Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ ngữ văn với đề tài "Văn xuôi Ngọc Giao trong tiến trình văn học hiện đại Việt Nam" là công trình nghiên cứu chuyên sâu về toàn bộ sự nghiệp sáng tác văn xuôi của nhà văn Ngọc Giao (gồm truyện ngắn, tiểu thuyết và ký) trong tương quan với tiến trình hiện đại hóa của văn học Việt Nam thế kỷ XX.
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Văn học Việt Nam thế kỷ XX vận động qua các giai đoạn gắn liền với yêu cầu hiện đại hóa và cách mạng hóa. Trong tiến trình đó, đội ngũ sáng tác là nhân tố định hình diện mạo văn học dân tộc. Nhà văn Ngọc Giao từng giữ vị trí thư ký tòa soạn tuần báo Tiểu thuyết thứ Bảy thuộc Nhà xuất bản Tân Dân – một ấn phẩm có lượng phát hành lớn trước năm 1945 – đồng thời là một cây bút sung sức của văn học đô thị Hà Nội giai đoạn tạm chiếm 1947–1954.
Tuy nhiên, do những biến cố lịch sử và cách tiếp cận phê bình mang tính xã hội học dung tục, thiên lệch ở giai đoạn 1945–1985, nhiều tác phẩm của Ngọc Giao bị quy kết tư tưởng, dẫn đến việc nhà văn phải ngừng bút trong thời gian dài và tên tuổi bị khuất lấp trong văn học sử. Các công trình trước đây về Ngọc Giao chủ yếu dừng lại ở các bài điểm sách, lời bạt ngắn hoặc các bài nghiên cứu đơn lẻ, chưa có một công trình nào khảo sát toàn diện, có hệ thống về toàn bộ di sản văn xuôi của ông. Do đó, việc nghiên cứu văn xuôi Ngọc Giao là yêu cầu khoa học cần thiết nhằm phục dựng một chân dung văn học và bổ khuyết khoảng trống trong lịch sử văn học Việt Nam hiện đại.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Luận án xác định các mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Mục đích nghiên cứu:
- Đặt văn xuôi Ngọc Giao trong tiến trình phát triển văn học Việt Nam hiện đại để làm rõ văn nghiệp, thành công, giới hạn, đồng thời đưa ra những đánh giá có hệ thống về đặc điểm văn chương, thế giới nghệ thuật, vị trí và đóng góp của tác giả.
- Nghiên cứu hệ thống tác phẩm, các giai đoạn sáng tác, quan niệm văn chương và đặc điểm các thể loại chính (truyện ngắn, tiểu thuyết, ký); từ đó rút ra các đặc trưng cơ bản về đề tài, thế giới nhân vật, người kể chuyện, ngôn ngữ và giọng điệu.
- Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Nhiệm vụ 1: Tập hợp, thống kê, phân loại các tác phẩm của Ngọc Giao theo giai đoạn sáng tác và thể loại.
- Nhiệm vụ 2: Tìm hiểu tình hình chính trị, xã hội, các mối giao lưu, tiếp biến văn hóa và tác động của các yếu tố chủ quan, khách quan đến quá trình sáng tác cùng đặc trưng bút pháp của tác giả.
- Nhiệm vụ 3: Đi sâu phân tích, lý giải các giá trị nội dung và nghệ thuật của tác phẩm cụ thể để rút ra nhận xét khái quát về từng thể loại trong từng giai đoạn và đặc điểm chung của văn xuôi Ngọc Giao.
- Nhiệm vụ 4: Khẳng định nét đặc trưng nội dung, nghệ thuật; đánh giá phong cách, vị trí và đóng góp của nhà văn trong tiến trình văn học Việt Nam thế kỷ XX.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Toàn bộ tác phẩm văn xuôi của nhà văn Ngọc Giao trong tiến trình văn học Việt Nam hiện đại.
