Luận án tiến sĩ ngữ văn khuynh hướng hiện thực trào lộng trong tiểu thuyết việt nam đương đại

Luận án tiến sĩ ngữ văn khám phá khuynh hướng hiện thực trào lộng trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại, phân tích sâu sắc phong cách và giá trị văn học.

Trường đại học

Trường Đại Học

Chuyên ngành

Ngữ Văn

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Án Tiến Sĩ

2023

165
7
2

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT CỦA ĐỀ TÀI

1.1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu

1.2. Các khuynh hướng vận động, phát triển của tiểu thuyết Việt Nam đương đại trên lịch trình nghiên cứu

1.3. Vấn đề nghiên cứu tiểu thuyết Việt Nam đương đại

1.4. Khuynh hướng, trào lưu và khái niệm liên quan

2. CHƯƠNG 2: KHUYNH HƯỚNG HIỆN THỰC – TRÀO LỘNG TRONG BỐI CẢNH ĐỔI MỚI CỦA TIỂU THUYẾT VIỆT NAM ĐƯƠNG ĐẠI

3. CHƯƠNG 3: CON NGƯỜI VÀ THẾ GIỚI HIỆN THỰC TRONG TIỂU THUYẾT VIỆT NAM ĐƯƠNG ĐẠI VIẾT THEO KHUYNH HƯỚNG HIỆN THỰC – TRÀO LỘNG. THI PHÁP THỂ LOẠI CỦA TIỂU THUYẾT VIỆT NAM ĐƯƠNG ĐẠI VIẾT THEO KHUYNH HƯỚNG HIỆN THỰC – TRÀO LỘNG

KẾT LUẬN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Khuynh hướng hiện thực trào lộng trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại

Khuynh hướng hiện thực trào lộng là một trong những xu hướng nghệ thuật nổi bật trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại, đặc biệt từ sau năm 1986. Xu hướng này kế thừa và phát triển từ truyền thống hiện thực của văn học Việt Nam, kết hợp với yếu tố trào lộng để phản ánh hiện thực xã hội một cách sâu sắc và đa chiều. Các tác phẩm thuộc khuynh hướng này thường sử dụng giọng điệu hài hước, châm biếm để phê phán những bất cập trong xã hội, đồng thời khám phá bản chất con người và thế giới hiện thực.

1.1. Bối cảnh lịch sử và văn hóa

Sau năm 1986, tiểu thuyết Việt Nam bước vào giai đoạn đổi mới mạnh mẽ, với sự xuất hiện của nhiều khuynh hướng sáng tác mới. Khuynh hướng hiện thực trào lộng tái sinh và phát triển trong bối cảnh xã hội dân chủ hóa, nơi các nhà văn được tự do sáng tạo và phản ánh hiện thực một cách chân thực. Các tác giả như Tô Hoài, Nguyễn Khải, Lê Lựu, và Hồ Anh Thái đã góp phần quan trọng trong việc định hình và phát triển khuynh hướng này.

1.2. Đặc điểm nghệ thuật

Các tác phẩm thuộc khuynh hướng hiện thực trào lộng thường sử dụng các thủ pháp nghệ thuật như trào lộng, giễu nhại, và châm biếm để phản ánh hiện thực. Yếu tố hài hước không chỉ tạo nên sự hấp dẫn cho tác phẩm mà còn giúp nhà văn phê phán những mặt trái của xã hội một cách sâu sắc. Ngoài ra, các tác phẩm còn khai thác sâu vào tâm lý con người, phản ánh những mâu thuẫn và bi kịch trong cuộc sống.

II. Phân tích văn học và nghiên cứu tiểu thuyết

Phân tích văn họcnghiên cứu tiểu thuyết là những phương pháp quan trọng để hiểu rõ hơn về khuynh hướng hiện thực trào lộng trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại. Các công trình nghiên cứu đã chỉ ra sự đa dạng và phong phú của thể loại này, đồng thời khẳng định vai trò của nó trong việc phản ánh hiện thực xã hội.

2.1. Phương pháp nghiên cứu

Luận án sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau, bao gồm phương pháp liên ngành, phương pháp thống kê - miêu tả, và phương pháp phân tích - tổng hợp. Các phương pháp này giúp làm rõ các đặc điểm nghệ thuật và nội dung tư tưởng của các tác phẩm thuộc khuynh hướng hiện thực trào lộng.

