CHƯƠNG 1: Cơ sở lí luận và những vấn đề có liên quan CHƯƠNG 2: Đặc điểm cấu tạo từ Hán Việt trong sách giáo khoa Ngữ văn 7. CHƯƠNG 3: Giá trị phong cách của từ Hán Việt trong các văn bản trong sách giáo khoa 7. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ CÓ LIÊN QUAN 1. Một số vấn đề về từ Hán Việt 1.
Quá trình tiếng Hán du nhập vào tiếng Việt và cách đọc Hán Việt 1. Quá trình tiếng Hán du nhập vào tiếng Việt Theo các cứ liệu lịch sử, quá trình tiếp xúc này đã bắt đầu vào khoảng trước sau đầu Công nguyên, cách đây trên dưới 2000 năm. Trong quá trình tiếp xúc giữa hai ngôn ngữ, ban đầu tiếng Việt tiếp nhận từ ngữ Hán chỉ mang tính lẻ tẻ, rời rạc, chủ yếu bằng con đường khẩu ngữ qua sự tiếp xúc của người Việt với người Hán. Đến đời Đường, các trường lớp dạy chữ Hán mở ra nhiều nơi.
Do đó, tiếng Hán đời Đường đã du nhập vào nước ta một cách có hệ thống bằng con đường sách vở. Khi Ngô Quyền đánh bại quân Nam Hán, giành được độc lập (năm 938), người Hán không còn cai trị nước ta nhưng các triều đại phong kiến Việt Nam vẫn lấy chữ Hán làm ngôn ngữ chính thống của Nhà nước, phát triển học hành, thi cử bằng chữ Hán. Vào thời kì đó, người Việt truyền thụ cho nhau chữ Hán, không tiếp thu trực tiếp từ người Hán. Tiếng Hán trải qua các thời đại Tống, Nguyên, Minh, Thanh, đã biến đổi rất nhiều, thì ở Việt Nam, chữ Hán vẫn được đọc như dạng ngữ âm của tiếng Hán đời Đường.
Trải qua một thời gian dài bị nô lệ, đồng thời nước ta lại không có thứ chữ viết riêng nên chữ Hán được sử dụng để làm phương tiện ghi chép trong mọi lĩnh vực sinh hoạt xã hội: sử liệu, văn chương, văn thư hành chính, thi cử, vv. Người Việt phải đọc và học chữ Hán thông qua thư tịch Hán đặc biệt là sách lịch sử và văn học của người Hán, dẫn đến nhiều người Việt giỏi chữ Hán và uyên thâm về văn hóa Hán. Song, Việt Nam là một nước nông nghiệp, sống định cư thành cộng đồng làng, và có truyền thống “phép vua thua lệ làng”. Ngôn ngữ và văn hóa do người Hán áp đặt và được tiếp tay bởi chính quyền đương thời không thẩm thấu hoàn toàn xuống tất cả làng xã Việt Nam, nơi mà tiếng Việt và nếp sống Việt vẫn còn được bảo tồn mãi mãi.
Do đó trong suốt thời gian bị đô hộ, người Việt đã tiếp thu từ người Hán 9 những kiến thức về mọi lĩnh vực, mà ngôn ngữ đóng vai trò rất quan trọng, sau đó chọn lọc và sử dụng chữ Hán “theo tinh thần Việt” để trở thành tài sản riêng của người Việt. Sau hàng chục thế kỷ dưới sự cai trị và đồng hóa của người Hán, người Việt vẫn giữ được tiếng nói và nhiều phong tục riêng của mình. Tuy vậy, vẫn có sự ảnh hưởng nhất định về văn hóa, thể chế chính trị của Trung Quốc đối với xã hội người Việt, kể cả trong tư tưởng triết học và ngôn ngữ. Do không có chữ viết riêng (theo truyền thuyết thì người Việt cổ có chữ viết riêng nhưng bị người Hán hủy bỏ, cấm đoán dẫn đến mất hẳn), trước khi chữ quốc ngữ ra đời, người Việt phải dùng chữ Hán để viết nhưng họ đọc theo âm Việt (chữ Nôm cũng dựa vào chữ Hán nhưng phức tạp hơn và chưa được chuẩn hóa nên cũng không được phổ cập).
