Diễn ngôn trần thuật trong sáng tác văn xuôi hư cấu của tác giả nữ Việt Nam đương đại

Luận án tiến sĩ phân tích diễn ngôn trần thuật trong văn xuôi hư cấu của các tác giả nữ Việt Nam đương đại, làm rõ phong cách và đóng góp văn học.

Chuyên ngành

Văn học Việt Nam

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2023

253
13
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1. Tổng quan về diễn ngôn

1.1.1. Diễn ngôn – ba hướng tiếp cận khái niệm và hướng tiếp cận của luận án

1.1.2. Các khái niệm công cụ

1.1.3. Diễn ngôn của chủ thể trần thuật nữ. Lối viết nữ giới đặc trưng

1.1.4. Đặc tính tự thuật

1.1.5. Xu hướng nữ quyền trong sáng tác nữ

1.1.6. Tổng quan về lịch sử nghiên cứu vấn đề diễn ngôn trong văn học Việt Nam

1.1.7. Các công trình nghiên cứu về diễn ngôn từ góc độ lí thuyết

1.1.8. Các công trình nghiên cứu về diễn ngôn từ thực tiễn ứng dụng

1.2. Diễn ngôn trong sáng tác văn xuôi hư cấu của tác giả nữ Việt Nam đương đại nhìn từ chủ thể và mã trần thuật

1.2.1. Chủ thể trần thuật nữ trong sáng tác nữ đương đại

1.2.2. Các hình thức xuất hiện của chủ thể trần thuật nữ trong sáng tác nữ

1.2.3. Chủ thể trần thuật nữ xuất hiện với người trần thuật có tiêu điểm zero (phi tiêu điểm)

1.2.4. Chủ thể trần thuật xuất hiện với người trần thuật có tiêu điểm bên trong

1.2.5. Chủ thể trần thuật xuất hiện với người trần thuật có tiêu điểm bên ngoài

1.2.6. Mã trần thuật của chủ thể nữ trong sáng tác văn xuôi hư cấu nữ đương đại

1.2.7. Mã hình tượng, biểu tượng

1.3. Diễn ngôn trần thuật trong sáng tác văn xuôi hư cấu của tác giả nữ Việt Nam đương đại nhìn từ ý thức nữ quyền

1.3.1. Thiên chức và ý thức cá nhân gắn với “giới thứ hai”. Thiên chức nữ giới

1.3.2. Ý thức giải phóng cái “Tôi” cá nhân

1.3.3. Ý thức cộng sinh trong môi trường sinh thái tự nhiên và sinh thái tinh thần

1.3.4. Ý thức cộng sinh trong môi trường sinh thái tự nhiên

1.3.5. Ý thức cộng sinh trong môi trường sinh thái tinh thần

1.3.6. Thiên tính nữ trong nếp sống và cách hành xử trước các tình huống đời sống

1.3.7. Thiên tính nữ trong nếp sống

1.3.8. Thiên tính nữ trong cách hành xử trước các tình huống đời sống

1.4. Diễn ngôn trần thuật trong sáng tác văn xuôi hư cấu của tác giả nữ Việt Nam đương đại nhìn từ các lớp diễn ngôn

1.4.1. Đặc điểm cấu trúc diễn ngôn của người kể chuyện trong sáng tác nữ đương đại

1.4.2. Diễn ngôn kể

1.4.3. Diễn ngôn tả

1.4.4. Diễn ngôn bình luận

1.4.5. Đặc điểm cấu trúc diễn ngôn của nhân vật trong sáng tác nữ đương đại

1.4.6. Diễn ngôn độc thoại

1.4.7. Diễn ngôn đối thoại

1.4.8. “Thiên tính nữ” trong cách tổ chức hòa phối các lớp diễn ngôn trần thuật

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Luận án tiến sĩ

Luận án tiến sĩ của Thái Thị Phương Thảo tập trung vào diễn ngôn trần thuật trong văn xuôi hư cấu của các tác giả nữ Việt Nam đương đại. Nghiên cứu này nhằm khám phá các đặc điểm nổi bật của diễn ngôn trần thuật, từ đó đánh giá đóng góp của các tác giả nữ trong việc hiện đại hóa văn học Việt Nam. Luận án sử dụng các phương pháp nghiên cứu liên ngành, kết hợp phân tích văn họctự sự học, để làm rõ các yếu tố cấu trúc và ngữ nghĩa trong tác phẩm văn xuôi hư cấu.

