phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, luận văn được triển khai thành 3 chương: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc tìm hiểu ngƣời phụ nữ trong thơ chữ Hán của Nguyễn Du từ quan điểm giới. Chƣơng 2: Hình tƣợng nhân vật ngƣời phụ nữ trong thơ chữ Hán của Nguyễn Du. Chƣơng 3: Cái mới của hình tƣợng ngƣời phụ nữ trong thơ chữ Hán của Nguyễn Du trong trào lƣu văn học mang tính nữ quyền thế kỷ XVIII - đầu thế kỷ XIX NỘI DUNG CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC TÌM HIỂU NGƢỜI PHỤ NỮ TRONG THƠ CHỮ HÁN CỦA NGUYỄN DU TỪ QUAN ĐIỂM GIỚI 1. Quan điểm giới (gender) Khái niệm thuật ngữ Giới cùng những công trình nghiên cứu dựa trên lý thuyết về giới đã trở nên phổ biến trong những năm gần đây.
Không chỉ trong thực tế xã hội mà trong văn học, các nhà nghiên cứu đều vận dụng những quan điểm về giới làm tiền đề cho những công trình của mình. Trong luận văn Nhân vật nữ trong thơ chữ Hán Nguyễn Du đọc theo lý luận về giới, chúng tôi muốn tìm và hiểu rõ khái niệm giới, bởi đó là cơ sở để khai thác tác phẩm, chuỗi tác phẩm, tìm ra những thành công và hạn chế của tác giả trong một giai đoạn văn học nhất định. Theo David Glover và Cora Kapla, thuật ngữ Gender xuất hiện lần đầu tiên vào năm 1963 trong Sex in Society (Sex trong xã hội) của Alex Comfort – một nghiên cứu thuộc về tình dục học (sexology), nhưng thuật ngữ này chỉ thật sự nhận được sự quan tâm đặc biệt với công trình Sex and Gender: On the Development of Masculinity and Femininity (1968) (Giới và giới tính: về sự phát triển của nam tính và nữ tính) của Robert J. Như được nhận thấy ngay từ nhan đề của cuốn sách, Gender bắt đầu được nhìn nhận trong sự khu biệt với sex.
Với Stoller, sex thuộc về sinh vật học còn gender thuộc phạm vi của tâm lí học. Hai năm sau, Kate Millett viết lại luận điểm của Stoller Sex thuộc về sinh vật học, gender thuộc về tâm lí học, và vì thế thuộc về văn hóa. Chính nét nghĩa cuối cùng đã tạo ra sự đối lập giữa sex và gender như là sự đối lập giữa tự nhiên và văn hóa. Bắt đầu từ đây, những nghiên cứu về gender có được sự quan tâm đặc biệt bởi lẽ nó là một đầu mối quan trọng để kiến tạo nên phạm trù chủ thể (subject) – một phạm trù luôn ám ảnh trong những suy tư triết học về con người.
Theo quan điểm của Hoàng Bá Thịnh trong bài Tiểu luận xã hội học về giới thì Giới được hiểu như sau: Khái niệm giới không chỉ đề cập đến nam và nữ mà cả mối quan hệ giữa nam và nữ. Trong mối quan hệ này có sự phân biệt vai trò, trách nhiệm, hành vi xã hội mong đợi và quy định cho mỗi giới, phù hợp với những đặc điểm văn hoá, chính trị, kinh tế và tôn giáo. Nó luôn biến đổi theo thời gian và có sự khác biệt theo không gian; vì thế nó luôn biến đổi theo các giai đoạn lịch sử và có khác biệt giữa các cộng đồng, xã hội” [78, tr. Theo tài liệu Một số thuật ngữ về giới và bình đẳng giới của Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam, giới được khái quát như sau: Giới (Gender) tức là nói đến đặc điểm, vị trí, vai trò của nam và nữ trong các mối quan hệ xã hội.