- Phạm vi nghiên cứu: Khảo sát các tác phẩm văn xuôi tiêu biểu thuộc thể loại truyện ngắn, tiểu thuyết và ký đã được xuất bản, tái bản của Ngọc Giao. Đồng thời, luận án sử dụng các sáng tác của các tác giả cùng thời (như Thạch Lam, Thanh Tịnh, Hồ Dzếnh, Nguyễn Công Hoan, Nam Cao, Vũ Trọng Phụng...) làm tài liệu đối sánh.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án đã tổng hợp và phân loại lịch sử nghiên cứu về tác giả Ngọc Giao theo ba giai đoạn:
+-----------------------------------------------------------------------------------+
| TIẾN TRÌNH TIẾP NHẬN VĂN XUÔI NGỌC GIAO |
+-------------------+---------------------------------------------------------------+
| Giai đoạn | Các tác giả, công trình và nhận định tiêu biểu |
+-------------------+---------------------------------------------------------------+
| Trước 1945 | - Phùng Tất Đắc (1936): Nhận xét về "đặc tính luân lý" trong |
| | tập "Một đêm vui". |
| | - Trúc Đường (1939): Khẳng định Ngọc Giao là "văn sĩ của |
| | Đau khổ, của Tình thương" qua tập "Phấn hương". |
| | - Vũ Ngọc Phan (1942, "Nhà văn hiện đại"): Đánh giá sở trường |
| | về lối văn "đạo tình", tả "tình sầu, tình uất". |
+-------------------+---------------------------------------------------------------+
| 1945 - 1985 | - Tam Lang (1950): Giới thiệu tiểu thuyết "Đất" (Nxb Cây |
| | thông), ghi nhận tinh thần bám đất của người dân vùng tề. |
| | - Nguyễn Bắc (1963): Bài viết trên Tạp chí Văn học phê phán |
| | các tiểu thuyết giai đoạn 1947-1954 theo góc nhìn chính trị.|
| | - Trần Huy Liệu, Đặng Thai Mai: Nhìn nhận khách quan về hoàn |
| | cảnh viết trong lòng địch của Ngọc Giao. |
+-------------------+---------------------------------------------------------------+
| Sau 1986 đến nay | - Lời giới thiệu tái bản "Cô gái làng Sơn Hạ" (Nxb Văn học, |
| | 1989): Ghi nhận sức sáng tạo phong phú của tác giả. |
| | - Hoài Anh (2001, Tạp chí Văn số 15): Khẳng định tấm lòng |
| | thương người nghèo khổ của ngòi bút Ngọc Giao. |
| | - Phong Lê (1999, 2010, 2014): Phân tích vị trí "giao thoa |
| | lãng mạn và hiện thực", hơi văn hoài cảm, trữ tình. |
| | - Lê Văn Ba, Trần Ngọc Hiếu: Đánh giá mảng tiểu thuyết |
| | Hà Nội tạm chiếm ("Quán gió", "Người Hà Nội"). |
+-------------------+---------------------------------------------------------------+
Khoảng trống luận án giải quyết
Mặc dù đã có một số công trình ghi nhận sự đóng góp của Ngọc Giao, phần lớn các bài viết chỉ tiếp cận từng tác phẩm riêng lẻ hoặc phác thảo chân dung tiểu sử. Luận án này là công trình đầu tiên khảo sát toàn diện hệ thống văn xuôi của Ngọc Giao, đặt tác giả vào toàn bộ tiến trình hiện đại hóa văn học thế kỷ XX, từ nhóm Tân Dân trước 1945, qua mảng văn học đô thị tạm chiếm 1947–1954, cho đến giai đoạn hồi sinh sau Đổi mới 1986.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết và khái niệm
Luận án xây dựng cơ sở lý thuyết dựa trên các quan niệm về "hiện đại", "hiện đại hóa văn học" và "tiến trình văn học hiện đại Việt Nam":
- Tiếp thu định nghĩa hiện đại hóa từ các công trình từ điển của Hoàng Phê và các nghiên cứu lý luận của Trần Đình Sử (về sự thay đổi hệ hình tư duy, hệ thống giá trị, thoát khỏi tính quy phạm của thi pháp trung đại).
- Vận dụng quan điểm phân kỳ tiến trình văn học hiện đại qua ba chặng của Nguyễn Đăng Điệp, Phong Lê, Trần Nho Thìn, Phan Cự Đệ: chặng 1 (đầu thế kỷ XX – 1945), chặng 2 (1945 – 1985), và chặng 3 (1986 đến nay).
