CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN 1. CƠ SỞ NGÔN NGỮ HỌC: LÍ THUYẾT VỀ TRƯỜNG NGHĨA 1. Khái niệm trường nghĩa Trường nghĩa còn được gọi là trường ngữ nghĩa, trường từ vựng, trường từ vựng ngữ nghĩa, là một lĩnh vực nghiên cứu từ vựng học được xuất hiện mấy chục năm gần đây. Lí thuyết trường nghĩa này bắt đầu từ những tiền đề của trường phái W.
Humboldt và phần nào từ những tư tưởng của F. de Saussure vầ tính cấu trúc của ngôn ngữ. de Saussure cho rằng: " Gíá trị của bất cứ yếu tố nào cũng do những yếu tố ở xung quanh quy định [32: 202] và " chính phải xuất phát từ cái toàn thể làm thành một khối để phân tích ra những yếu tố mà nó chứa đựng" [32: 198]. Nhà nghiên cứu ngôn ngữ J.
Trier đã đưa ra thuật ngữ "trường" vào ngôn ngữ học sớm nhất, đó là thuật ngữ trường khái niệm và trường từ vựng. Trường khái niệm là một hệ thống gồm những khái niệm có quan hệ với nhau, được tổ chức lại xung quanh khái niệm trung tâm. Mỗi trường khái niệm được các từ phủ lên trên, mỗi từ tương ứng với một khái niệm. Trường từ vựng là tập hợp các từ phủ lên trên một trường khái niệm.
Trier chia toàn bộ từ vựng thành trường cấp cao, trong trường cấp cao lại chia thành trường cấp thấp hơn cho đến những từ rời. Trier cho rằng ngôn ngữ mỗi từ tồn tại trong một trường, "giá trị của nó là do quan hệ với các từu khác trong trường quyết định" Từ năm 70 của thế kỷ XX lí thuyết trường nghĩa được giới thiệu vào Việt Nam (từ đây luận văn sử dụng thuật ngữ trường nghĩa được các nhà nghiên cứu ngôn ngữ nhắc đến như một cơ sở cơ bản nhất). Đặc biệt cho đến nay nó vẫn được coi là một mô hình nghiên cứu ưu thắng của ngữ nghĩa học 10 cấu trúc miêu tả. Nhiều công trình nghiên cứu về trường nghĩa, nghĩa của từ, đối chiếu trường nghĩa của Tiếng Việt với trường nghĩa tương ứng trong ngôn ngữ khác đã được hình thành, như các công trình của các tác giả: Đỗ Hữu Châu [5,6], Đỗ Việt Hùng [8], Nguyễn Thiện Gíap [12,13], Bùi Minh Toán [33], Nguyễn Văn Tu [35], cùng các luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ.
Đỗ Hữu Châu đã vận dụng lí thuyết về trường nghĩa của các tác giả nước ngoài để hình thành nên quan điểm của mình về lí thuyết trường nghĩa. Đỗ Hữu Châu cho rằng: " Những quan hệ về ngữ nghĩa giữa các từ sẽ hiện ra khi đặt các từ (nói cho đúng là các ý nghĩa của từ) vào những hệ thống con thích hợp. Nói cách khác, tính hệ thống về ngữ nghĩa của từ vựng thể hiện qua những tiêu hệ thống ngữ nghĩa trong lòng từ vựng và quan hệ ngữ nghĩa giữa các từ riêng lẻ thể hiện qua quan hệ giữa những tiểu hệ thống ngữ nghĩa chứa chúng" [5: 169 - 170]. Từ đó, Đỗ Hữu Châu định nghĩa: " Mỗi tiểu hệ thống ngữ nghĩa được gọi là một trường nghĩa.
Đó là những tập hợp từ đồng nhất với nhau về ngữ nghĩa" [5: 170]. Ở luận văn này, chúng tôi dựa trên cơ sở chính là lí thuyết về trường nghĩa của Đỗ Hữu Châu. Có thể hiểu trường nghĩa là: một nhóm, một tập hợp, một hệ thống. các từ có mối quan hệ nào đó với nhau về ngữ nghĩa làm thành một tiểu hệ thống trong hệ thống từ vựng của một ngôn ngữ.
