Tổng quan luận án
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Trong tiến trình văn học Việt Nam hiện đại, tiểu thuyết là thể loại đóng vai trò chủ lực. Từ sau năm 1986, cùng với công cuộc đổi mới toàn diện của đất nước, văn học nói chung và thể loại tiểu thuyết nói riêng đã diễn ra những bước chuyển đổi sâu sắc. Sự chuyển dịch từ tư duy sử thi sang tư duy thế sự, đời tư đã mở rộng biên độ phản ánh hiện thực, cho phép người cầm bút tiếp cận con người ở nhiều chiều kích và tầng vỉa tâm lý phức tạp. Trong bối cảnh đời sống xã hội dân chủ hóa, các nhà văn đã vận dụng nhiều thủ pháp nghệ thuật đa dạng như huyền ảo, dòng ý thức, phân tâm học, phân mảnh, lắp ghép, độc thoại nội tâm, đồng hiện, liên văn bản và đặc biệt là thủ pháp trào lộng, giễu nhại.
Khuynh hướng hiện thực – trào lộng từng có truyền thống vững chắc trong giai đoạn 1930 – 1945 với các tác gia tiêu biểu như Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố, Nam Cao. Sau năm 1945, do hoàn cảnh chiến tranh và sự chi phối của phương pháp hiện thực xã hội chủ nghĩa, khuynh hướng này lắng xuống và bị ngắt quãng. Từ sau 1975, đặc biệt từ mốc 1986 đến nay, khuynh hướng trào lộng trong tiểu thuyết đã tái sinh và phát triển mạnh mẽ.
Khoảng trống nghiên cứu được tác giả luận án chỉ ra là: Dù đã có nhiều bài báo, công trình, luận văn, luận án tìm hiểu các khía cạnh đổi mới của tiểu thuyết đương đại hoặc khảo sát yếu tố trào lộng, giễu nhại ở từng tác phẩm đơn lẻ, nhưng đến nay chưa có công trình chuyên sâu nào nghiên cứu tiểu thuyết hiện thực – trào lộng một cách toàn diện và hệ thống dưới tư cách là một khuynh hướng vận động độc lập của thể loại, nhất là trong bối cảnh xuất hiện nhiều tác phẩm mới trong những năm gần đây chưa được bao quát.
Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận án là xác định sự tồn tại của khuynh hướng hiện thực – trào lộng trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại với những nét riêng trong nhận thức, phản ánh hiện thực và thi pháp thể loại; từ đó đóng góp vào việc nghiên cứu thể loại tiểu thuyết trước yêu cầu của xu thế đổi mới và hội nhập.
Nhiệm vụ nghiên cứu được văn bản xác định cụ thể qua bốn nội dung:
- Trên cơ sở bao quát tiểu thuyết Việt Nam đương đại, tổng quan vấn đề nghiên cứu và xác lập cơ sở lý thuyết của đề tài.
- Nhận diện khuynh hướng hiện thực – trào lộng trong bối cảnh đổi mới của tiểu thuyết Việt Nam đương đại.
- Đi sâu khảo sát, phân tích con người và thế giới hiện thực trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại viết theo khuynh hướng hiện thực – trào lộng.
- Đi sâu khảo sát, phân tích những đặc điểm về thi pháp thể loại của tiểu thuyết Việt Nam đương đại viết theo khuynh hướng hiện thực – trào lộng.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Khuynh hướng hiện thực – trào lộng trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại.
- Phạm vi nghiên cứu:
- Phạm vi thời gian và không gian: Luận án bao quát các tác phẩm tiểu thuyết Việt Nam từ sau năm 1986 đến giai đoạn đương đại (bao gồm cả mảng sáng tác của các tác giả người Việt định cư ở hải ngoại). Giai đoạn văn học trước 1986, đặc biệt là giai đoạn 1930 – 1945, được sử dụng làm tiền đề đối sánh lịch sử.