1.1. Mục đích nghiên cứu

Mục đích chính của luận án tiến sĩ là tìm hiểu sâu về diễn ngôn trần thuật trong văn xuôi hư cấu của các tác giả nữ Việt Nam đương đại. Nghiên cứu này nhằm khẳng định vai trò và đóng góp của các nhà văn nữ trong việc đổi mới và hiện đại hóa văn học Việt Nam. Luận án cũng hướng đến việc phân tích các yếu tố cấu trúc, ngữ nghĩa và nghệ thuật trần thuật trong tác phẩm, từ đó đưa ra những đánh giá toàn diện về giá trị thẩm mỹ và tư tưởng của các tác phẩm này.

1.2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận án tiến sĩ là các tác phẩm văn xuôi hư cấu của các tác giả nữ Việt Nam đương đại, bao gồm truyện ngắn và tiểu thuyết. Luận án tập trung vào các tác giả tiêu biểu như Võ Thị Hảo, Phạm Thị Hoài, Dạ Ngân, và Nguyễn Thị Thu Huệ. Phạm vi nghiên cứu được giới hạn trong các tác phẩm xuất bản từ năm 1986 đến nay, nhằm khám phá sự đổi mới và phát triển của văn học nữ trong giai đoạn này.

II. Diễn ngôn trần thuật

Diễn ngôn trần thuật là trọng tâm của luận án tiến sĩ, được phân tích từ nhiều góc độ khác nhau. Nghiên cứu này tập trung vào cách thức các tác giả nữ Việt Nam đương đại sử dụng diễn ngôn để thể hiện tư tưởng và phong cách nghệ thuật. Luận án cũng khám phá các yếu tố như điểm nhìn, giọng điệu, và cấu trúc trần thuật, từ đó làm rõ vai trò của diễn ngôn trong việc kiến tạo giá trị nghệ thuật và tư tưởng của tác phẩm.

2.1. Chủ thể trần thuật nữ

Chủ thể trần thuật nữ là một trong những yếu tố quan trọng được phân tích trong luận án tiến sĩ. Nghiên cứu này khám phá các hình thức xuất hiện của chủ thể trần thuật nữ trong văn xuôi hư cấu, bao gồm người trần thuật có tiêu điểm zero, tiêu điểm bên trong, và tiêu điểm bên ngoài. Các hình thức này giúp làm rõ cách thức các tác giả nữ Việt Nam đương đại thể hiện quan điểm và tư tưởng của mình thông qua diễn ngôn trần thuật.

2.2. Mã trần thuật

Mã trần thuật là một khái niệm quan trọng trong luận án tiến sĩ, được sử dụng để phân tích các yếu tố hình tượng và biểu tượng trong văn xuôi hư cấu của các tác giả nữ Việt Nam đương đại. Nghiên cứu này tập trung vào cách thức các mã trần thuật được sử dụng để thể hiện ý thức nữ quyền và thiên tính nữ trong tác phẩm, từ đó làm rõ giá trị nghệ thuật và tư tưởng của các tác phẩm này.

III. Văn xuôi hư cấu

Văn xuôi hư cấu là thể loại chính được nghiên cứu trong luận án tiến sĩ, với trọng tâm là các tác phẩm của tác giả nữ Việt Nam đương đại. Nghiên cứu này khám phá sự đổi mới và phát triển của thể loại này trong giai đoạn từ năm 1986 đến nay, đặc biệt là sự đóng góp của các nhà văn nữ trong việc hiện đại hóa văn học Việt Nam. Luận án cũng phân tích các yếu tố cấu trúc và ngữ nghĩa trong văn xuôi hư cấu, từ đó làm rõ giá trị nghệ thuật và tư tưởng của các tác phẩm này.