Tiêu chí xác lập trường nghĩa Khi nghiên cứu ngôn ngữ, đặc biệt đối với vấn đề tiêu chí xác lập trường, các nhà ngôn ngữ học đã đưa ra những đánh giá về trường nghĩa (trường từ vựng ngữ nghĩa) như sau: Việc phân lập từ vựng của một ngôn ngữ thành các trường nghĩa là để phát hiện ra tính hệ thống và cấu trúc của hệ thống từ vựng về mặt ngữ nghĩa là rất có cơ sở. Nhưng đó không phải là một nội dung duy nhất của việc phân lập trường. Nói sâu hơn, tìm ra hệ thống, tìm ra cấu trúc là để tìm ra và giải 11 thích các cơ chế đồng loạt chi phối sự sáng tạo nên đơn vị và hoạt động của chúng trong quá trình sử dụng ngôn ngữ làm công cụ giao tiếp. Vậy thực chất các trường nghĩa là những sự kiện ngôn ngữ cho nên tiêu chí để phân lập chúng phải là tiêu chí ngôn ngữ.
Không thể bắt đầu sự phân lập bằng các phạm vị sự vật, hiện tượng mà con người có thể biết từ ngoài ngôn ngữ, cũng không thể bắt đầu bằng các vùng khái niệm đã có trong tư duy. Nếu như đã phân biệt ý nghĩa biểu vật và ý nghĩa biểu niệm thì cơ sở để phân lập trường là sự đồng nhất nào đó trong ý nghĩa biểu vật và ý nghĩa biểu niệm của các từ. Đỗ Hữu Châu cho rằng: có thể phân ra hai loại trường nghĩa lớn: trường biểu vật và trường biểu niệm. Hai loại trường nghĩa này không loại trừ lẫn nhau và chúng có liên hệ với nhau nhưng phải phân biệt rõ từng loại trường nghĩa.
Thứ nhất: Trường nghĩa biểu vật là một tập hợp những từ có quan hệ gần gũi về ý nghĩa biểu vật. Để có những căn cứ dựa vào đó mà đưa ra các ý nghĩa biểu vật của các từ về trường biểu vật thích hợp, chúng ta chọn ra danh từ làm gốc. Các danh từ này phải có tính khái quát cao, gần như là các tên gọi của các phạm trù biểu vật, như người, động vật, thực vật, vật thể, chất liệu, trang phục, quần,áo,mũ,giầy, dép. Các danh từ này cũng là tên gọi có tác dụng hạn chế ý nghĩa của từ về mặt biểu vật, là những ý nghĩa cụ thể, thu hẹp ý nghĩa của từ.
Với luận văn này, chúng tôi chọn danh từ trang phục là tên gọi của trường nghĩa được khảo sát. Thứ hai :Trường nghĩa biểu niệm là một "tập hợp các từ có chung một cấu trúc biểu niệm. Để xác lập trường nghĩa biểu niệm ta chọn một cấu trúc biểu niệm làm gốc, rồi trên cơ sở đó thu nhập các từ ngữ có chung cấu trúc biểu niệm gốc đó" (8:230). Trên thực tế dựa vào ý nghĩa của từ mà chúng ta phân lập được các trường nghĩa nhưng cũng chính nhờ các trường nghĩa, nhờ sự định vị của từng từ một trong trường nghĩa thích hợp, chúng ta hiểu sâu sắc thêm ý nghĩa của 12 từ.
Không phải chỉ có mỗi việc hiểu ý nghĩa của từ, các trường biểu vật, biểu niệm cũng như các trường khác (trường nghĩa tuyến tính, trường nghĩa liên tưởng) còn giúp chúng ta phát hiện ra các quy tắc chi phối sự vận động của từ trong lịch sử và trong hoạt động thực hiện chức năng. Trong "Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng", Đỗ Hữu Châu đã đưa ra các tiêu chí xác lập trường nghĩa khá rõ nét: Tiêu chí đầu tiên: do các trường nghĩa là những sự kiện thuộc phạm trù ngôn ngữ cho nên việc phân lập chúng trước tiên là dựa theo tiêu chí ngôn ngữ - những ý nghĩa ngôn ngữ. Ý nghĩa ngôn ngữ chính là ý nghĩa của từ, cơ sở để tập hợp các từ thành trường. Tiêu chí thứ hai: phải tìm ra được các trường hợp điển hình - từ điển hình (từ trung tâm) chỉ mang các đặc trưng từ vựng - ngữ nghĩa được coi là cơ sở.