- Tác giả và tác phẩm khảo sát tiêu biểu: Tập trung vào các tiểu thuyết thuộc khuynh hướng hiện thực – trào lộng hoặc chứa nhiều yếu tố trào lộng của các nhà văn: Tô Hoài, Nguyễn Khải, Lê Lựu, Phạm Thị Hoài, Ma Văn Kháng, Nguyễn Bắc Sơn, Vũ Bão, Tạ Duy Anh, Hồ Anh Thái, Thuận, Đỗ Minh Tuấn, Nguyễn Khắc Trường, Võ Văn Trực, Nguyễn Quang Vinh, Nguyễn Việt Hà, Trịnh Thanh Phong, Nguyễn Đình Tú, Đặng Thân, Lê Minh Quốc, Trần Nhương...
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Các hướng nghiên cứu trước đây
Tác giả luận án đã tiến hành hệ thống hóa các tài liệu và công trình nghiên cứu đi trước theo hai nhóm vấn đề trọng tâm:
CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU TIỀN ĐỀ
[1. Nghiên cứu đổi mới tiểu thuyết đương đại] [2. Nghiên cứu tiếng cười và yếu tố trào lộng]
- Nguyễn Thị Bình (1995, 2008) - Phong Lê (2005)
- Vương Trí Nhàn (1996), Bùi Việt Thắng (2000, 2005, 2016) - Hoàng Ngọc Hiến, Huỳnh Như Phương
- Bích Thu (2005, 2006, 2013, 2015) - La Khắc Hòa (2005), Vương Trí Nhàn (2007)
- Mai Hải Oanh (2008, 2009), Trần Đình Sử (2009) - Biện Minh Điền (2014)
- Nguyễn Thị Ninh (2012), Nguyễn Thị Kim Tiến (2012) - Trần Thị Hạnh (2012, luận án Tiến sĩ)
- Nguyễn Thị Thanh (2012), Thái Phan Vàng Anh (2013)... - Phạm Thị Thu (2016, luận án Tiến sĩ)...
| Nhóm hướng nghiên cứu |
Tác giả, năm công bố và công trình tiêu biểu |
Nội dung và nhận định chính được trích xuất |
| Nghiên cứu chung về diện mạo và sự đổi mới của tiểu thuyết Việt Nam đương đại |
• Nguyễn Thị Bình (1995, 2008) • Vương Trí Nhàn (1996) • Bùi Việt Thắng (2000, 2005, 2016) • Bích Thu (2005, 2006, 2013, 2015) • Mai Hải Oanh (2008, 2009) • Trần Đình Sử (2009) • Nguyễn Thị Ninh (2012) • Nguyễn Thị Kim Tiến (2012) • Nguyễn Thị Thanh (2012) • Thái Phan Vàng Anh (2013) |
• Nhận diện sự chuyển biến từ tư duy sử thi sang tư duy thế sự, đời tư; mở rộng biên độ phản ánh hiện thực. • Phân loại các khuynh hướng tiểu thuyết theo phong cách nghệ thuật, mỹ học hậu hiện đại hoặc phương thức biểu hiện (tả thực mới, tự thuật, phúng dụ - huyền thoại, trào lộng - giễu nhại, tiểu thuyết tân lịch sử, hiện sinh, nữ quyền). • Đánh giá sự đổi mới thi pháp thể loại: kết cấu văn bản trần thuật, đa tầng, lắp ghép, kỹ thuật phân mảnh, ngôn ngữ và giọng điệu đa thanh. |
| Nghiên cứu về tiếng cười, cảm hứng và bút pháp trào lộng, giễu nhại |
• Phong Lê (2005) • Huỳnh Như Phương • Hoàng Ngọc Hiến • La Khắc Hòa (2005) • Vương Trí Nhàn (2007) • Nguyễn Thị Bình (2008) • Biện Minh Điền (2014) • Trần Thị Hạnh (2012) • Phạm Thị Thu (2016) |
• Khẳng định tiếng cười là nhu cầu tự nhiên của con người, mở ra một giai đoạn mới cho văn xuôi thời kỳ đổi mới. • Tiếng cười trào tiếu, giễu nhại phản ánh sự giải tỏa áp lực đời sống, gắn liền với tinh thần dân chủ và ý thức cá nhân được giải phóng. • Đánh giá tính chất liên kết giữa khuynh hướng hiện thực – trào lộng và hiện thực – huyền ảo (Biện Minh Điền). • Nghiên cứu hiện tượng parody/nhại văn bản, nhại phong cách và nhại thể loại trong tiểu thuyết (Phạm Thị Thu). |