- Kết hợp các lý thuyết nghiên cứu văn học chuyên ngành: thi pháp học, lý thuyết tự sự học (người kể chuyện, điểm nhìn, giọng điệu), thuyết hiện sinh, văn hóa học, phê bình nữ quyền và phê bình sinh thái.
Phương pháp nghiên cứu
Luận án áp dụng kết hợp 5 phương pháp nghiên cứu định tính chủ đạo:
- Phương pháp nghiên cứu văn học sử: Đặt tác phẩm Ngọc Giao vào bối cảnh lịch sử, xã hội để nhận diện sự vận động văn nghiệp và đóng góp của tác giả qua từng giai đoạn.
- Phương pháp tiếp cận thi pháp: Phân tích cấu trúc tác phẩm cụ thể để chỉ ra đặc trưng thể loại, nghệ thuật xây dựng nhân vật, tổ chức trần thuật và ngôn từ nghệ thuật.
- Phương pháp nghiên cứu liên ngành: Kết hợp tri thức lịch sử, văn hóa, xã hội học để lý giải nguyên nhân hình thành thế giới quan và cảm quan nghệ thuật của nhà văn.
- Phương pháp so sánh: Đối sánh văn xuôi Ngọc Giao với các cây bút lãng mạn và hiện thực cùng thời (như Tự lực văn đoàn, nhóm Tân Dân, Thạch Lam, Nam Cao, Vũ Bằng).
- Phương pháp nghiên cứu hệ thống: Khảo sát các thành tố nội dung và hình thức nghệ thuật trong một chỉnh thể thống nhất của phong cách tác giả.
Bên cạnh đó, tác giả sử dụng các thao tác loại hình học và thống kê – phân loại văn bản.
Nguồn tư liệu nghiên cứu
- Văn bản tác phẩm của Ngọc Giao: Các tập truyện ngắn Một đêm vui (1936/1937), Phấn hương (1939), Cô gái làng Sơn Hạ (1942); các tiểu thuyết Nhà quê (1944), Con người (1947), Quán gió (1949), Đất (1950), Xã Bèo người của đất (1951), Mưa thu (1953), Cầu sương (1953); phóng sự Người Hà Nội (1950); bút ký Những bàn tay (1955), Truyện Thôn Kiều (1956), di cảo Xóm Rá và tuyển tập Hà Nội cũ nằm đây (2010).
- Báo chí và ấn phẩm định kỳ: Tiểu thuyết thứ Bảy, Tao Đàn, Phổ thông bán nguyệt san, Ích Hữu, Truyền bá, Cậu ấm cô chiêu, Ngọ báo, Bạn dân, Lẽ sống, Lên đường, Công tội.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Chương 1 thiết lập nền tảng lý luận văn học sử và tổng thuật lịch sử vấn đề:
- Tiến trình hiện đại hóa văn học: Phân tích quá trình chuyển dịch hệ hình từ thi pháp trung đại (ước lệ, sùng cổ, phi ngã, văn-sử-triết bất phân) sang thi pháp hiện đại (đề cao cá tính sáng tạo, cái tôi cá nhân, chữ Quốc ngữ, ngôn ngữ đời thường). Phân tích các yếu tố thúc đẩy gồm: sự xuất hiện của tầng lớp trí thức Tây học, công chúng thị dân, báo chí, hoạt động dịch thuật, thị trường văn hóa và cảm quan đô thị.
- Môi trường văn học Tân Dân: Khảo sát hoạt động của Nhà xuất bản Tân Dân do Vũ Đình Long sáng lập và vai trò của tuần báo Tiểu thuyết thứ Bảy. Luận án xác định vị trí của Ngọc Giao trong vai trò thư ký tòa soạn – người góp phần tổ chức bản thảo và định hình phong cách cho dòng văn xuôi lãng mạn giàu chất hiện thực.
- Lịch sử nghiên cứu: Phân tích chi tiết các luồng tiếp nhận qua ba giai đoạn trước 1945, 1945–1985 và sau 1986, khẳng định tính tất yếu của việc đánh giá lại toàn bộ sự nghiệp Ngọc Giao.