3.1. Đặc điểm cấu trúc

Đặc điểm cấu trúc của văn xuôi hư cấu là một trong những yếu tố được phân tích sâu trong luận án tiến sĩ. Nghiên cứu này tập trung vào cách thức các tác giả nữ Việt Nam đương đại sử dụng các yếu tố cấu trúc như điểm nhìn, giọng điệu, và thời gian trần thuật để thể hiện tư tưởng và phong cách nghệ thuật. Các phân tích này giúp làm rõ giá trị nghệ thuật và tư tưởng của các tác phẩm văn xuôi hư cấu trong giai đoạn hiện đại.

3.2. Ngữ nghĩa trong văn học

Ngữ nghĩa trong văn học là một khía cạnh quan trọng được nghiên cứu trong luận án tiến sĩ. Nghiên cứu này khám phá cách thức các tác giả nữ Việt Nam đương đại sử dụng ngôn ngữ để thể hiện ý thức nữ quyền và thiên tính nữ trong văn xuôi hư cấu. Các phân tích ngữ nghĩa giúp làm rõ giá trị tư tưởng và thẩm mỹ của các tác phẩm, từ đó đánh giá đóng góp của các nhà văn nữ trong việc hiện đại hóa văn học Việt Nam.

01/03/2025
Luận án tiến sĩ diễn ngôn trần thuật trong sáng tác văn xuôi hư cấu của tác giả nữ việt nam đương đại

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu: Giới thuyết các khái niệm, công cụ cơ bản và xác định cơ sở lí luận cho việc nghiên cứu đối tượng ở ba chương sau. Diễn ngôn trong sáng tác văn xuôi hư cấu của các tác giả nữ Việt Nam đương đại nhìn từ chủ thể và mã trần thuật: Nghiên cứu về các vấn đề diễn ngôn gắn với chủ thể trần thuật nữ và mã trần thuật (đề tài, thể loại, hình tượng, biểu tượng). Diễn ngôn trần thuật trong sáng tác văn xuôi hư cấu của các tác giả nữ Việt Nam đương đại nhìn từ ý thức nữ quyền: Nghiên cứu những biểu hiện nữ quyền của tác giả nữ trên phương diện ý thức: về vấn đề thiên chức và ý thức cá nhân gắn với ý thức về “giới thứ hai”; ý thức cộng sinh trong môi trường sinh thái tự nhiên và sinh thái tinh thần; thiên tính nữ trong nếp sống và cách hành xử trước các tình huống đời sống.

Diễn ngôn trần thuật trong sáng tác văn xuôi hư cấu của các tác giả nữ Việt Nam đương đại nhìn từ các lớp phát ngôn: Nghiên cứu các vấn đề đặc điểm cấu trúc diễn ngôn của người kể chuyện, đặc điểm cấu trúc diễn ngôn của nhân vật trong sáng tác nữ đương đại và “thiên tính nữ” trong cách tổ chức hòa phối các lớp diễn ngôn trần thuật. TỔNG QUAN VỂ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan về diễn ngôn 1. Diễn ngôn – ba hướng tiếp cận khái niệm và hướng tiếp cận của luận án 1.