| Nghiên cứu, tiếp nhận các tác phẩm và tác gia cụ thể |
• Lê Lựu (Thời xa vắng) • Nguyễn Khắc Trường (Mảnh đất lắm người nhiều ma) • Phạm Thị Hoài (Thiên sứ) • Tô Hoài (Ba người khác) • Nguyễn Bắc Sơn (Luật đời và cha con) • Võ Văn Trực (Vết sẹo và cái đầu hói) • Nguyễn Khải (Thượng đế thì cười) • Hồ Anh Thái, Đỗ Minh Tuấn, Thuận... |
• Các nhà nghiên cứu (Nguyễn Văn Lưu, La Khắc Hòa, Nguyễn Đăng Mạnh, Hà Minh Đức, Lại Nguyên Ân, Wayne Karlin, Nguyễn Đăng Điệp...) chỉ ra tính chất giễu nhại, trần thuật đời thường, việc sử dụng yếu tố kỳ ảo, chất "quỷ", hiện tượng tự trào và phê phán thói tha hóa quyền lực trong các tác phẩm. |
Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết
Mặc dù các tài liệu trước đây đã chỉ ra sự xuất hiện dày đặc của tiếng cười, chất giọng giễu nhại và yếu tố trào lộng trong văn học sau 1986, các khảo sát chủ yếu dừng lại ở cấp độ thủ pháp, phong cách cá nhân hoặc khảo sát đề tài riêng lẻ (như chiến tranh, nông thôn). Luận án xác định khoảng trống cần giải quyết là nghiên cứu toàn diện, xác lập cơ sở lý thuyết và thực tiễn để khẳng định tiểu thuyết hiện thực – trào lộng là một khuynh hướng nghệ thuật độc lập, mang tính chỉnh thể trong tiến trình phát triển của tiểu thuyết Việt Nam đương đại.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và khung phân tích
Luận án xây dựng hệ thống lý thuyết nền tảng dựa trên các trụ cột học thuật về lý luận văn học và mỹ học:
-
Lý thuyết về mối quan hệ giữa văn học và hiện thực:
- Khái niệm mô phỏng (mimesis) từ thời cổ đại của Aristote: Văn học mô phỏng "cái khả nhiên" (những khả năng của cuộc sống) nên giàu tính triết lý hơn lịch sử.
- Quan điểm duy vật biện chứng và lý luận phản ánh: Hiện thực trong văn học bao hàm cả hiện thực đời sống và cái khả năng tiềm tàng, cho phép nhà văn thông qua hư cấu nghệ thuật để thực hiện chức năng dự báo và nhận thức bản chất đời sống.
- Các nguyên tắc tái hiện đời sống của chủ nghĩa hiện thực do Trần Đăng Suyền đúc kết gồm 5 nguyên tắc:
- Nguyên tắc lịch sử – cụ thể;
- Nguyên tắc phản ánh hiện thực bằng chính hình thức của bản thân đời sống;
- Nguyên tắc đảm bảo tính chân thực của chi tiết;
- Nguyên tắc chú trọng mối quan hệ biện chứng giữa tính cách điển hình và hoàn cảnh điển hình;
- Nguyên tắc biểu hiện.
- Tranh luận học thuật về chức năng phản ánh hiện thực trong thời kỳ đổi mới ở Việt Nam qua các bài viết, quan điểm của Lê Ngọc Trà, Lê Xuân Vũ, Phương Lựu, Hoàng Ngọc Hiến...
-
Lý thuyết thể loại tiểu thuyết và thi pháp học:
- Quan niệm của M. Bakhtin: Tiểu thuyết là thể loại tiếp xúc với cái hiện tại chưa hoàn thành, mang bản chất dân chủ, đa thanh, phức điệu và luôn có xu hướng tự giễu nhại.