Tiêu chí thứ ba: dựa vào các lớp ý nghĩa biểu vật và biểu niệm, có thể phân biệt trường biểu vật và trường biểu niệm. Tiêu chí thứ tư: tiêu chí xác lập trường biểu vật là sự đồng nhất ở một nét nghĩa biểu vật. Tiêu chí thứ năm: tiêu chí xác lập trường biểu niệm là sự đồng nhất ở một nét nghĩa biểu niệm. Tiêu chí thứ sáu: với trường tuyến tính cần dựa hẳn vào ngữ nghĩa từ trung tâm.
Tiêu chí thử bảy: cơ sở để xác lập trường liên tưởng là các nghĩa ngữ dụng của từ trung tâm. Từ trung tâm khi cùng xuất hiện với loại từ nào đấy trong những ngữ cảnh trùng lặp sẽ có hiện tượng đẳng cấu ngữ nghĩa. Khi ấy chúng sẽ tạo thành một trường nghĩa liên tưởng mà các từ có quan hệ với nhau nhờ những mối liên tưởng ngữ nghĩa nào đó. Các loại trường nghĩa 13 F.
de Saussure trong " Giáo trình ngôn ngữ học đại cương" đã chỉ ra hai dạng quan hệ: quan hệ ngang ( quan hệ hình tuyến, quan hệ tuyến tính, quan hệ ngữ đoạn) và quan hệ dọc (quan hệ trực tuyến, quan hệ hệ hình). Từ hai dạng quan hệ ngang và quan hệ dọc mà F. de Saussure nêu ra, Đỗ Hữu Châu đã phân chia trường nghĩa thành hai loại: trường nghĩa ngang (trường nghĩa tuyến tính) và trường nghĩa dọc (truyền nghĩa trực tuyến). Đồng thời căn cứ vào loại ý nghĩa còn có sự phân biệt trường nghĩa biểu vật và trường nghĩa biểu niệm.
Trường nghĩa biểu vật (trường biểu vật) Về khái niệm trường biểu vật là một tập hợp từ có cùng hạt nhân về ý nghĩa biểu vật. Từ điển hình của trường thường là các danh từ có tính khái quát cao, gần như là tên gọi của các phạm trù biểu vật. Ví dụ: trường nghĩa trang phục, từ trung tâm khái quát trang phục sẽ tập hợp các từ ngữ có cùng hạt nhân ý nghĩa về trang phục: - Từ ngữ chỉ các tiểu trường của trang phục: quần ,áo, dầy, dép ,khăn…. - Các từ ngữ chỉ đặc điểm, tính chất, màu sắc của trang phục: trang phục đẹp, trang phục xấu, trang phục tốt, trang phục đắt, trang phục rẻ, trang phục còn lành lặn, trang phục đã rách, trang phục nhàu lát, trang phục nhau nhúm, trang phục phẳng phiu.
từ ngữ chỉ màu sắc của trang phục: hoa, màu, xanh đỏ, tím, vàng, lục nam, đen, nâu, thâm, hồng,. - Các từ ngữ chỉ chất liệu của trang phục: chất liệu bằng vải thô, chất liệu bằng vải nhung, chất liệu bằng kim tuyến, chất liệu bằng rơm, chất liệu bằng da, chất liệu bằng nhựa, chất liệu bằng cao su, chất liệu lụa tơ tằm,chất vải nhiễu, chất mo cau, chất vải gấm, chất da, chất nhựa…. - Các từ ngữ chỉ hoạt động mua bán của trang phục: tiền, đồng, hào, mua, bán, sắm, 14 - Các từ ngữ chỉ cách thức tác động của con người với trang phục: Giặt, rũ, phơi, hong, đập, ngâm… - Các từ ngữ chỉ chủ thể sử dụng trang phục: Anh, em, chàng, nàng, cô, thiếp, chị, cậu, mợ, thím… - Các từ chỉ bộ phận cơ thể “mang’ trang phục: chân, tay, đầu, vai, cổ, lưng, bụng…. Trường nghĩa biểu niệm (trường biểu niệm) Trường biểu niệm là một tập hợp từ có chung cấu trúc biểu niệm là các ý nghĩa biểu niệm của từ.