phần mở đầu, kết luận và thƣ mục tài liệu tham khảo, luận văn đƣợc trình bày trong ba chƣơng: Chƣơng 1: Sự du nhập của đạo Thiên chúa vào Việt Nam và sự hình thành mảng đề tài viết về Thiên chúa giáo trong văn học Việt Nam trung cận đại. Trong chƣơng này chúng tôi nói những điểm khái quát về quá trình truyền bá đạo Thiên chúa vào Việt Nam với sự bành trƣớng thế lực của Pháp tại Việt Nam, và đề tài Thiên chúa giáo trong các tƣ liệu lịch sử cũng nhƣ trong sáng tác văn học giai đoạn nửa cuối thế kỷ XVIII đến hết thế kỷ XIX. 11 z Chƣơng 2: Quan niệm của Phan Bội Châu về Thiên chúa giáo. Về quan niệm của Phan Bội Châu đối với đạo Thiên chúa đƣợc trình bày chủ yếu ở hai vấn đề là: quan niệm về văn hóa, tín ngƣỡng tôn giáo của đạo Thiên chúa và thái độ của ông đối với mối quan hệ giữa đạo Thiên chúa và sự xâm lƣợc của thực dân Pháp.
Chƣơng 3: Những điểm mới về đề tài Thiên chúa giáo của Phan Bội Châu. Ở chƣơng này, luận văn đi sâu vào những điểm mới của Phan Bội Châu về đề tài Thiên chúa giáo, mà một trong những điểm mới nhất là vấn đề đoàn kết lƣơng – giáo trong phong trào chống Pháp. Bên cạnh đó, chƣơng 3 này cũng trình bày quá trình chuyển biến tƣ tƣởng của các nhà Nho nửa cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX trên con đƣờng nhận thức trong cách mạng đấu tranh giải phóng dân tộc. 12 z PHẦN NỘI DUNG CHƢƠNG 1: SỰ DU NHẬP CỦA ĐẠO THIÊN CHÚA VÀO VIỆT NAM VÀ SỰ HÌNH THÀNH MẢNG ĐỀ TÀI VIẾT VỀ THIÊN CHÚA GIÁO TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM TRUNG CẬN ĐẠI 1.
Sự du nhập của đạo Thiên chúa vào Việt Nam 1. Những tiền đề và quá trình truyền bá đạo Thiên chúa vào Việt Nam 1. Mầm mống của sự truyền bá đạo Thiên chúa ra vùng đất ngoại Ở Tây Âu, từ giữa thế kỷ XV, khi nền kinh tế Phong kiến đang bắt đầu có dấu hiệu suy yếu, và có sự xuất hiện manh nha của nền kinh tế Tƣ bản chủ nghĩa. Sự tƣớc đoạt tƣ liệu sản xuất của nông dân tại chỗ cũng nhƣ lợi nhuận thƣơng mãi trong vùng dƣờng nhƣ không thể đáp ứng đủ nhu cầu của xã hội đang phát triển.
Cho nên, các thƣơng nhân phƣơng Tây muốn vƣơn tới những vùng đất mới giàu tài nguyên, hàng hóa quý hiếm có thể đƣa lại lợi nhuận cao và nhanh, nhằm xúc tiến sự định hình của nền kinh tế Tƣ bản chủ nghĩa, đồng thời nâng cao địa vị chính trị của giai cấp Tƣ sản. Bên cạnh đó, cùng với sự phát triển của nền kinh tế Tƣ bản chủ nghĩa ở Tây Âu, công nghiệp đóng tầu và kỹ thuật hàng hải đã có những bƣớc tiến bộ lớn. Nhiều loại máy móc, đồng hồ đƣợc sáng chế cho phép tính tƣơng đối chính xác kinh tuyến, vĩ tuyến, tọa độ, hƣớng đi của các tàu. Những điều kiện ấy đã cho phép các nhà thám hiểm tổ chức những chuyến đi xa nhằm đáp ứng những nhu cầu của nền kinh tế mới.
Năm 1497, Vasco de Gama – nhà hàng hải Bồ Đào Nha đã khám phá ra đƣờng đi sang Ấn Độ bằng cách đi qua mũi Hải Vọng; năm 1500, Alvares Cabral tìm ra Brasilia. Cuộc thám hiểm của Christophe Colomb đã tìm ra châu Mỹ. Bên cạnh đó còn có các cuộc thám hiểm của Anh, Pháp. Sự tồn tại của một tân lục địa mới (Châu Mỹ) cũng nhƣ con đƣờng ngắn nhất để đến vùng Viễn Đông của các nhà thám hiểm đã khẳng định địa vị của các nƣớc Tây Âu trên bản đồ thế giới [36/12 – 13].
Các cuộc phát kiến địa lý đó đã thúc đẩy các nhà chinh phục muốn tìm kiếm sự nghiệp và một cuộc sống mới ở các miền đất lạ, và các thƣơng nhân hăm hở đi tìm những thị trƣờng mới. Cuộc chạy đua đó đã dẫn tới hiện tƣợng các nƣớc phƣơng Tây xô nhau đi xâm chiếm thuộc địa để mở rộng thị trƣờng. Trong các cuộc thám 13 z hiểm và chạy đua xâm lƣợc thuộc địa đó không chỉ có mặt của các nhà chinh phục và các thƣơng nhân, mà còn thấy có mặt thƣờng xuyên và đông đảo các giáo sĩ của các nƣớc phƣơng Tây đƣợc phái đi theo để thực hiện xứ mệnh truyền bá đạo Thiên chúa. Cuộc truyền bá Thiên chúa giáo La Mã trên thế giới vẫn chủ yếu nằm dƣới sự đỡ đầu và điều hành của ba quốc gia lớn là Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha và Pháp.