- Quan niệm của Milan Kundera: Tiểu thuyết sinh ra từ tinh thần hài hước, phản ánh mối quan hệ sinh tồn của con người trong thế giới (in-der-Welt-sein).
- Khái niệm về sự phân rã sử thi của G. Pospelov: Quá trình phi sử thi hóa, thế sự hóa và đời tư hóa trong văn học.
-
Lý thuyết mỹ học về cái hài và tiếng cười trào lộng:
- Định nghĩa cái hài từ góc độ mỹ học: Sự mâu thuẫn, không tương xứng giữa hình thức và nội dung, giữa bản chất và biểu hiện, giữa cái vô nghĩa đội lốt cái cao siêu.
- Lý thuyết về tính nhị năng (lưỡng trị) của tiếng cười và thủ pháp "hạ yết" (bạ thấp) của M. Bakhtin: Tiếng cười vừa có tính chất phủ định, hạ bệ những cái giả tạo, vừa có chức năng tái sinh, khẳng định những giá trị sống đích thực.
- Khái niệm khuynh hướng văn học: Là tập hợp các hiện tượng văn học có sự thống nhất tương đối về định hướng tư tưởng – thẩm mỹ và nguyên tắc thể hiện nghệ thuật trong một bối cảnh lịch sử – xã hội cụ thể.
Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng phối hợp các phương pháp nghiên cứu định tính và nghiên cứu văn bản học chuyên ngành:
- Phương pháp liên ngành: Huy động tri thức từ các lĩnh vực văn hóa học, triết học, tâm lý học và ngôn ngữ học để soi chiếu các bình diện xã hội – thẩm mỹ của tác phẩm.
- Phương pháp thống kê – miêu tả: Khảo sát tần số xuất hiện của các yếu tố trào lộng, các môtip, thủ pháp giễu nhại và dạng thức nhân vật nhằm tìm ra tính quy luật nghệ thuật.
- Phương pháp phân tích – tổng hợp: Phân tích các văn bản tác phẩm cụ thể, từ đó tổng hợp thành các luận điểm lý thuyết về khuynh hướng nghệ thuật.
- Phương pháp lịch sử: Đặt khuynh hướng hiện thực – trào lộng trong tiến trình vận động của lịch sử văn học Việt Nam và bối cảnh lịch sử – văn hóa – xã hội thời kỳ đổi mới.
- Phương pháp so sánh – loại hình: Đối chiếu tiểu thuyết hiện thực – trào lộng đương đại với tiểu thuyết trào phúng giai đoạn 1930 – 1945 và các khuynh hướng tiểu thuyết khác (như hiện thực – huyền ảo, hiện thực – tâm lý).
- Phương pháp cấu trúc – hệ thống: Xâu chuỗi, liên kết các phương diện nội dung, con người và thi pháp trong tính chỉnh thể của khuynh hướng.
Nguồn tư liệu nghiên cứu
- Văn bản tiểu thuyết của các tác giả Việt Nam từ năm 1986 đến nay.
- Hệ thống văn bản phê bình, bài báo khoa học, chuyên luận nghiên cứu trên các tạp chí chuyên ngành (Nghiên cứu văn học, Văn nghệ quân đội, Báo Văn nghệ, Tạp chí Văn học...).
- Các kỷ yếu hội thảo, tọa đàm khoa học do Hội Nhà văn Việt Nam, Viện Văn học và các trường đại học tổ chức.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu và cơ sở lý thuyết của đề tài
Chương 1 tập trung hệ thống hóa lịch sử nghiên cứu về tiểu thuyết Việt Nam đương đại và các công trình bàn về tiếng cười trào lộng, giễu nhại. Chương này chỉ ra rằng văn học đổi mới đã chuyển trọng tâm từ phản ánh biến cố lịch sử sang phản ánh hiện thực thế sự, đời tư.
Về cơ sở lý thuyết, chương làm rõ các khái niệm: phản ánh hiện thực, cái khả nhiên, bản chất thể loại tiểu thuyết, phạm trù cái hài và tính lưỡng trị của tiếng cười. Đồng thời, chương 1 xác lập tiêu chí nhận diện khuynh hướng văn học dựa trên sự tương đồng về định hướng thẩm mỹ và bút pháp thể hiện.