Cùng với tâm lý ngưỡng mộ văn hóa Trung Hoa, xem đó là mẫu mực, văn hóa Trung Quốc cũng ảnh hưởng một phần tới văn hóa Việt. Tổ chức chính quyền phong kiến các triều đại đều theo mô hình Trung Quốc. Các nghi lễ "hôn, quan, tang, tế" cũng ảnh hưởng của kiểu Trung Quốc. Hệ quả của quá trình giao lưu tiếp xúc ngôn ngữ - văn hoá Việt - Hán trong một thời kì lịch sử lâu dài đã để lại trong tiếng Việt một bộ phận quan trọng, đó chính là lớp từ gốc Hán.
Từ gốc Hán trong tiếng Việt bao gồm lớp từ Tiền Hán Việt, lớp từ Hán Việt, lớp từ Hán Việt Việt hoá, các từ thuộc phương ngữ của tiếng Hán hiện đại du nhập vào tiếng Việt gần đây. Sở dĩ có nhiều lớp từ gốc Hán như thế trong tiếng Việt là vì quá trình du nhập ngôn ngữ và văn hoá Hán xảy ra đối với xã hội Việt Nam qua nhiều giai đoạn khác nhau. Ở mỗi một thời kì, ngôn ngữ Hán du nhập vào tiếng Việt lại chịu ảnh hưởng bởi các giai đoạn ngữ âm Hán khác nhau. Lớp từ Tiền Hán Việt chịu ảnh hưởng của ngữ âm Hán Thượng Cổ, Hán Việt chịu ảnh hưởng bởi ngữ âm đời Đường – tương ứng với ngữ âm Hán Trung Cổ; và về sau, trong vốn từ Hán Việt lại có một bộ phận từ ngữ tiếp tục được biến đổi cho phù hợp với cơ cấu phát âm và thói quen sử dụng của người Việt cho nên gọi là lớp từ Hán Việt Việt hoá – tức là Việt hoá từ Hán Việt, hay còn hiểu là Việt hóa hai lần từ Hán.
10 Trong từ gốc Hán, từ Hán Việt chiếm số lượng nhiều nhất. Sự ra đời của cách đọc Hán Việt Các nhà sử học Việt Nam thường coi thế kỉ X vừa là cái mốc đánh dấu vừa là để “phân đôi” lịch sử Việt Nam thành hai giai đoạn: giai đoạn trước thế kỉ X là thời kì nước Việt chịu sự đô hộ của phong kiến phương Bắc và giai đoạn từ thế kỉ X trở đi là kỉ nguyên độc lập của một quốc gia có chủ quyền. Có thể coi đây là cơ sở lịch sử − xã hội quan trọng để xem xét, lí giải tiếp xúc Hán – Việt trong mối quan hệ với việc vay mượn từ vựng tiếng Hán trong tiếng Việt. Giai đoạn trước thế kỉ X Tác giả Nguyễn Tài Cẩn cho rằng : “Trong suốt chín thế kỉ sau Công nguyên, cách đọc chữ Hán ở Việt Nam luôn luôn gắn liền với những sự biến đổi xảy ra ở trong tiếng Hán”.
[5, 315] Tuy nhiên, vì tồn tại bên cạnh tiếng Việt, chịu sự tác động của cách nói người Việt, tiếng Hán có thể bị cải biến đi ít nhiều nhưng nhìn chung thời kì này vẫn gắn liền mật thiết với tiếng Hán ở Trung Quốc. Những từ tiếng Hán đi vào hệ thống từ vựng tiếng Việt thời kì này thường được gọi là từ Tiền Hán Việt (hay còn gọi là từ Cổ Hán Việt, từ Hán Việt cổ). Nhưng những cách đọc này không tạo thành hệ thống và hiện không được người Việt dùng khi đọc các văn bản Hán nữa, ví dụ :beo,bùa, buồn, buồng, chè, chữ, chuộc, giá… Từ thế kỉ VIII, IX đến 938 (cuối đời Đường, Ngũ Đại), sự tiếp xúc Hán – Việt đã có ảnh hưởng rất sâu đậm và tồn tại đến ngày nay. Sự tiếp xúc này đã để lại cho chúng ta một cách đọc Hán Việt có hệ thống.