Chương 2: Văn xuôi Ngọc Giao trong bối cảnh xã hội thế kỉ XX
Chương này tập trung vào tiểu sử học thuật, bối cảnh hình thành văn nghiệp và quan niệm nghệ thuật của tác giả:
- Cơ sở hình thành văn xuôi Ngọc Giao: Phân tích nền tảng xuất thân gia đình trí thức Nho học và Tây học, quá trình học tập tại trường Bưởi, năng lực Pháp văn và vốn văn hóa đô thị Hà Nội. Mối quan hệ giao lưu rộng rãi với giới văn nghệ sĩ đương thời (Nguyễn Công Hoan, Tam Lang, Vũ Trọng Phụng, Lan Khai, Tchya, Nguyên Hồng, Nam Cao, Tô Hoài...).
- Quá trình sáng tác qua các chặng:
- Chặng 1929–1945: Bắt đầu từ truyện ngắn Bến đò rừng (1929) trên Ngọ báo, định hình bút pháp qua ba tập truyện ngắn Một đêm vui, Phấn hương, Cô gái làng Sơn Hạ và tiểu thuyết Nhà quê (1944). Văn xuôi thời kỳ này kết hợp cảm quan lãng mạn với sự quan sát hiện thực đời thường.
- Chặng 1945–1985: Quá trình tản cư về Bắc Ninh, Yên Thế và việc quay trở lại Hà Nội tạm chiếm để sinh sống và viết báo. Đây là giai đoạn ra đời hàng loạt tác phẩm: phóng sự Người Hà Nội (1950), các tiểu thuyết Đất (1950), Xã Bèo người của đất (1951), Quán gió (1949), Mưa thu (1953), Cầu sương (1953). Luận án ghi nhận biến cố kiểm duyệt, việc tác giả tự đốt bản thảo năm 1956 tại nhà riêng (14 Đặng Dung, Hà Nội) và việc viết dở di cảo Xóm Rá.
- Chặng 1986–1997: Sự hồi sinh ngòi bút của Ngọc Giao trong thập niên cuối đời nhờ không khí cởi mở của thời kỳ Đổi mới.
- Quan niệm nghệ thuật: Ngọc Giao quan niệm văn chương là phương tiện thực thi luân lý, biểu đạt tình thương, đề cao lẽ sống nhân đạo, hướng tới sự cứu rỗi và nâng đỡ những kiếp người yếu thế.
Chương 3: Đề tài và nhân vật văn xuôi Ngọc Giao trong tiến trình văn học hiện đại Việt Nam
Chương 3 đi sâu khảo sát hệ thống đề tài và nghệ thuật xây dựng nhân vật:
- Hệ thống đề tài chính:
- Đề tài nông thôn và thân phận người nông dân: Thể hiện qua tiểu thuyết Nhà quê, Đất, Xã Bèo người của đất. Khác với ngòi bút hiện thực trào phúng của Nguyễn Công Hoan hay phân tích tâm lý giai cấp của Nam Cao, Ngọc Giao nhìn nông thôn như không gian thuần hậu, đồng thời khắc họa nỗi thống khổ của người nông dân vùng tề bị kẹp giữa bom đạn và ách kìm kẹp của thực dân, phải bám đất để sinh tồn.
- Đề tài đời sống thị dân, người trí thức và bi kịch thế sự: Thể hiện qua Quán gió, Mưa thu, Cầu sương, Người Hà Nội. Tác giả khai thác chiều sâu tâm tư của tầng lớp tiểu tư sản, nghệ sĩ, trí thức trong hoàn cảnh biến loạn, chia lìa, tha hóa môi trường sống.
- Thế giới nhân vật và nghệ thuật xây dựng nhân vật:
- Kiểu nhân vật tha hương, phiêu bạt: Những con người trôi dạt giữa thành thị và thôn quê, mang mặc cảm cô đơn và hoài niệm.
- Kiểu nhân vật phụ nữ chịu nhiều thiệt thòi, nhẫn nhục: Khắc họa số phận người phụ nữ lam lũ, giàu đức hy sinh nhưng gặp nhiều trắc trở trong tình duyên và đời sống gia đình thời chiến.