Chương 2: Khuynh hướng hiện thực – trào lộng trong bối cảnh đổi mới của tiểu thuyết Việt Nam đương đại
Chương 2 phác thảo diện mạo tiểu thuyết Việt Nam qua hai chặng đường:
- Chặng đường hậu chiến (1975 – 1985): Giai đoạn chuyển tiếp, văn học còn vận động theo quán tính tư duy sử thi nhưng đã bắt đầu xuất hiện những trăn trở thế sự, nhận thức lại chiến tranh (Đất trắng, Hai người trở lại trung đoàn, Cửa gió, Đứng trước biển, Mùa lá rụng trong vườn).
- Chặng đường đổi mới và hội nhập (từ sau 1986 đến nay): Tiểu thuyết bùng nổ về số lượng và chất lượng, chuyển biến dứt khoát sang tư duy tiểu thuyết đa thanh.
Chương này xác định các tiền đề dẫn đến sự xuất hiện của khuynh hướng hiện thực – trào lộng:
- Bản chất cấu trúc mở và tính đối thoại của thể loại tiểu thuyết.
- Sự đổi mới quan niệm về nhà văn và ý thức cá nhân trong môi trường xã hội dân chủ.
- Sự chuyển dịch từ tư duy sử thi sang tư duy đời tư – thế sự.
- Truyền thống văn hóa tiếng cười dân tộc kết hợp với nhu cầu giải tỏa, nhận thức lại thực tại trong nền kinh tế thị trường.
Chương 3: Con người và thế giới hiện thực trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại viết theo khuynh hướng hiện thực – trào lộng
Chương 3 đi sâu khảo sát nội dung phản ánh của khuynh hướng qua hệ thống hình tượng:
- Thế giới hiện thực đa chiều: Phản ánh những mặt trái của cơ chế thị trường, những xáo trộn giá trị đạo đức, thói quan liêu, tham nhũng quyền lực và những biểu hiện lệch chuẩn trong đời sống xã hội (Luật đời và cha con, Vết sẹo và cái đầu hói, Ma làng).
- Các dạng thái con người:
- Con người tha hóa, "ngộ độc quyền lực", háo danh, giả dối.
- Con người với những bi kịch đời tư, những nỗi đau tinh thần và sự lạc lõng trong môi trường sống xô bồ.
- Con người trong mối quan hệ gia đình, dòng họ, làng quê truyền thống bị rạn nứt trước những biến động xã hội.
- Sự kết hợp giữa cái bi và cái hài trong việc thể hiện số phận con người cá nhân.
Chương 4: Thi pháp thể loại của tiểu thuyết Việt Nam đương đại viết theo khuynh hướng hiện thực – trào lộng
Chương 4 phân tích các đặc điểm nghệ thuật và kỹ thuật viết tiêu biểu của khuynh hướng:
- Bút pháp trần thuật: Điểm nhìn trần thuật kéo gần cự ly với đời sống; sử dụng lối trần thuật đa điểm nhìn, nghệ thuật tự trào, khách quan hóa cái tôi tác giả.
- Kết cấu tác phẩm: Sự đa dạng trong cấu trúc tự sự (kết cấu lắp ghép, phân mảnh, mô hình trò chơi, kết cấu theo dòng đời nhân vật, đan cài giữa hiện thực và huyền ảo).
- Thủ pháp trào lộng: Ứng dụng thủ pháp "hạ yết", nghịch dị, phóng đại, giễu nhại thể loại và văn bản (parody), sự pha trộn giữa ngôn ngữ bác học và ngôn ngữ đời thường bỗ bã, suồng sã, giàu tính khẩu ngữ.
Kết quả và những đóng góp mới
Những đóng góp mới về mặt lý luận và thực tiễn
Căn cứ theo các nội dung tự khẳng định trong văn bản, luận án đạt được các kết quả và đóng góp sau:
- Tính hệ thống: Là công trình nghiên cứu tiểu thuyết viết theo khuynh hướng hiện thực – trào lộng với cái nhìn tập trung, hệ thống và toàn diện đầu tiên trong nghiên cứu văn học Việt Nam đương đại.