2.2. Đóng góp của luận án

Luận án là công trình đầu tiên nghiên cứu chuyên sâu về khuynh hướng hiện thực trào lộng trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại. Nó không chỉ khẳng định sự tồn tại của khuynh hướng này mà còn chỉ ra những đặc điểm nổi bật về thi pháp và nội dung tư tưởng của các tác phẩm. Kết quả nghiên cứu có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho việc giảng dạy và nghiên cứu văn học.

III. Thể loại tiểu thuyết và văn học Việt Nam

Thể loại tiểu thuyết đóng vai trò chủ lực trong văn học Việt Nam từ sau năm 1986. Sự đổi mới và cách tân trong thể loại này đã tạo nên những bước phát triển mới, đặc biệt là sự xuất hiện của khuynh hướng hiện thực trào lộng.

3.1. Sự phát triển của tiểu thuyết Việt Nam

Từ sau năm 1986, tiểu thuyết Việt Nam đã có những bước chuyển mình mạnh mẽ, với sự xuất hiện của nhiều tác phẩm đa dạng về nội dung và phong phú về hình thức nghệ thuật. Các nhà văn đã vận dụng nhiều thủ pháp nghệ thuật mới, như kỹ thuật dòng ý thức, phân tâm học, và nghệ thuật đồng hiện, để phản ánh hiện thực một cách sâu sắc.

3.2. Vai trò của khuynh hướng hiện thực trào lộng

Khuynh hướng hiện thực trào lộng đã góp phần quan trọng trong việc làm phong phú và đa dạng hóa tiểu thuyết Việt Nam. Các tác phẩm thuộc khuynh hướng này không chỉ phản ánh hiện thực xã hội mà còn khám phá những khía cạnh sâu sắc của tâm lý con người, tạo nên những giá trị thẩm mỹ mới.

01/03/2025
Luận án tiến sĩ ngữ văn khuynh hướng hiện thực trào lộng trong tiểu thuyết việt nam đương đại

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT CỦA ĐỀ TÀI 1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu 1. Các khuynh hướng vận động, phát triển của tiểu thuyết Việt Nam đương đại trên lịch trình nghiên cứu 1. Vấn đề nghiên cứu tiểu thuyết Việt Nam đương đại Tiểu thuyết Việt Nam từ sau 1975, nhất là từ sau 1986 đến nay phát triển mạnh mẽ, ngày càng phong phú và đa dạng.

Thể loại văn học này không ngừng đổi mới, cách tân trên các phương diện như chức năng, nội dung và thi pháp thể loại. Biên độ phản ánh hiện thực của tiểu thuyết được mở rộng do sự vận động, phát triển của cuộc sống và đổi mới tư duy sáng tạo của nhà văn. Việc nghiên cứu, đánh giá tiểu thuyết từ sau đổi mới vì thế mà hấp dẫn đối với giới nghiên cứu, phê bình văn học. Trong số các công trình đó, chúng tôi chú ý đến những công trình nghiên cứu có tính chất chuyên sâu về thể loại tiểu thuyết.

Năm 1995, trong Những đổi mới của văn xuôi nghệ thuật Việt Nam sau 1975 (khảo sát trên nét lớn), Nguyễn Thị Bình nhấn mạnh cảm hứng phê phán ở một số tiểu thuyết do tinh thần dân chủ hóa và ý thức nghệ thuật của nhà văn đã có những thay đổi quan trọng. Trong đó có Bến không chồng, Mảnh đất lắm người nhiều ma, Chuyện làng ngày ấy. Năm 1996, Nxb (Nhà xuất bản) Hội Nhà văn ấn hành Khảo về tiểu thuyết của Vương Trí Nhàn. Tập sách thể hiện sự quan sát tinh tế các hiện tượng trên tiến trình tiểu thuyết Việt Nam và những vấn đề, những khía cạnh có ý nghĩa lý luận về thể loại.

