Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT CỦA ĐỀ TÀI 1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu 1. Các khuynh hướng vận động, phát triển của tiểu thuyết Việt Nam đương đại trên lịch trình nghiên cứu 1. Vấn đề nghiên cứu tiểu thuyết Việt Nam đương đại Tiểu thuyết Việt Nam từ sau 1975, nhất là từ sau 1986 đến nay phát triển mạnh mẽ, ngày càng phong phú và đa dạng.
Thể loại văn học này không ngừng đổi mới, cách tân trên các phương diện như chức năng, nội dung và thi pháp thể loại. Biên độ phản ánh hiện thực của tiểu thuyết được mở rộng do sự vận động, phát triển của cuộc sống và đổi mới tư duy sáng tạo của nhà văn. Việc nghiên cứu, đánh giá tiểu thuyết từ sau đổi mới vì thế mà hấp dẫn đối với giới nghiên cứu, phê bình văn học. Trong số các công trình đó, chúng tôi chú ý đến những công trình nghiên cứu có tính chất chuyên sâu về thể loại tiểu thuyết.
Năm 1995, trong Những đổi mới của văn xuôi nghệ thuật Việt Nam sau 1975 (khảo sát trên nét lớn), Nguyễn Thị Bình nhấn mạnh cảm hứng phê phán ở một số tiểu thuyết do tinh thần dân chủ hóa và ý thức nghệ thuật của nhà văn đã có những thay đổi quan trọng. Trong đó có Bến không chồng, Mảnh đất lắm người nhiều ma, Chuyện làng ngày ấy. Năm 1996, Nxb (Nhà xuất bản) Hội Nhà văn ấn hành Khảo về tiểu thuyết của Vương Trí Nhàn. Tập sách thể hiện sự quan sát tinh tế các hiện tượng trên tiến trình tiểu thuyết Việt Nam và những vấn đề, những khía cạnh có ý nghĩa lý luận về thể loại.
Một số tác giả khác với các bài viết, các công trình rất đáng chú ý, như Lê Huy Bắc với “Đồng hiện trong văn xuôi” (Văn học, số 6/1996); Ma Văn Kháng với “Tiểu thuyết, nghệ thuật khám phá cuộc sống” (Văn nghệ quân đội, số 11/1998); Bùi Việt Thắng (2000) với Bàn về tiểu thuyết (Nxb Văn hoá Thông tin); Phan Cự Đệ với “Tiểu thuyết Việt Nam những năm đầu thời kỳ đổi mới” (Văn nghệ quân đội, số 3/2001); Lý Hoài Thu với “Các nhà văn bàn về tiểu thuyết” (Văn nghệ quân đội, số 3/2001); Tôn Phương Lan (2002) với “Một số vấn đề trong văn xuôi thời kỳ đổi mới” (sách Văn học Việt Nam thế kỷ 6 XX, Nxb Chính trị quốc gia); Nguyễn Xuân Khánh (2003) với Suy nghĩ về hiện thực trong đổi mới tiểu thuyết (Nxb Hội Nhà văn); v. Năm 2005, trong Ý thức cách tân trong tiểu thuyết Việt Nam sau 1975 (in trong Văn học Việt Nam sau 1975 – những vấn đề nghiên cứu và giảng dạy, Nxb Văn học), Bích Thu đã có những nhận xét xác đáng về sự đổi mới của tiểu thuyết từ sau 1986 qua các yếu tố: nhân vật, cốt truyện, ngôn ngữ và giọng điệu. Bùi Việt Thắng với Tiểu thuyết đương đại (2005), Nxb Quân đội nhân dân phát hành, gồm 2 phần: Phần 1 có 12 bài viết mang tính chất nhận diện và chỉ ra những đổi mới của tiểu thuyết Việt Nam từ sau 1986; Phần 2 có 27 bài, tác giả đi vào phân tích 29 tác phẩm (viết từ sau 1986) của 27 nhà văn, trong đó có Tô Hoài, Lê Lựu, Đoàn Minh Phượng, Chu Lai, Đào Thắng, v.v… Từ 2006 đến 2008, bàn về văn xuôi nói chung và tiểu thuyết Việt Nam đương đại nói riêng, có thể kể đến Hoàng Ngọc Hiến với Những ngả đường văn học (Nxb Văn học), Bích Thu với “Một cách tiếp cận tiểu thuyết Việt Nam thời kỳ đổi mới” (Nghiên cứu văn học, số 11/2006), Văn Giá với “Thử nhận diện tiểu thuyết ngắn Việt Nam gần đây” (Văn nghệ, số 26/2006), Mai Hương với “Đổi mới tư duy văn học và đóng góp của một số cây bút văn xuôi” (Nghiên cứu văn học, số 11/2006), Nguyễn Trường Lịch với “Đổi mới tiểu thuyết trong bối cảnh giao lưu văn hóa” (Văn nghệ, số 4/2007), Trần Thị Mai Nhân (2008)với Những đổi mới trong tiểu thuyết Việt Nam từ 1986 – 2000 (luận án Tiến sĩ), v. Các công trình này đều đề cập đến sự đổi mới, cách tân của tiểu thuyết đương đại trên các phương diện nội dung tư tưởng cũng như thi pháp thể loại.