- Kiểu nhân vật trí thức dằn vặt nội tâm: Khảo sát tâm lý phức tạp, các ẩn ức tình cảm và xung đột giữa lý tưởng sống với thực tế đời thường (như nhân vật Thái trong Nhà quê, Khải trong Quán gió, bác sĩ Cung trong Cầu sương).
Chương 4: Người kể chuyện, ngôn ngữ và giọng điệu văn xuôi Ngọc Giao trong tiến trình văn học hiện đại Việt Nam
Chương 4 khảo sát các phương diện hình thức và kỹ thuật tự sự:
- Người kể chuyện và điểm nhìn trần thuật:
- Sự dịch chuyển linh hoạt giữa người kể chuyện ngôi thứ ba toàn tri và người kể chuyện ngôi thứ nhất xưng "tôi" mang tính tự truyện, trữ tình.
- Điểm nhìn trần thuật mang tính thấu cảm, đặt sâu vào thế giới nội tâm của nhân vật thay vì chỉ miêu tả hành động bên ngoài.
- Đặc điểm ngôn ngữ nghệ thuật:
- Ngôn ngữ văn xuôi giàu chất thơ, giàu nhạc tính và hình ảnh, kế thừa nét thanh lịch của tiếng Việt đô thị Hà Nội.
- Sự kết hợp giữa chất văn trau chuốt, biểu cảm với ngôn ngữ báo chí hiện đại, ngắn gọn, giàu tính thời sự và đối thoại đời thường.
- Giọng điệu nghệ thuật:
- Giọng điệu trữ tình - hoài cảm: Âm hưởng chủ đạo xuyên suốt các tập truyện ngắn và tiểu thuyết, tạo ra sắc thái bảng lảng, u buồn.
- Giọng điệu xót thương, trắc ẩn: Thể hiện trực tiếp qua thái độ đồng cảm sâu sắc với các cảnh đời cơ cực, đau thương.
- Giọng điệu triết lý - đạo tình: Những suy ngẫm về thế thái nhân tình, luân lý và giá trị của sự lương thiện được đan cài tự nhiên trong dòng trần thuật.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp mới về mặt khoa học
- Luận án là công trình chuyên khảo đầu tiên nghiên cứu có hệ thống và bao quát toàn bộ di sản văn xuôi của Ngọc Giao trong suốt chiều dài thế kỷ XX.
- Chỉ ra vị trí đặc thù của Ngọc Giao: một cây bút nằm ở vùng giao thoa giữa khuynh hướng lãng mạn và hiện thực; một tác giả quan trọng của Nhà xuất bản Tân Dân trước 1945 và là gương mặt tiêu biểu của văn học đô thị Hà Nội tạm chiếm giai đoạn 1947–1954.
Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
- Ý nghĩa lý luận: Góp phần cụ thể hóa các luận điểm về tiến trình hiện đại hóa văn học Việt Nam; cung cấp cứ liệu khoa học để đánh giá đúng đắn tính đa dạng, phức tạp của diện mạo văn học các vùng đô thị tạm chiếm giai đoạn 1947–1954.
- Ý nghĩa thực tiễn:
- Phục dựng đầy đủ chân dung văn học của nhà văn Ngọc Giao, trả lại vị trí thỏa đáng cho tác giả trong lịch sử văn học dân tộc.
- Cung cấp tài liệu tham khảo cho việc giảng dạy, học tập và nghiên cứu văn học Việt Nam hiện đại tại các trường đại học, viện nghiên cứu.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Luận án tập trung khảo sát mảng văn xuôi hư cấu và ký đã được công bố; một số bản thảo bị thất lạc hoặc tác giả tự tiêu hủy trong lịch sử (như tập 2 của tiểu thuyết Đất) chưa có điều kiện tiếp cận đầy đủ nguồn văn bản gốc.
- Hướng nghiên cứu tiếp:
- Sưu tầm, phục dựng và khảo sát mảng tư liệu dịch thuật và các bài báo, tiểu luận của Ngọc Giao trên các báo Tiểu thuyết thứ Bảy, Cậu ấm cô chiêu, Truyền bá.