Một số tác giả khác với các bài viết, các công trình rất đáng chú ý, như Lê Huy Bắc với “Đồng hiện trong văn xuôi” (Văn học, số 6/1996); Ma Văn Kháng với “Tiểu thuyết, nghệ thuật khám phá cuộc sống” (Văn nghệ quân đội, số 11/1998); Bùi Việt Thắng (2000) với Bàn về tiểu thuyết (Nxb Văn hoá Thông tin); Phan Cự Đệ với “Tiểu thuyết Việt Nam những năm đầu thời kỳ đổi mới” (Văn nghệ quân đội, số 3/2001); Lý Hoài Thu với “Các nhà văn bàn về tiểu thuyết” (Văn nghệ quân đội, số 3/2001); Tôn Phương Lan (2002) với “Một số vấn đề trong văn xuôi thời kỳ đổi mới” (sách Văn học Việt Nam thế kỷ 6 XX, Nxb Chính trị quốc gia); Nguyễn Xuân Khánh (2003) với Suy nghĩ về hiện thực trong đổi mới tiểu thuyết (Nxb Hội Nhà văn); v. Năm 2005, trong Ý thức cách tân trong tiểu thuyết Việt Nam sau 1975 (in trong Văn học Việt Nam sau 1975 – những vấn đề nghiên cứu và giảng dạy, Nxb Văn học), Bích Thu đã có những nhận xét xác đáng về sự đổi mới của tiểu thuyết từ sau 1986 qua các yếu tố: nhân vật, cốt truyện, ngôn ngữ và giọng điệu. Bùi Việt Thắng với Tiểu thuyết đương đại (2005), Nxb Quân đội nhân dân phát hành, gồm 2 phần: Phần 1 có 12 bài viết mang tính chất nhận diện và chỉ ra những đổi mới của tiểu thuyết Việt Nam từ sau 1986; Phần 2 có 27 bài, tác giả đi vào phân tích 29 tác phẩm (viết từ sau 1986) của 27 nhà văn, trong đó có Tô Hoài, Lê Lựu, Đoàn Minh Phượng, Chu Lai, Đào Thắng, v.v… Từ 2006 đến 2008, bàn về văn xuôi nói chung và tiểu thuyết Việt Nam đương đại nói riêng, có thể kể đến Hoàng Ngọc Hiến với Những ngả đường văn học (Nxb Văn học), Bích Thu với “Một cách tiếp cận tiểu thuyết Việt Nam thời kỳ đổi mới” (Nghiên cứu văn học, số 11/2006), Văn Giá với “Thử nhận diện tiểu thuyết ngắn Việt Nam gần đây” (Văn nghệ, số 26/2006), Mai Hương với “Đổi mới tư duy văn học và đóng góp của một số cây bút văn xuôi” (Nghiên cứu văn học, số 11/2006), Nguyễn Trường Lịch với “Đổi mới tiểu thuyết trong bối cảnh giao lưu văn hóa” (Văn nghệ, số 4/2007), Trần Thị Mai Nhân (2008)với Những đổi mới trong tiểu thuyết Việt Nam từ 1986 – 2000 (luận án Tiến sĩ), v. Các công trình này đều đề cập đến sự đổi mới, cách tân của tiểu thuyết đương đại trên các phương diện nội dung tư tưởng cũng như thi pháp thể loại.

Trong Lời giới thiệu chuyên luận Những cách tân nghệ thuật trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại (2009) của Mai Hải Oanh, Trần Đình Sử nhận định: “Bắt đầu từ tư duy mới về thể loại tiểu thuyết, quan niệm mới về con người, sự tìm tòi các phương thức biểu hiện và cấu trúc mới, tiểu thuyết Việt Nam đã có những khuynh hướng sáng tác nổi bật. Các tác giả khác như Đỗ Hải Ninh với “Quan niệm về lịch sử trong tiểu thuyết của Nguyễn Xuân Khánh” (Nghiên cứu văn học, số 2/2009), Nguyễn Thành với “Khuynh hướng lạ hóa trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại – một số bình diện tiêu biểu” (Nghiên cứu văn học, số 4/2012), Bích Thu với “Một vài cảm nhận về ngôn ngữ tiểu 7 thuyết Việt Nam đương đại” (Nghiên cứu văn học, số 3/2013) và “Bước đầu nhận diện tiểu thuyết Việt Nam những năm đầu thế kỷ XXI” (trong Văn học Việt Nam hiện đại – Sáng tạo và tiếp nhận, Nxb Văn học, 2015).khẳng định tiểu thuyết có những đổi mới về nội dung phản ánh, cái nhìn hiện thực và đổi mới quan niệm nghệ thuật về con người với tư tưởng nhân văn phương Đông. Trong “Tiểu thuyết Việt Nam thời kỳ đổi mới (1986–2016) – Những bước thăng trầm” (Văn nghệ, số 24/2016), Bùi Việt Thắng xác định, văn học Việt Nam 1975 – 1986 là giai đoạn tiền đổi mới, chưa vượt thoát ra khỏi phạm trù “sử thi và lãng mạn” của văn học cách mạng. Theo tác giả, tiểu thuyết thật sự bước vào cao trào đổi mới là vào khoảng cuối những năm tám mươi, đầu những năm chín mươi của thế kỷ XX.