Khác với giới tính là các đặc điểm sinh ra đã có, các đặc điểm giới của nam và nữ đƣợc hình thành và phát trỉnh trong quá trình lớn lên của mỗi cá nhân do sự tƣơng tác của các nhân với mội trƣờng xã hội (gia đình, nhà trƣờng, thông tin đại chúng. Các đặc điểm này đƣợc xây dựng do sự phối hợp giữa yếu tốc khách quan là sự mong đợi của xã hội đối với ngƣời nữ hay nam và yếu tố chủ quan là cách mà ngƣời nữ hay nam đó muốn xã hội nhìn nhận họ. Chính vì thế, trong khi các đặc điểm giới tính rất ít thay đổi thì các đặc điểm về giới lại rất đa dạng tùy thuộc vào điều kiện địa lý, thể chế, xã hội, lịch sử. Qua việc liệt kê một số quan điểm về giới, chúng ta có thể hiểu Giới là một thuật ngữ để chỉ vai trò xã hội, hành vi ứng xử xã hội và những đòi hỏi, yêu cầu đối với nam và nữ.
Nó là sản phẩm của xã hội, văn hóa. Giới là những đặc điểm mà xã hội đã tạo nên ở người nam và người nữ, là quy định của xã hội về người nam và người nữ, là những đặc trưng xã hội ở nam và nữ. Giới thường bao gồm nhiều vấn đề như: vai trò, vị trí của mỗi giới, đặc điểm và nhiệm vụ của mỗi giới trong xã hội… Những vấn đề này thường do xã hội quy định và biến đổi theo từng giai đoạn lịch sử, từng quốc gia, tuỳ theo truyền thống, phong tục tập quán của mỗi dân tộc… Tuy nhiên, một thực tế còn tồn tại trong cách hiểu của các công trình nghiên cứu, Giới (Gender) lại thường bị dùng lẫn lộn với Giới tính (sex). Giới tính chỉ nhấn mạnh đến tính (nam/ nữ) thì Giới nhấn mạnh sự phân biệt nam, nữ trên phương diện xã hội.
Tức là quan điểm giới mà chúng tôi sử dụng không những bao gồm Giới tính mà còn bao gồm cả phương diện văn hóa - xã hội của họ như trong mối quan hệ gia đình, quan hệ nam nữ. Văn hóa là đa dạng trong không gian và biến đổi không ngừng trong thời gian nên một khi thừa nhận gender là một kiến tạo văn hóa thì chúng ta tất yếu phải chấp nhận một thực tế: không có một quan niệm duy nhất, phổ quát cho cái gọi là nam tính (masculinity) hay nữ tính (femininity). Nam tính hay nữ tính biến đổi một cách đa dạng từ nền văn hóa này sang nền văn hóa khác; và ngay trong một nền văn hóa thì nam tính và nữ tính cũng luôn biến đổi từ thời kì này sang thời kì khác. Nữ tính chủ yếu tồn tại trong không gian của gia đình, nam tính chủ yếu được hình thành trong không gian xã hội, cộng đồng.
Sự lưỡng phân này mặc nhiên thừa nhận vai trò vượt trội và thống trị của nam giới với nữ giới. Những quy phạm về nữ tính và nam tính, vì thế, không phải là một tồn tại có tính chất tự nhiên mà là sản phẩm được kiến tạo từ tương quan quyền lực nói trên. Nữ tính là những đặc trưng cho giới tính nữ trong một nền văn hóa của một giai đoạn lịch sử nào đó. Theo quan điểm về giới trong nhiều lĩnh vực khoa học xã hội, nữ tính thường được gắn với sự tái sản sinh ra sự sống và những phẩm chất thuộc về sự chăm sóc, nuôi dưỡng.
