Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Giao thoa và được đan cài với nhiều lý thuyết khác, nội hàm khái niệm nữ quyền, lý thuyết nữ quyền, phê bình văn học nữ quyền không hể bất biến hay có duy nhất một cách tiếp cận. Từ gốc chung ban đầu là tư tưởng đấu tranh để đòi bình quyền cho giới nữ, thuyết nữ quyền phát triển ngày càng đa dạng, để lại dấu ấn trên nhiều phương diện đời sống và văn học. Vì vậy, rất khó để thống kê đầy đủ tình hình nghiên cứu lý thuyết nữ quyền và việc vận dụng lý thuyết nữ quyền để giải mã văn học. Một cách khái lược nhất, chúng tôi mô tả như sau: 1.
Tình hình nghiên cứu về lý thuyết nữ quyền 1. Các công trình của nước ngoài được dịch thuật, giới thiệu ở Việt Nam Đầu thế kỉ XXI, khi các lý thuyết hiện đại phương Tây được tiếp nhận sâu rộng ở Việt Nam, các công trình lý thuyết nữ quyền, phê bình nữ quyền theo đó, được giới thiệu rộng rãi. Không chỉ những nghiên cứu của các nhà phê bình nữ quyền, các bài viết liên quan đến lý thuyết, phê bình nữ quyền có tính chất tổng hợp, gợi mở được cũng được dịch thuật, giới thiệu. Điều đó trở thành những chỉ dẫn quan trọng để giải mã xu hướng “tính nữ” trong văn học Việt Nam đương đại.
Thoát thai từ phong trào cách mạng tư sản cận đại, cho đến nay, chủ nghĩa nữ quyền đã có bề dày lịch sử hơn hai thế kỉ và hiển nhiên nó đã tác động sâu rộng đến đời sống văn học. Là sản phẩm của chủ nghĩa nữ quyền, trải qua các giai đoạn, các “làn sóng”, phê bình nữ quyền ngày càng chứng tỏ được tính ưu việt của nó trong việc giải mã, khám phá các tầng sâu của cấu trúc văn bản. Từ những năm 70 của thế kỉ XX, ở phương Tây, phê bình nữ quyền đã hình thành một hệ thống lí thuyết hoàn chỉnh, bao gồm nhiều nhánh theo các khuynh hướng khác nhau. Đây có thể xem là một hiện tượng khá độc đáo trong văn học, bởi lẽ, với các tiền đề lí thuyết khác nhau (chủ nghĩa giải cấu trúc, phân tâm học, chủ nghĩa Mars, chủ nghĩa hậu hiện đại), lý thuyết nữ quyền, phê bình nữ quyền có sự phân hóa sâu sắc.
Năm 1789, ngay sau khi Đại cách mạng tư sản Pháp bùng nổ, phong trào đòi quyền nam nữ bình đẳng đã diễn ra một cách sôi nổi. Tinh thần cơ bản của Tuyên ngôn Nhân 7 quyền: “Les hommes naissent et demeurent libres et égaux en droits” (Con người được sinh ra tự do và bình đẳng về các quyền lợi) đã trở thành cảm hứng cho sự ra đời của những tư tưởng đấu tranh cho bình quyền. Với ý nghĩa là lý thuyết nền tảng của phê bình nữ quyền, năm 1996, công trình Le Deuxième Sexe (Giới tính thứ hai – 1949) của Simone de Beauvoir được giới thiệu ở Việt Nam đã mở ra một hướng khả giải các sáng tác văn học nữ đương đại. Bằng sự am hiểu về nhiều lĩnh vực khác nhau, phân tích tỉ mỉ hơn về nhiều mặt bị áp bức, yêu cầu cao hơn nữa về việc giải phóng phụ nữ, Simone de Beauvoir đã luận giải về những đặc tính của giới nữ, khẳng định rằng không ngành khoa học nào đương thời đủ khả năng giải thích định nghĩa phụ nữ là giới thứ hai đối với nam giới.