- Nghiên cứu so sánh sâu hơn giữa văn học đô thị Hà Nội tạm chiếm (1947–1954) với văn học đô thị miền Nam (1954–1975) qua lăng kính thi pháp học hiện đại.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu hữu ích cho:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên ngành Ngữ văn: Tham khảo về phương pháp tiếp cận tác gia văn học, thi pháp tự sự học và lịch sử văn học Việt Nam hiện đại.
- Giảng viên và nhà nghiên cứu văn học sử: Bổ sung tư liệu giảng dạy chuyên đề về văn học giai đoạn 1930–1945, văn học nhóm Tân Dân, và bộ phận văn học đô thị Hà Nội giai đoạn 1947–1954.
- Các nhà nghiên cứu văn hóa, xuất bản và báo chí: Khảo sát vai trò của các nhà xuất bản tư nhân, cơ chế vận hành của báo chí văn học thời kỳ đầu thế kỷ XX.
Câu hỏi thường gặp
1. Nhà văn Ngọc Giao giữ vai trò gì trong nhóm Tân Dân và tuần báo Tiểu thuyết thứ Bảy?
Ngọc Giao giữ vai trò thư ký tòa soạn tuần báo Tiểu thuyết thứ Bảy trực thuộc Nhà xuất bản Tân Dân do Vũ Đình Long sáng lập. Ông phụ trách công tác sắp xếp, duyệt và biên tập bài vở, đồng thời là cây bút sáng tác chủ chốt, đăng tải nhiều truyện ngắn, ký và tiểu thuyết trên các ấn phẩm của nhóm.
2. Vì sao sự nghiệp văn chương của Ngọc Giao từng bị gián đoạn và lãng quên trong giai đoạn 1945–1985?
Do hoàn cảnh lịch sử và việc Ngọc Giao lựa chọn sống, viết tại vùng tề và nội thành Hà Nội giai đoạn 1947–1954, các tác phẩm của ông (tiêu biểu như tiểu thuyết Đất) bị phê bình mang tính xã hội học quy chụp (như bài viết năm 1963 của Nguyễn Bắc). Điều này khiến ông chịu nhiều định kiến, dẫn đến việc phải gác bút và tên tuổi bị khuất lấp suốt nhiều thập kỷ.
3. Tiểu thuyết "Đất" (1950) của Ngọc Giao phản ánh nội dung gì và có số phận văn bản ra sao?
Tiểu thuyết Đất phản ánh cuộc sống nghèo khổ, nhẫn nhục và tinh thần bám đất, giữ làng của người nông dân vùng tề (Bắc Ninh) trong kháng chiến chống Pháp. Tác phẩm bị mật thám Pháp theo dõi và sau đó chịu định kiến từ dư luận chính trị. Bản thảo phần 2 của tác phẩm đã bị tác giả tự tay đốt vào năm 1956 và không được xuất bản.
4. Bút pháp văn xuôi của Ngọc Giao có đặc điểm gì nổi bật so với các tác giả cùng thời?
Văn xuôi Ngọc Giao nằm ở điểm giao thoa giữa khuynh hướng lãng mạn và hiện thực. Ngòi bút của ông không thiên hẳn về trào phúng như Nguyễn Công Hoan, không gay gắt như Nam Cao hay duy mỹ tuyệt đối như Tự lực văn đoàn, mà mang tính trữ tình - hoài cảm, sử dụng ngôn từ thanh lịch, giàu nhạc tính và tập trung thể hiện lòng trắc ẩn, tình thương đối với con người.
Kết luận
Luận án tiến sĩ "Văn xuôi Ngọc Giao trong tiến trình văn học hiện đại Việt Nam" đã phục dựng bức tranh toàn diện và hệ thống về cuộc đời, sự nghiệp sáng tác của nhà văn Ngọc Giao trong dòng chảy văn học thế kỷ XX. Thông qua việc phân tích sâu sắc các phương diện đề tài, thế giới nhân vật, người kể chuyện, ngôn ngữ và giọng điệu, luận án khẳng định Ngọc Giao là một cây bút có phong cách nghệ thuật giàu chất nhân văn, trữ tình đan xen hiện thực. Công trình góp phần bù lấp khoảng trống văn học sử, đánh giá đúng mực những đóng góp của tác giả đối với nhóm Tân Dân và văn học đô thị Hà Nội giai đoạn tạm chiếm 1947–1954.