu phê bình văn học tiền hiện đại, các nhà phê bình phân tâm học tiểu sử hầu như chỉ diễn giải tâm lý bằng văn học, xem tiểu sử tác giả là nguồn gốc của mọi sự phóng chiếu lên quá trình sáng tạo nghệ thuật. Cách làm này đã bỏ qua tính chất quá trình của sự tạo nghĩa nơi văn bản, nó mặc định những kết quả thông qua việc hiểu và cập nhật mọi dữ liệu liên quan đến tiểu sử tâm lý tác giả.2 Phê bình phân tâm học văn bản Trong tư duy lý thuyết văn học tiền hiện đại, người ta không phủ nhận vai trò của văn bản nhưng lại xem văn bản chỉ là công cụ của sự tạo nghĩa đã có từ trước, 8 chịu sự chi phối của bối cảnh xuất xứ và chủ ý của người sáng tác. Nghiên cứu văn học tiền hiện đại, vì thế, trực tiếp gắn nghĩa tác phẩm với người tạo ra văn bản.
Và phê bình văn học theo khuynh hướng phân tâm học tiểu sử đã vận dụng những nội dung lý thuyết phân tâm học về vô thức trong tinh thần đó. Nhưng rồi, khuynh hướng phê bình phân tâm học tiểu sử đã bị chính các nhà phân tâm học sau đó phê phán vì những hạn chế mà người viết đã trình bày ở trên. Từ đây, để thay đổi, thay vì đề cao vô thức tác giả, người ta nhấn mạnh nhiều đến quá trình tạo dựng văn bản, chuyển từ phân tích phân tâm học tiểu sử sang các yếu tố nằm trong văn bản, mang tính chất nội quan. Một trong những người có ảnh hưởng lớn đến phê bình phân tâm học văn bản là Carl Gustav Jung (1875 – 1961), tác giả của nhiều công trình nghiên cứu như Tâm lí học vô thức (1912), Biện chứng giữa cái tôi và cái vô thức… Là học trò của S.
Freud, Jung đã phát triển và bổ sung những khám phá mới về vô thức, với việc phân chia vô thức thành hai nhóm: vô thức cá nhân và vô thức tập thể, được cấu trúc bằng các siêu mẫu. Theo Jung, quá trình cá nhân hoá được các siêu mẫu mặt nạ nhân cách, căn tính nữ, căn tính nam, bóng âm và vô thức tự ngã chi phối và dẫn dắt. Ngay cả libido cũng được Jung chia làm hai loại: libido hướng nội và libido hướng ngoại. Tuỳ theo đó, mà người thì thích sống lặng lẽ, cô độc, kẻ thì sống quảng giao, vui vẻ.
Như vậy, trong khi Freud dùng văn học để diễn giải lý thuyết về phân tâm học thì Jung lại dùng chính các tri thức phân tâm học để soi sáng cơ chế sáng tạo văn học. Và phê bình siêu mẫu của Jung đã mở ra những khả năng mới cho khoa học văn học, ảnh hưởng đến nhiều nhà phê bình văn học sau này. Một đại diện khác của phê bình phân tâm học văn bản là Gaston Bachelard, người đã vận dụng các lý thuyết phân tâm học theo hướng thuần tuý vô thức, khơi nguồn từ các trạng thái vật chất như nước, lửa, không khí, đất… Các yếu tố này tồn tại trong vô thức tập thể với tư cách là siêu mẫu. Theo Bachelard, những tiếp xúc đầu đời của con người với ngoại giới, với thế giới vật chất sẽ để lại dấu ấn trong thế giới vô thức như là những siêu mẫu và ảnh hưởng đến quá trình sáng tạo của người nghệ sĩ.
Các công trình Phân tâm học về lửa (1938), Nước và những giấc mơ (1938), Không khí và những giấc mơ (1943)… của Bachelard đã cho thấy hướng 9 nghiên cứu của ông chịu ảnh hưởng từ Jung nhưng được phát triển hơn trong tinh thần phân tâm học vật chất. Một người Pháp nữa không thể không nói đến ở đây là Jacques Lacan (1901 – 1981), người đã diễn giải lại học thuyết Freud trong ánh sáng của cấu trúc và cấu trúc luận. Theo Elizabeth Wright, Lacan đã không quan tâm đến việc vô thức bản năng đi trước ngôn ngữ. Ông không chỉ khẳng định vô thức cũng được cấu trúc như là một ngôn ngữ mà còn nhấn mạnh rằng vô thức cũng là sản phẩm của ngôn ngữ.