Ba hướng tiếp cận khái niệm (ngữ học, phong cách học, xã hội học) “Diễn ngôn” (Discourse) là thuật ngữ mới được đề xuất bởi các nhà lí luận phương Tây thế kỉ XX. Từ trước thế kỉ XX, khái niệm diễn ngôn đã xuất hiện, song ở giai đoạn này, phạm vi sử dụng của nó chủ yếu bó hẹp trong lĩnh vực ngôn ngữ học và diễn ngôn thường được hiểu theo nghĩa là tu từ học. Từ thế kỉ XX đến nay, trong bối cảnh sự chuyển hướng mạnh mẽ của hệ hình lí thuyết (hay còn gọi là khúc ngoặt ngôn ngữ), diễn ngôn đã được bổ sung thêm những hàm nghĩa mới, gắn liền với một mô hình nghiên cứu văn học, văn hóa hoàn toàn mới, đồng thời trở thành một trong những thuật ngữ mang tính chất chìa khóa trong các ngành khoa học xã hội và nhân văn. Hiện nay, diễn ngôn xuất hiện rất nhiều trong các nghiên cứu ở nhiều lĩnh vực khác nhau, nói như Trần Đình Sử là “nhiều đến mức không sao có thể định nghĩa thông suốt hết” (Trần Đình Sử, 2013).

Vì vậy, việc xác lập một cách hiểu thống nhất về diễn ngôn là điều không dễ dàng bởi đây là khái niệm khoa học có tính liên ngành, đa ngành, đa nghĩa. Có thể nói đây là khái niệm còn bỏ ngỏ bởi mỗi người nghiên cứu sử dụng theo cách hiểu riêng của mình, người đọc phải căn cứ vào ngữ cảnh để hiểu cách dùng trong từng trường hợp cụ thể. David Nunan đưa ra quan điểm: “… thuật ngữ diễn ngôn lại để chỉ việc giải thuyết sự kiện giao tiếp trong ngữ cảnh” (David Nunan, 1997, tr. Trần Đình Sử cho rằng: “Trong lí luận hiện nay có ba khuynh hướng nghiên cứu.

Một là ngữ học do các nhà ngữ học đề xuất. Hai là lí luận văn học do M. Bakhtin nêu ra và ba là xã hội học, lịch sử tư tưởng mà tiêu biểu là M. Trong thực tế, ba khuynh hướng nghiên cứu này như ba vòng tròn đồng tâm và trong quá trình phát triển, chúng sẽ giao thoa, xâm lấn, tác động, ảnh hưởng vào địa hạt của nhau khiến cho ranh giới giữa chúng bị nhòe mờ.

Trong luận án của mình, chúng tôi cố gắng nắm bắt những dòng mạch chính trong nghiên cứu diễn ngôn hiện nay, phác thảo ba cách tiếp cận chủ yếu, đồng thời giới thiệu n 8 những tư tưởng gia và những quan điểm lí thuyết có ảnh hưởng lớn nhất trong nghiên cứu diễn ngôn. Trên cơ sở đó xác định một cách tiếp cận khả dụng, phù hợp với đối tượng và mục tiêu nghiên cứu. * Hướng tiếp cận ngôn ngữ học Trong thực tiễn nghiên cứu về diễn ngôn ở Phương Tây, khái niệm diễn ngôn trước hết thuộc lĩnh vực ngôn ngữ học, là sản phẩm được tạo ra từ “bước ngoặt ngôn ngữ”. Nói tới “bước ngoặt ngôn ngữ”, các nhà nghiên cứu đều nhắc đến F.

de Sausure và tư tưởng học thuật của ông. Phần lớn họ cho rằng ngôn ngữ học cấu trúc của F. de Saussure có hạn chế lớn là đem đối lập ngôn ngữ với lời nói. Saussure cho rằng ngôn ngữ là một hệ thống, một kết cấu tinh thần trừu tượng, khái quát trong khi lời nói là sự vận động của ngôn ngữ trong mọi cảnh huống cụ thể, được sử dụng bởi một cá nhân cụ thể; ngôn ngữ là kho tàng của cộng đồng, còn lời nói là hướng đi của cá thể.