Trong Lời giới thiệu chuyên luận Những cách tân nghệ thuật trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại (2009) của Mai Hải Oanh, Trần Đình Sử nhận định: “Bắt đầu từ tư duy mới về thể loại tiểu thuyết, quan niệm mới về con người, sự tìm tòi các phương thức biểu hiện và cấu trúc mới, tiểu thuyết Việt Nam đã có những khuynh hướng sáng tác nổi bật. Các tác giả khác như Đỗ Hải Ninh với “Quan niệm về lịch sử trong tiểu thuyết của Nguyễn Xuân Khánh” (Nghiên cứu văn học, số 2/2009), Nguyễn Thành với “Khuynh hướng lạ hóa trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại – một số bình diện tiêu biểu” (Nghiên cứu văn học, số 4/2012), Bích Thu với “Một vài cảm nhận về ngôn ngữ tiểu 7 thuyết Việt Nam đương đại” (Nghiên cứu văn học, số 3/2013) và “Bước đầu nhận diện tiểu thuyết Việt Nam những năm đầu thế kỷ XXI” (trong Văn học Việt Nam hiện đại – Sáng tạo và tiếp nhận, Nxb Văn học, 2015).khẳng định tiểu thuyết có những đổi mới về nội dung phản ánh, cái nhìn hiện thực và đổi mới quan niệm nghệ thuật về con người với tư tưởng nhân văn phương Đông. Trong “Tiểu thuyết Việt Nam thời kỳ đổi mới (1986–2016) – Những bước thăng trầm” (Văn nghệ, số 24/2016), Bùi Việt Thắng xác định, văn học Việt Nam 1975 – 1986 là giai đoạn tiền đổi mới, chưa vượt thoát ra khỏi phạm trù “sử thi và lãng mạn” của văn học cách mạng. Theo tác giả, tiểu thuyết thật sự bước vào cao trào đổi mới là vào khoảng cuối những năm tám mươi, đầu những năm chín mươi của thế kỷ XX.
Tác giả xem Thời xa vắng (1986) của Lê Lựu là sự đột phá của tiểu thuyết đổi mới, tác phẩm thấm đượm nhiệt hứng nhận thức lại thực tại, về sau trở thành một khuynh hướng quan trọng của văn học đương đại được viết theo tinh thần của “cái bi kịch” và mở ra một dòng tiểu thuyết tự thuật được các nhà văn ưa chuộng sau này; v.v… Ngoài những bài báo, công trình đề cập đến các vấn đề mang tính lý luận, khái quát diện mạo hoặc chỉ ra những cách tân nghệ thuật tiểu thuyết như xây dựng nhân vật, cấu trúc tác phẩm, nghệ thuật trần thuật, ngôn ngữ, giọng điệu còn có không ít những bài báo quan tâm đến các tác phẩm cụ thể như Mùa lá rụng trong vườn, Ba người khác, Nỗi buồn chiến tranh, Mảnh đất lắm người nhiều ma, Thượng đế thì cười, Giã biệt bóng tối, các tiểu thuyết Hồ Quý Ly, Mẫu thượng ngàn, Đội gạo lên chùa của Nguyễn Xuân Khánh nói riêng và tiểu thuyết lịch sử nói chung… Ngoài những bài viết mang tính cập nhật hoặc rải rác sau khi tác phẩm ra đời, nếu cuốn tiểu thuyết nào gây được chú ý trong dư luận, thường Báo Văn nghệ hoặc một số báo, Viện tổ chức tọa đàm, thảo luận: Thảo luận về tiểu thuyết Mưa mùa hạ (Viện Văn học); Thảo luận về tiểu thuyết Đám cưới không có giấy giá thú (Văn nghệ, số 6/1990); Trao đổi về Lời nguyền hai trăm năm – tiểu thuyết của Khôi Vũ (Văn nghệ, số 26/1990); Thảo luận về tiểu thuyết Mảnh đất lắm