- Xác lập khuynh hướng: Nỗ lực bao quát thực tiễn văn học sau năm 1986 để khẳng định sự tồn tại khách quan của khuynh hướng hiện thực – trào lộng; xây dựng và xác lập khung cơ sở lý thuyết cho việc nghiên cứu khuynh hướng này.
- Phác thảo bức tranh thể loại: Tạo dựng bức tranh toàn cảnh về tiến trình tiểu thuyết Việt Nam đương đại, từ đó khu biệt, nhận diện rõ diện mạo, vị thế và đường hướng vận động của khuynh hướng hiện thực – trào lộng bên cạnh các khuynh hướng khác.
- Làm rõ nội dung và thi pháp: Khảo sát có hệ thống thế giới hiện thực, quan niệm nghệ thuật về con người và chỉ ra các đặc trưng thi pháp thể loại (kết cấu, điểm nhìn, giọng điệu, ngôn ngữ, thủ pháp giễu nhại) của các tiểu thuyết thuộc khuynh hướng này.
Kiến nghị và giải pháp đề xuất
Văn bản luận án hướng tới việc ứng dụng kết quả nghiên cứu vào thực tiễn học thuật:
- Sử dụng kết quả nghiên cứu làm tài liệu tham khảo cho việc học tập, nghiên cứu chuyên sâu về văn học Việt Nam hiện đại và thể loại tiểu thuyết.
- Vận dụng các kiến thức và kết quả phân tích tác phẩm vào việc đổi mới phương pháp giảng dạy thể loại tiểu thuyết ở bậc học phổ thông và đại học.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế
- Luận án giới hạn phạm vi khảo sát chủ yếu từ mốc đổi mới năm 1986 trở đi, các giai đoạn trước (như 1930 – 1945) chỉ được khai thác ở tư cách tiền đề đối sánh.
- Việc phân chia và định danh các khuynh hướng tiểu thuyết trong bối cảnh đương đại mang tính chất tương đối do bản chất thể loại tiểu thuyết là "thể loại chưa hoàn thành", đang tiếp diễn và có sự giao thoa, chuyển hóa phức tạp giữa các phong cách (giữa trào lộng với huyền ảo, tâm lý, tư liệu).
Hướng nghiên cứu tiếp
- Mở rộng diện khảo sát đối với các tiểu thuyết mới xuất bản trong những năm gần đây của các cây bút trẻ để cập nhật sự vận động của khuynh hướng.
- Đi sâu phân tích sự tích hợp, dung hợp giữa khuynh hướng hiện thực – trào lộng với các khuynh hướng nghệ thuật khác (như tiểu thuyết tân lịch sử, tiểu thuyết tính dục, tiểu thuyết nữ quyền).
- Tăng cường khảo sát, nghiên cứu đối với mảng tiểu thuyết của cộng đồng người Việt ở hải ngoại viết theo khuynh hướng trào lộng, giễu nhại.
Giá trị tham khảo
Luận án mang lại giá trị tham khảo thiết thực cho các nhóm đối tượng:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên ngành Ngữ văn: Tham khảo khung lý thuyết về mối quan hệ văn học – hiện thực, thi pháp thể loại tiểu thuyết, mỹ học cái hài và các phương pháp nghiên cứu văn bản tác phẩm văn xuôi đương đại.
- Giảng viên và giáo viên Ngữ văn: Vận dụng ngữ liệu phân tích các tác phẩm tiểu thuyết cụ thể (Thời xa vắng, Mảnh đất lắm người nhiều ma, Ba người khác, Thượng đế thì cười...) vào bài giảng lịch sử văn học Việt Nam và chuyên đề thi pháp học.
- Các nhà phê bình văn học: Cung cấp góc nhìn hệ thống để đánh giá các tác phẩm văn xuôi đương đại sử dụng yếu tố trào lộng, giễu nhại và trào tiếu.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án xác định nguồn gốc và tiến trình lịch sử của khuynh hướng hiện thực – trào lộng ở Việt Nam như thế nào?