Theo đó, ngôn ngữ học chỉ nghiên cứu phương diện ngôn ngữ (bao gồm hệ thống các nguyên tắc chi phối sự vận dụng ngôn ngữ như ngữ âm, từ vựng, cú pháp) còn lời nói do thuộc sở hữu của các cá nhân nên không nằm trong đối tượng xem xét của ngôn ngữ học. Sự đối lập lời nói/ngôn ngữ trong quan điểm của Saussure đã làm nền tảng cho sự phân biệt giữa discourse (diễn ngôn) và text (văn bản). Văn bản (text) là cấu trúc ngôn ngữ mang tính chất tĩnh, còn diễn ngôn (discourse) là cấu trúc lời nói mang tính động. Dần dần, nhận thấy sự thiên lệch trong nghiên cứu của Saussure, một số nhà ngôn ngữ học thấy cần thiết phải nghiên cứu lời nói, nghiên cứu diễn ngôn.

Sự xuất hiện của thuật ngữ diễn ngôn hẳn nhiên phải xuất phát từ chính nhược điểm vừa nêu, đúng như nhận định của nhà nghiên cứu Trần Đình Sử: “Một thuật ngữ mới chỉ xuất hiện khi nào phát hiện chỗ khiếm khuyết trong hệ hình tiếp cận cũ” (Trần Đình Sử, 2013). Trên cơ sở sự đối lập giữa văn bản và diễn ngôn, vào những năm 1960, ngôn ngữ học đã rẽ sang hai hướng: một hướng đi sâu nghiên cứu cấu trúc nội tại của các văn bản như một hệ thống chỉnh thể, khép kín và biệt lập, và hướng còn lại, chuyên nghiên cứu cấu trúc diễn ngôn trong mối quan hệ với ngữ cảnh phát ngôn, nhân vật phát ngôn… Từ quan điểm của Saussure, các tác giả tiêu biểu của trường phái cấu trúc như R. Genette đã tiếp tục bổ sung và phát triển các n 9 định nghĩa về diễn ngôn. Họ xem diễn ngôn như một đơn vị lớn hơn câu và phân tích diễn ngôn chính là phân tích những yếu tố cấu tạo nên câu đó.

Trong Nhập môn phân tích cấu trúc truyện kể, R. Barthes cho rằng: Bất cứ văn bản tự sự nào cũng đều xây dựng theo mô hình câu mặc dù nó không phải là tổng thể các câu, bất cứ một truyện nào cũng là một câu lớn và câu kể chính là sự tỉnh lược của một truyện nhỏ. Trong văn bản tự sự có thể tìm thấy sự hiện diện của các phạm trù cơ bản như thể, thời, dạng, ngôi. Hơn nữa, ngay cả các chủ thể lẫn cụm chủ vị trong văn bản cũng đều tuân theo các quy tắc cấu tạo câu.

(Đỗ Lai Thúy, 2004) Chính vì quan niệm như thế, R. Barthes đã phân tích văn bản bằng những thao tác phân tích câu, và lược quy cấu trúc của văn bản vào những đơn vị ngữ pháp của câu. Tzvetan Todorov lại khẳng định: “Mỗi tác phẩm văn học là sự hiện thực hóa của một cấu trúc lớn hơn” (Tzvetan Todorov,1978). Trên cơ sở đó, Todorov không quan tâm đến việc phân tích các văn bản văn học cụ thể, ông coi mỗi văn bản văn học là một ví dụ, là chất liệu để nghiên cứu thuộc tính chung, trừu tượng của văn học.

Trên cơ sở đó, việc phân tích văn bản văn học bao gồm phân tích các phương diện: phương diện ngữ nghĩa (được phát triển thành hai nhóm: nhóm các yếu tố cùng hiện diện trong một văn bản và nhóm các yếu tố vắng mặt); những kiểu ghi của ngôn ngữ (được phân chia thành các phạm trù: tính cụ thể/ trừu tượng của lời nói, những hình thái tu từ như tính hình tượng và hoa mĩ của văn bản; tính đơn trị văn bản không gợi lên ở người đọc những liên hệ với những phương thức diễn ngôn đã có trước đó; tính chủ quan/khách quan); phương diện từ (gồm có dạng nói về mức độ tồn tại của các sự kiện được miêu tả trong văn bản và thời tức là quan hệ giữa hai trục thời gian: trục vốn có của văn bản tác phẩm và trục thời gian của sự kiện, nhân vật hư cấu trong một thế giới vốn được tổ chức phức tạp hơn nhiều, và cuối cùng là cách nhìn mà từ nó các sự kiện được tri giác); phương diện cú pháp (các cấu trúc văn bản như sự tổ chức thời gian, tổ chức không gian) (Nguyễn Thị Ngọc Minh, 2012). Trong Diễn ngôn tự sự (Narrative discourse), trên cơ sở phân biệt discourse và story, G. Genette cho rằng diễn ngôn tự sự là cách thức trình bày n 10 một câu chuyện. Tác giả đã phân chia diễn ngôn tự sự thành các phạm trù ngữ pháp như: thời, thức và giọng.