Tác giả xem Thời xa vắng (1986) của Lê Lựu là sự đột phá của tiểu thuyết đổi mới, tác phẩm thấm đượm nhiệt hứng nhận thức lại thực tại, về sau trở thành một khuynh hướng quan trọng của văn học đương đại được viết theo tinh thần của “cái bi kịch” và mở ra một dòng tiểu thuyết tự thuật được các nhà văn ưa chuộng sau này; v.v… Ngoài những bài báo, công trình đề cập đến các vấn đề mang tính lý luận, khái quát diện mạo hoặc chỉ ra những cách tân nghệ thuật tiểu thuyết như xây dựng nhân vật, cấu trúc tác phẩm, nghệ thuật trần thuật, ngôn ngữ, giọng điệu còn có không ít những bài báo quan tâm đến các tác phẩm cụ thể như Mùa lá rụng trong vườn, Ba người khác, Nỗi buồn chiến tranh, Mảnh đất lắm người nhiều ma, Thượng đế thì cười, Giã biệt bóng tối, các tiểu thuyết Hồ Quý Ly, Mẫu thượng ngàn, Đội gạo lên chùa của Nguyễn Xuân Khánh nói riêng và tiểu thuyết lịch sử nói chung… Ngoài những bài viết mang tính cập nhật hoặc rải rác sau khi tác phẩm ra đời, nếu cuốn tiểu thuyết nào gây được chú ý trong dư luận, thường Báo Văn nghệ hoặc một số báo, Viện tổ chức tọa đàm, thảo luận: Thảo luận về tiểu thuyết Mưa mùa hạ (Viện Văn học); Thảo luận về tiểu thuyết Đám cưới không có giấy giá thú (Văn nghệ, số 6/1990); Trao đổi về Lời nguyền hai trăm năm – tiểu thuyết của Khôi Vũ (Văn nghệ, số 26/1990); Thảo luận về tiểu thuyết Mảnh đất lắm người nhiều ma (Báo Văn nghệ, số 11/1991);Thảo luận về tiểu thuyết Thân phận tình yêu (Văn nghệ, số 37/1991); Thảo luận về tiểu thuyết Ăn mày dĩ vãng của Chu Lai (Văn nghệ, số 29/1992); Hội thảo về 8 tiểu thuyết Hồ Quý Ly (Văn nghệ, số 41/2000); Nguyễn Khắc Phê với “Sông Côn mùa lũ” (Nhà văn, số 4/2000); Lê Nguyên Cẩn với “Thế giới kỳ ảo trong Mảnh đất lắm người nhiều ma từ điểm nhìn văn hóa” (Nghiên cứu văn học, số 8/2006); “Tọa đàm về tiểu thuyết Luật đời và cha con” (Văn nghệ, số 17 và 18/2006); Hội Nhà văn Hà Nội tổ chức trao đổi Ba người khác của Tô Hoài (22/12/2006), Viện Văn học tổ chức hội thảo về tiểu thuyết lịch sử của Nguyễn Xuân Khánh (được tập hợp lại trong cuốn Nguyễn Xuân Khánh – Cái nhìn lịch sử nghệ thuật (2003), Nxb Phụ nữ); Hội Nhà văn (2013) tổ chức hội thảo về tiểu thuyết lịch sử của Nguyễn Xuân Khánh, Nguyễn Mộng Giác, Hoàng Quốc Hải, Võ Thị Hảo, Nam Dao; v.v… Ngoài ra, còn rất nhiều bài báo lẻ khác như Vân Thanh với “Một mảnh đời trong cuộc sống hôm nay qua Mùa lá rụng trong vườn” (Văn học, số 3/1986); Mai Huy Bích với “Trở lại với tiểu thuyết Thời xa vắng: Hôn nhân, gia đình, xã hội qua một tiểu thuyết” (Văn nghệ, số 23/1987); Nguyễn Huy Thông với “Về cuốn tiểu thuyết Ngồi của Nguyễn Bình Phương” (Văn nghệ, số 51/2006); Nguyễn Thị Minh Thái với “Mười lẻ một đêm, cái nhìn hắt sáng từ phía sau” (Văn nghệ, số 23/2006). Nhìn chung, các hội thảo, trao đổi, tọa đàm, các bài báo trên đều khẳng định tiểu thuyết Việt Nam đã tạo ra những cao trào từ cuối những năm tám mươi, đầu những năm chín mươi của thế kỷ trước. Tiểu thuyết thời đổi mới đã đi được những bước tự tin và thành tựu của mình với nhiều tác giả thuộc nhiều thế hệ. Khi thể loại tiểu thuyết – “cỗ máy cái văn học” ngự trị văn đàn thì văn học thật sự đổi mới.