Bà phê phán gay gắt nền văn hóa phụ hệ đã đẩy phụ nữ ra vị trí ngoài lề xã hội cũng như văn học nghệ thuật. Từ đó, de Beauvoir kêu gọi phụ nữ hãy đứng lên đấu tranh giành lại vị trí của mình. Khi khẳng định rằng “người ta không sinh ra là đàn bà mà người ta trở thành đàn bà”, quan điểm của de Beauvoir đã làm lung lay thành trì bản thể luận của tất cả những tư duy triết học, phân tâm học trước đó. Không những thế, công trình của Simone de Beauvoir còn có tác dụng thúc đẩy phong trào phụ nữ chuyển sang một giai đoạn mới.
Với tư cách là một nữ văn sĩ, bà đã phân tích vấn đề một cách sâu sắc và tinh tế, ngay ở cấp độ ngôn từ, báo hiệu cho sự hình thành dần phong trào nữ quyền. Không dùng khái niệm “nữ tính” mà dùng khái niệm “giới (tính) thứ hai” là cách thể hiện cái nhìn của Simone de Beauvoir về lý do phụ nữ không tìm được tiếng nói trong xã hội. Bà cho rằng khi một người đàn bà muốn thuyết minh về mình, thì trước hết phải nói I am Women, còn đàn ông thì không phải thế. Và như thế, ngay trong ngôn ngữ có lịch sử hình thành tự phát từ xa xưa, thì khái niệm nam tính và nữ tính vốn đã là một cặp khái niệm hoàn toàn không đồng đẳng.
Dùng khái niệm “giới tính thứ hai” thay cho “nữ tính’, theo S. Beauvoir là cách để giảm bớt những thiên kiến do quan niệm hiện hành gán ép cho nữ giới. Bà kêu gọi các nữ văn sĩ hãy dùng sức mạnh ngôn ngữ đấu tranh chống lại sự khống chế của nam giới, chứ không phải quay về nương náu trong những ngôn từ quy thuận của mình. Hưởng ứng tinh thần này, đến đầu những năm 60, hàng loạt bài viết đánh dấu sự xuất hiện mạnh mẽ và tiếp diễn sôi nổi của phong trào phê bình nữ quyền.
Mặc dù, có ý nghĩa tích cực đối với phong trào đòi bình quyền cho nữ giới, có ý nghĩa nền tảng đối với phê bình nữ quyền, nhưng những luậnđiểm của S.Beauvoir không tránh khỏi những chỗ cực 8 đoan. Bằng thái độ dứt khoát và táo bạo, bà cho rằng chính mô hình gia đình đã kìm hãm tự do của người phụ nữ. Làm vợ làm mẹ, rồi thành người giúp việc không công, người phụ nữ tự đánh mất mình. Vì vậy, theo bà, người phụ nữ phải thoát khỏi sự ràng buộc của gia đình.
Sự phát triển của nhân loại đã chứng minh điều ngược lại, gia đình là nền tảng bền vững để giúp giải phóng mỗi cá nhân, cũng là giải phóng cho người phụ nữ. Được xem là cuốn sách đầu tiên đặt nền móng cho trường phái phê bình nữ quyền luận trong văn học, khơi nguồn cho phong trào nữ quyền, nhưng phải đến năm 2009, tiểu luận A room of One’s Own (Căn phòng riêng - 1929) của Virginia Woolf mới được giới thiệu ở Việt Nam. Với giọng điệu hài hước kín đáo, cách lập luận sắc sảo, thái độ thẳng thắn, V. Woolf đã đặt ra một luận điểm hết sức cơ bản, thực sự có ý nghĩa đối với các tác giả nữ: "Một phụ nữ muốn viết văn phải có tiền và một căn phòng riêng".
Công trình của V. Woolf đã mô tả tình thế của các nhà văn nữ khi bị xem là bộ phận thứ yếu cấu thành nên diện mạo của nền văn học Anh. Đồng thời bà cũng đặt ra một vấn đề then chốt: Liệu các nhà văn nữ có thể sáng tạo nên những tác phẩm tầm vóc như Shakespeare hay không? Từ đó dẫn đến việc khẳng định, người phụ nữ cần được can dự vào một không gian xã hội rộng lớn hơn, thoát khỏi những định kiến thống trị nhận thức xã hội đang kìm kẹp giới họ. Bút pháp phóng khoáng của V.