Quan hệ giữa nam tính và nữ tính là một quan hệ quyền lực (bao hàm sự phân biệt tôn ti) nên nó có thể được sử dụng để nhận thức về những quan hệ quyền lực khác, đặc biệt là quan hệ chủng tộc trong thời kì bành trướng của phương Tây trên phạm vi toàn thế giới. Những nghiên cứu của E. Said trong Đông phương học (Orientalism) cho thấy phương Đông dưới con mắt phương Tây đã bị nữ tính hóa tối đa (thụ động, bị thuần phục) để tô đậm một phương Tây với quyền năng của nam tính (phiêu lưu, chinh phục và chủ động). Ở cấp độ này, quan hệ về giới tính đã trở thành một công cụ văn hóa để biểu đạt những tương quan quyền lực.
Trước đây, nhân vật nam, nữ thường chỉ được nhìn theo quan điểm giai cấp: áp bức hay bị áp bức; theo quan điểm đạo đức: đáng khen hay đáng chê thì với điểm nhìn giới, chúng ta thấy thêm những phương diện khác của nhân vật. Bởi từ góc độ giới, chúng ta nhìn nhận rõ hơn bản chất của một thời kỳ xã hội phương Đông nam quyền, những tiêu chuẩn để xã hội đánh giá nữ giới bị quy chiếu từ điểm nhìn của người đàn ông. Đó là những tiêu chuẩn kép có lợi cho đàn ông nhưng bất công, bất lợi cho phụ nữ, khắt khe nghiêm ngặt với phụ nữ nhưng lại khoan dung, độ lượng với nam giới. Vì thế, chỉ những người phụ nữ đáp ứng các chuẩn mực Nho gia yêu cầu thì được đánh giá là chính diện lý tưởng còn người phụ nữ vượt ra ngoài khuôn phép sẽ bị coi là phản diện.
Trong triết học Trung Hoa, nữ tính là âm trong cặp âm, dương. Nhiều nhà nghiên cứu đã chỉ ra rằng ban đầu âm và dương có nghĩa là bóng tối và ánh sáng, nhưng về sau chúng không có hàm nghĩa cố định nữa. Chúng được xem là cách để miêu tả các mối quan hệ giữa vạn vật. Trong vũ trụ luận của Lão-Trang, âm được đồng nhất với tự nhiên và đàn bà – các nguyên lý được đánh giá cao hơn là dương, văn hóa và nam tính.
Trái lại, trong Nho giáo chính thống, âm và dương lại liên quan tới các mối quan hệ mang tính tôn ti của con người và quan hệ quyền lực giữa những gì mang tính âm và tính dương lại bị đảo ngược. Người vợ bị coi là thấp kém hơn người chồng, như là âm so với dương. Ngay cả một bề tôi hoặc một ông quan nhà nho cũng được xem là âm trong mối tương quan với tính dương của vua chúa, và điều đó vẫn đúng ngay cả khi cả hai người trong mối quan hệ cặp đôi này đều là đàn ông. Âm và dương thể hiện những mối quan hệ có tính tôn ty, phụ thuộc lẫn nhau không nhất thiết là giữa đàn ông và đàn bà, mặc dù những gì thuộc dương thường có đặc trưng là thường gắn với những nguyên lý của đàn ông và âm thì gắn với những nguyên lý của phụ nữ.
Vì thế, nam tính và nữ tính không phải là những giá trị “nhất thành bất biến” mà có tính lịch sử, tính khu vực. Chúng vừa là những qui ước xã hội về giới áp đặt lên cá nhân từ bên ngoài vừa là ý thức và cách ứng xử theo giới của chính họ. Trong nghiên cứu văn học, nghiên cứu giới để tìm hiểu các kiểu hình tượng nam, nữ. Nhân vật Thúy Kiều trong Truyện Kiều được nghiên cứu từ quan điểm giới để thấy được quan niệm trinh tiết nghiệt ngã của Nho giáo đã trói buộc nàng Kiều, khiến nàng mang mặc cảm tội lỗi vì mình không còn trong trắng.
Từ đó chi phối đến hành động, nàng từ chối tình vợ chồng với Kim Trọng.