Trong đó, thời và thức nằm ở cấp độ mối quan hệ giữa câu chuyện và diễn ngôn tự sự, giọng chỉ ra mối quan hệ giữa hoạt động kể và diễn ngôn tự sự, giữa hoạt động kể và câu chuyện. Genette đã dùng những phạm trù ngữ pháp này để phân tích cấu trúc tự sự của Đi tìm thời gian đã mất của M. Genette, việc nghiên cứu diễn ngôn đã có được kết quả hoàn thiện, đạt đến đỉnh cao và sau đó người ta phải tìm hướng tiếp cận mới. Cũng trong giai đoạn này, khái niệm diễn ngôn bắt đầu được sử dụng rộng rãi và đặc biệt trở thành một khái niệm trung tâm trong trường phái Phân tích diễn ngôn (hay còn gọi là nghiên cứu diễn ngôn), một hướng nghiên cứu có phạm vi và ảnh hưởng rất rộng rãi, bao trùm rất nhiều lĩnh vực như ngôn ngữ học, xã hội học, tâm lí xã hội học, nghiên cứu văn học… Như vậy, trong cái nhìn của các nhà ngôn ngữ học và cấu trúc học, diễn ngôn là một đơn vị trên câu, có cấu trúc nội tại khép kín được cấu thành từ các thành tố như thể, thời, giọng, ngôi.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận án tiến sĩ "Diễn ngôn trần thuật trong văn xuôi hư cấu của tác giả nữ Việt Nam đương đại" tập trung phân tích đặc điểm và sự phát triển của diễn ngôn trần thuật trong các tác phẩm văn xuôi hư cấu do các nhà văn nữ Việt Nam sáng tác. Nghiên cứu này không chỉ làm rõ cách thức các tác giả nữ sử dụng ngôn ngữ và cấu trúc trần thuật để thể hiện góc nhìn riêng về xã hội, văn hóa, và bản sắc giới tính, mà còn góp phần khẳng định vị thế của văn học nữ trong bối cảnh văn học đương đại. Độc giả sẽ có cái nhìn sâu sắc hơn về sự đa dạng và sáng tạo trong văn xuôi hiện đại, đồng thời hiểu rõ hơn về vai trò của giới tính trong quá trình sáng tạo nghệ thuật.

Nếu bạn quan tâm đến các nghiên cứu liên quan đến văn học và giới tính, hãy khám phá Luận án tiến sĩ vấn đề tính dục trong văn học trung đại Việt Nam, nơi phân tích sâu về biểu hiện của tính dục trong văn học truyền thống. Bên cạnh đó, Luận văn thạc sĩ đặc trưng mỹ học của bộ phận văn học vết thương trong văn xuôi Việt Nam thời kỳ đổi mới cung cấp góc nhìn về mỹ học và sự phản ánh xã hội trong văn xuôi hiện đại. Cuối cùng, Luận văn thạc sĩ cấm kỵ và đối phó với cấm kỵ nhìn từ góc độ văn hóa khảo sát qua thơ Nôm truyền tụng của Hồ Xuân Hương sẽ giúp bạn hiểu thêm về cách các tác giả nữ vượt qua rào cản văn hóa để thể hiện tiếng nói cá nhân.