Woolf khi “làm mờ đi ranh giới giữa tiểu luận và hư cấu, giữa tự sự và triết lý” [89, tr.9] trong Căn phòng riêng đã tạo được sức thuyết phục trong từng luận điểm và cách lập luận của bà. Sau những công trình có ý nghĩa đặt nền móng cho phê bình nữ quyền của hai nữ văn sĩ này, dường như giới nghiên cứu ở Việt Nam vẫn loay hoay trong việc kiếm tìm một hệ thống lý thuyết nữ quyền hoàn chỉnh, cụ thể. Đáng tiếc là những tác phẩm có tính chất chuyên sâu ở giai đoạn sau của phong trào nữ quyền không được tiếp tục giới thiệu. Cho đến năm 2012, bài viết Phê bình nữ quyền của Raman Selden trích trong chương 6 của cuốn sách Hướng dẫn người đọc về lý thuyết văn học đương đại (A Reader’s Guide to contemporary Literary Theory- 1989) được giới thiệu trên Tạp chí Sông Hương, đã phần nào giải đáp những băn khoăn đối với việc tiếp nhận, giải mã các tác phẩm mang âm hưởng nữ quyền từ hệ thống lý thuyết nữ quyền.
Trong phần Những vấn đề của lý thuyết nữ quyền, tác giả đã trả lời cho câu hỏi mà rất nhiều người kiếm tìm: lý do của sự phong phú, bất định của lí thuyết nữ quyền. Selden, thứ 9 nhất, do các nhà nữ quyền không muốn “ôm” lí thuyết, nó mang tính kiêu hùng của nam giới trong thiết chế hàn lâm, trong khi “các nhà nữ quyền lại thường phơi bày tính khách quan giả trá của khoa học nam giới”, chẳng hạn như lí thuyết của Freud. Thứ hai, các nhà nữ quyền muốn phát triển một diễn ngôn nữ giới không bị ràng buộc về khái niệm (thường do nam giới tạo ra). Có nghĩa là họ muốn tự do về mặt diễn ngôn, không bị ràng buộc bởi sự cố định và xác quyết của lý thuyết.
Mặc dù vậy, theo Selden, “các nhà nữ quyền bị thu hút bởi những lý thuyết từ chối xác nhận quyền lực hay chân lý nam tính như lý thuyết hậu cấu trúc kiểu Lacan và Derrida”. Phân tích Giới tính thứ hai của S. Selden chỉ ra năm tiêu điểm “dính líu” đến hầu hết những cuộc thảo luận về giới tính: sinh học, kinh nghiệm, diễn ngôn, vô thức, những điều kiện kinh tế và xã hội. Đó cũng chính là những vấn đề trọng tâm của lý thuyết nữ quyền.
Bằng việc phân tích các công trình phê bình nữ quyền, tác giả đi đến nhận định về sự đa dạng trong các cách tiếp cận thuyết nữ quyền. Nằm trong toàn thể vũ trụ lí thuyết, phê bình nữ quyền là một tiểu vũ trụ đang cố gắng tìm cách kiểm soát thuyết ngôn. Có lẽ, chính tính chất “mở” của thuyết nữ quyền khiến cho phê bình nữ quyền không ngừng mở rộng biên độ nghiên cứu những vấn đề liên quan đến giới tính. Cùng hướng đi và phương pháp tiếp cận như Raman Selden, bài viết Lý thuyết và phê bình nữ quyền: Từ phê bình xã hội đến phân tích diễn ngôn (1963 – 1973) của Ellen Messer-Davidow (được giới thiệu trên Tạp chí Nghiên cứu văn học, năm 2013) là sự tổng kết và khảo cứu khá chi tiết những bước phát triển của lý thuyết, phê bình nữ quyền trong một thập kỉ.
Bằng phương pháp thống kê, phân tích xã hội học về mặt tri thức, mặt tổ chức của nghiên cứu nữ quyền, phong trào nữ quyền, ông đi đến nhận định: cho đến đầu thế kỉ XXI, ở Mỹ “nền học thuật, phê bình và lý thuyết văn học nữ quyền đã làm thành một bộ phận của hệ thống tri thức được sản sinh trong lĩnh vực nghiên cứu nữ quyền” [20].