Có thể thấy, dư luận chung đều khẳng định tiểu thuyết đương đại ngày càng phát triển mạnh mẽ, giàu chất văn xuôi, mang tính hướng nội, có nhiều cách tân, sáng tạo trong nhận thức và thể hiện cuộc sống. Vấn đề nghiên cứu các khuynh hướng vận động, phát triển của tiểu thuyết Việt Nam đương đại Khuynh hướng, trào lưu là các khái niệm dùng để chỉ những hiện tượng của quá trình văn học, là “những cộng đồng các hiện tượng văn học được liên kết lại trên cơ sở một sự thống nhất tương đối về các định hướng thẩm mỹ – tư tưởng và về các nguyên tắc thể hiện nghệ thuật” [10; 173]. Trào lưu văn học được đánh dấu bằng sự xuất hiện hàng loạt sáng tác của nhóm nhiều tác giả, 9 biểu hiện thành cương lĩnh riêng, có những đặc điểm cơ bản giống nhau, “có quan điểm tư tưởng – xã hội và quan điểm thẩm mỹ tương đối gần gũi, thống nhất với nhau” [58; 302]. Một số nhà nghiên cứu xem trào lưu là phạm trù rộng, dung chứa nhiều khuynh hướng.

Tuy nhiên, “quan niệm được dùng phổ biến hơn thì coi khuynh hướng là phạm trù rộng, dung chứa nhiều trào lưu” [10; 173].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận án tiến sĩ "Khuynh Hướng Hiện Thực Trào Lộng Trong Tiểu Thuyết Việt Nam Đương Đại" là một nghiên cứu chuyên sâu về sự kết hợp giữa hiện thực và yếu tố trào lộng trong tiểu thuyết Việt Nam hiện đại. Tác phẩm này không chỉ phân tích các tác phẩm tiêu biểu mà còn làm rõ cách các nhà văn sử dụng yếu tố hài hước để phản ánh hiện thực xã hội, mang đến cái nhìn đa chiều về văn học đương đại. Độc giả sẽ được khám phá những góc nhìn mới mẻ về sự phát triển của tiểu thuyết Việt Nam, đồng thời hiểu sâu hơn về vai trò của trào lộng trong việc truyền tải thông điệp văn học.

Để mở rộng kiến thức về tiểu thuyết và văn học đương đại, bạn có thể tham khảo Luận án tiến sĩ về tiểu thuyết của Mạc Ngôn, nghiên cứu này sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về lý thuyết liên văn bản trong sáng tác văn học. Ngoài ra, Luận án tiến sĩ về tiểu thuyết các nhà văn nữ Việt Nam cung cấp góc nhìn nữ quyền trong văn học, một chủ đề đang được quan tâm hiện nay. Cuối cùng, Luận văn thạc sĩ về cảm hứng lịch sử trong tiểu thuyết Nguyễn Huy Tưởng sẽ giúp bạn khám phá thêm về cách lịch sử được phản ánh qua ngòi bút văn học. Hãy khám phá những tài liệu này để có cái nhìn toàn diện hơn về văn học Việt Nam!