Theo luận án, khuynh hướng này bắt nguồn từ truyền thống văn học trào phúng dân gian và trung đại (Nguyễn Khuyến, Tú Xương), hình thành vững chắc trong giai đoạn 1930 – 1945 với các tác gia hiện thực như Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố, Nam Cao. Sau năm 1945, khuynh hướng này lắng xuống do hoàn cảnh chiến tranh và phương pháp hiện thực xã hội chủ nghĩa, sau đó tái sinh và phát triển mạnh mẽ từ sau năm 1986 nhờ công cuộc đổi mới và đời sống xã hội dân chủ.
2. Sự chuyển dịch tư duy nghệ thuật từ giai đoạn 1945–1975 sang thời kỳ sau 1986 có đặc điểm gì?
Giai đoạn 1945 – 1975 bị chi phối bởi tư duy sử thi và cảm hứng lãng mạn cách mạng, phản ánh con người mang tính đại diện cộng đồng và nhìn cuộc sống bằng con mắt tương lai. Từ sau năm 1986, tiểu thuyết chuyển sang tư duy đời tư – thế sự, nhìn nhận con người ở cự ly gần với những mối quan hệ đời thường phức tạp, những ẩn ức tâm lý và số phận mang sắc thái bi hài.
3. Tác giả luận án căn cứ vào tiêu chí nào để phân chia các khuynh hướng tiểu thuyết đương đại?
Luận án căn cứ chủ yếu vào tiêu chí bút pháp nghệ thuật để nhận diện các khuynh hướng nổi trội gồm: khuynh hướng hiện thực – trào lộng, khuynh hướng hiện thực – huyền ảo, khuynh hướng hiện thực – tâm lý, khuynh hướng hiện thực – hiện sinh, và khuynh hướng hiện thực – lịch sử. Tác giả nhấn mạnh sự phân chia này mang tính tương đối vì giữa các khuynh hướng luôn có sự giao thoa trong cùng một tác phẩm.
4. Khái niệm "hạ yết" của M. Bakhtin được luận án lý giải ra sao trong tương quan với tiếng cười?
"Hạ yết" (bạ thấp) là thủ pháp kéo những gì trừu tượng, cao siêu, giáo điều từ tầng "thượng tầng" xuống bình diện vật chất, cụ thể của đời sống thường nhật ("hạ tầng"). Thủ pháp này gắn liền với tính nhị năng của tiếng cười: vừa có tác dụng hạ bệ, tước bỏ vẻ trang nghiêm giả tạo của cái xấu, vừa làm nảy sinh và tái tạo những giá trị sống đích thực.
5. Những tác giả và tác phẩm tiêu biểu nào được luận án khảo sát cho khuynh hướng hiện thực – trào lộng?
Luận án khảo sát các tác phẩm tiêu biểu như: Thời xa vắng (Lê Lựu), Mảnh đất lắm người nhiều ma (Nguyễn Khắc Trường), Ba người khác (Tô Hoài), Thượng đế thì cười (Nguyễn Khải), Thiên sứ (Phạm Thị Hoài), Mười lẻ một đêm, Cõi người rung chuông tận thế, SBC là săn bắt chuột (Hồ Anh Thái), Thần thánh và bươm bướm (Đỗ Minh Tuấn), Luật đời và cha con (Nguyễn Bắc Sơn), Vết sẹo và cái đầu hói (Võ Văn Trực), T mất tích (Thuận)...
Kết luận
Luận án đã xác lập một cách hệ thống cơ sở lý thuyết và thực tiễn để khẳng định sự hiện diện của khuynh hướng hiện thực – trào lộng trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại từ sau năm 1986. Công trình làm rõ sự chuyển đổi tư duy thể loại từ sử thi sang thế sự, đời tư, phản ánh quá trình dân chủ hóa trong sáng tạo văn học. Thông qua việc phân tích thi pháp trần thuật, kết cấu và ngôn ngữ giễu nhại, luận án phác họa diện mạo con người và hiện thực xã hội nhiều chiều, đóng góp tư liệu nghiên cứu và giảng dạy thể loại tiểu thuyết.