người nhiều ma (Báo Văn nghệ, số 11/1991);Thảo luận về tiểu thuyết Thân phận tình yêu (Văn nghệ, số 37/1991); Thảo luận về tiểu thuyết Ăn mày dĩ vãng của Chu Lai (Văn nghệ, số 29/1992); Hội thảo về 8 tiểu thuyết Hồ Quý Ly (Văn nghệ, số 41/2000); Nguyễn Khắc Phê với “Sông Côn mùa lũ” (Nhà văn, số 4/2000); Lê Nguyên Cẩn với “Thế giới kỳ ảo trong Mảnh đất lắm người nhiều ma từ điểm nhìn văn hóa” (Nghiên cứu văn học, số 8/2006); “Tọa đàm về tiểu thuyết Luật đời và cha con” (Văn nghệ, số 17 và 18/2006); Hội Nhà văn Hà Nội tổ chức trao đổi Ba người khác của Tô Hoài (22/12/2006), Viện Văn học tổ chức hội thảo về tiểu thuyết lịch sử của Nguyễn Xuân Khánh (được tập hợp lại trong cuốn Nguyễn Xuân Khánh – Cái nhìn lịch sử nghệ thuật (2003), Nxb Phụ nữ); Hội Nhà văn (2013) tổ chức hội thảo về tiểu thuyết lịch sử của Nguyễn Xuân Khánh, Nguyễn Mộng Giác, Hoàng Quốc Hải, Võ Thị Hảo, Nam Dao; v.v… Ngoài ra, còn rất nhiều bài báo lẻ khác như Vân Thanh với “Một mảnh đời trong cuộc sống hôm nay qua Mùa lá rụng trong vườn” (Văn học, số 3/1986); Mai Huy Bích với “Trở lại với tiểu thuyết Thời xa vắng: Hôn nhân, gia đình, xã hội qua một tiểu thuyết” (Văn nghệ, số 23/1987); Nguyễn Huy Thông với “Về cuốn tiểu thuyết Ngồi của Nguyễn Bình Phương” (Văn nghệ, số 51/2006); Nguyễn Thị Minh Thái với “Mười lẻ một đêm, cái nhìn hắt sáng từ phía sau” (Văn nghệ, số 23/2006). Nhìn chung, các hội thảo, trao đổi, tọa đàm, các bài báo trên đều khẳng định tiểu thuyết Việt Nam đã tạo ra những cao trào từ cuối những năm tám mươi, đầu những năm chín mươi của thế kỷ trước. Tiểu thuyết thời đổi mới đã đi được những bước tự tin và thành tựu của mình với nhiều tác giả thuộc nhiều thế hệ. Khi thể loại tiểu thuyết – “cỗ máy cái văn học” ngự trị văn đàn thì văn học thật sự đổi mới.
Có thể thấy, dư luận chung đều khẳng định tiểu thuyết đương đại ngày càng phát triển mạnh mẽ, giàu chất văn xuôi, mang tính hướng nội, có nhiều cách tân, sáng tạo trong nhận thức và thể hiện cuộc sống. Vấn đề nghiên cứu các khuynh hướng vận động, phát triển của tiểu thuyết Việt Nam đương đại Khuynh hướng, trào lưu là các khái niệm dùng để chỉ những hiện tượng của quá trình văn học, là “những cộng đồng các hiện tượng văn học được liên kết lại trên cơ sở một sự thống nhất tương đối về các định hướng thẩm mỹ – tư tưởng và về các nguyên tắc thể hiện nghệ thuật” [10; 173]. Trào lưu văn học được đánh dấu bằng sự xuất hiện hàng loạt sáng tác của nhóm nhiều tác giả, 9 biểu hiện thành cương lĩnh riêng, có những đặc điểm cơ bản giống nhau, “có quan điểm tư tưởng – xã hội và quan điểm thẩm mỹ tương đối gần gũi, thống nhất với nhau” [58; 302]. Một số nhà nghiên cứu xem trào lưu là phạm trù rộng, dung chứa nhiều khuynh hướng.
Tuy nhiên, “quan niệm được dùng phổ biến hơn thì coi khuynh hướng là phạm trù rộng, dung chứa nhiều trào lưu” [10; 173].