Những từ tiếng Hán ở giai đoạn này gia nhập vào tiếng Việt không phải trực tiếp như ở giai đoạn đầu mà gián tiếp qua quá trình dạy chữ Hán ở Việt Nam lúc bấy giờ. Tác giả Nguyễn Văn Khang nhận định: “Cách đọc Hán Việt là sản phẩm của sự tiếp xúc giữa tiếng Việt với tiếng Hán và nền văn tự Hán xảy ra vào đời Đường, theo hệ thống ngữ âm tiếng Hán mà cụ thể là hệ thống Đường âm dạy ở Giao Châu (khoảng thế kỉ VIII – X). 11 Giai đoạn từ thế kỉ X (938) về sau Từ khoảng đầu thế kỉ X thì Việt Nam giành được độc lập tự chủ, không còn trực tiếp lệ thuộc nhà Hán. Người Việt đã sử dụng chữ Hán hầu như không khác người Hán sử dụng ở Trung Quốc.
Nhưng về mặt ngữ âm, người Việt đọc chữ Hán theo lối của người Việt, khác hẳn cách đọc của người Hán. Từ đây, cách đọc chữ Hán ở giai đoạn cuối Đường − Ngũ Đại ở Việt Nam phát triển theo một hướng riêng, theo quỹ đạo của sự phát triển ngữ âm tiếng Việt. Từ Tống, Nguyên, Minh trở về sau, những gì xảy ra đối với tiếng Hán ở Trung Quốc đều không ảnh hưởng tới tiếng Hán ở Việt Nam, không xóa nhòa được cách đọc mà ta đã học được ở giai đoạn cuối Đường, Ngũ Đại và chúng không thể gây ảnh hưởng đến quá trình diễn biến về sau của cách đọc này. Nguyễn Tài Cẩn, “từ thế kỉ XI trở đi thì cách đọc Hán Việt mới tách hẳn ra thành một lối đọc độc lập với cách đọc ở Trung Nguyên, và tồn tại độc lập với tư cách là hệ thống đọc riêng biệt của người Việt.
Trong giai đoạn này nước ta vẫn còn sự tiếp xúc với tiếng Hán, tiếp xúc trực tiếp, tự nhiên qua khẩu ngữ của người Hán thông qua tầng lớp Hoa kiều ở tại Việt Nam ; hay sự tiếp xúc trực tiếp bị bắt buộc mấy chục năm, giai đoạn nhà Minh chiếm đóng ; hoặc tiếp xúc gián tiếp thông qua sách vở : vận đồ, vận thư, từ điển… Có thể khẳng định rằng : chỉ có giai đoạn tiếp xúc cuối Đường – Ngũ Đại mới là giai đoạn có ảnh hưởng quyết định nhất đối với việc hình thành cách đọc chữ Hán ở Việt Nam hiện nay – cách đọc Hán Việt. Cách đọc Hán Việt chính là sản phẩm bắt nguồn từ giai đoạn tiếp xúc này. Khái niệm từ Hán Việt Xuất phát từ nhiều quan niệm khác nhau về cái gọi là cách đọc Hán Việt, cho nên cũng có nhiều ý kiến khác nhau nhằm giải đáp cho câu hỏi “từ Hán Việt là gì?” hay “thế nào là từ Hán Việt?” Bàn về từ Hán Việt, tác giả Nguyễn Văn Khang đã nhận định rằng: “Cho đến nay, khái niệm “từ Hán Việt” dường như mới chỉ được xác định về mặt lí 12 thuyết mà vẫn còn nhiều điều bỏ ngỏ trong thực tế và đó cũng là lí do giải thích vì sao việc xác định một danh sách từ Hán Việt cụ thể vẫn chưa thể thực hiện được” [18; tr. Thật vậy, từ ngữ Hán Việt thường được hiểu chung là từ ngữ vay mượn của tiếng Hán, nhưng lại phát âm theo cách phát âm Hán Việt, lối phát âm riêng của người Việt.
Tác giả Nguyễn Như Ý “Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học”, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2003 đã giải thích về từ gốc Hán trong đó có từ Hán Việt như sau: “…Từ tiếng Việt có nguồn gốc từ tiếng Hán, đã nhập vâo hệ thống từ vựng tiếng Việt, chịu sự chi phối của các quy luật ngữ âm, ngữ pháp và ngữ nghĩa của tiếng Việt, còn gọi là từ Việt gốc Hán…”.