Thế kỷ XVI – XVII, giáo hội Thiên chúa giáo La Mã đã mở rộng việc truyền đạo ra khắp ba châu lục: Á, Phi, Mỹ. Sang thế kỷ XVIII, giáo hội Thiên chúa giáo La Mã bị trào lƣu tƣ tƣởng triết học mới của giai cấp Tƣ sản phƣơng Tây đả kích mạnh mẽ, và lại bị tấn công dữ dội trong cách mạng Tƣ sản Pháp 1789, hầu hết các giáo đoàn Thiên chúa giáo bị giải thể, khiến cuộc truyền giáo trên thế giới bị chậm lại một thời gian dài. Tuy nhiên, từ sau thỏa hiệp ký kết giữa Napoléon I với tòa thánh La Mã năm 1801, và sự ra đời tác phẩm Tinh thần Cơ Đốc giáo (Génie du Christianisme) của Chateaubriand năm 1802, ca ngợi tính nhân văn của tôn giáo này, thì vị thế của Thiên chúa giáo đƣợc phục hồi, các dòng tu, giáo đoàn đƣợc hoạt động trở lại, việc truyền giáo ra ngoài Châu Âu tiếp tục đƣợc đẩy mạnh. Nhƣ vậy, việc truyền bá đạo Thiên chúa luôn gắn bó mật thiết với các cuộc thám hiểm, và sau này là cuộc xâm lƣợc thuộc địa, cũng nhƣ công cuộc thực dân ở các vùng đất ngoại của giai cấp Tƣ sản phƣơng Tây.
Để có thể thực hiện đƣợc các cuộc truyền giáo ra vùng đất ngoại thì cần có sự giúp đỡ về vật chất của các quốc gia Thiên chúa giáo có nền kinh tế Tƣ bản sớm phát triển nhƣ: Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha và Pháp. Các quốc gia này đã đứng ra tổ chức và tài trợ cho các đoàn truyền giáo từ việc chuyên chở, nuôi dƣỡng, bảo vệ cho các giáo đoàn đến cả việc phải cung cấp cho họ những tiền bạc, những tặng phẩm quý để họ lấy lòng các vua chúa bản địa. Chính vì thế các giáo sĩ thừa sai trả ơn các việc làm đó bằng cách làm một số việc có lợi cho quốc gia đó nhƣ cung cấp cho các nhà chức trách những thông tin quan trọng về mọi mặt của miền đất truyền đạo hay làm môi giới cho việc buôn bán giữa thƣơng nhân nƣớc ấy với bản địa. và trong nhiều trƣờng hợp, họ đã tạo cớ cho một cuộc xâm lƣợc vũ trang với tƣ cách là để bảo vệ các giáo sĩ thừa sai, bảo vệ giáo dân đang bị chính quyền bản địa gây khó dễ.
Đặc biệt, việc mở rộng sự truyền bá đạo Thiên chúa ra phạm vi toàn thế giới từ thế kỷ XV đến XIX đã có sự gắn kết chặt chẽ với sự bành trƣớng thế lực của chủ nghĩa thực dân phƣơng Tây thể hiện ở động cơ và vai trò của nó trong sự hợp thức hóa chủ nghĩa thực dân và có phần đóng góp quan trọng vào thành công của sự bành trƣớng thực dân này [36/38]. Quá trình truyền bá đạo Thiên chúa vào Việt Nam Bắt đầu từ thế kỷ XV, vùng Viễn Đông là nơi lui tới của nhiều đoàn thám hiểm, các thƣơng nhân và các giáo sĩ đến từ phƣơng Tây, để buôn bán, truyền đạo rồi qua đó chiếm đất đai vùng này làm thuộc địa. Philippines đã trở thành thuộc địa của Tây Ban Nha (1527), còn các giáo sĩ Bồ Đào Nha, lúc này chủ yếu thuộc dòng Jésuite2 đã thâm nhập vào Ấn Độ, Trung Quốc, Nhật Bản. Việt Nam tuy nằm trong khu vực Viễn Đông, song cũng chƣa đƣợc các giáo sĩ quan tâm.
Việc truyền bá đạo Thiên chúa vào Việt Nam mới đƣợc coi thực sự là bắt đầu từ năm 1615 khi trung tâm truyền giáo của Bồ Đào Nha cử hai giáo sĩ Francois Bujomi và Diego Carvalho sang Hải Phố thuộc tỉnh Quảng Nam để truyền giáo. Sở dĩ hai giáo sĩ này sang Hải Phố là do lúc này ở Nhật đang có cuộc bắt đạo rất gắt, các giáo dân Nhật Bản đã đến đây cƣ trú, thêm vào đó, ở đây cũng có nhiều thƣơng nhân Nhật Bản có đạo đến buôn bán. Cho nên, hai giáo sĩ trên thay vì đi Nhật, họ đƣợc cử sang Hải Phố để duy trì đời sống đạo của những ngƣời này. Và họ đã đạt đƣợc kết quả tốt đẹp, sau một năm với ba trăm ngƣời Việt đã cải giáo.
Trƣớc tình hình thuận lợi đó, sáu giáo sĩ đã đƣợc gửi sang Đàng Trong từ Ma Cao vào năm 1624, trong đó có giáo sĩ Alexandre de Rhodes – “ngƣời có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc xây dựng nền móng cho giáo hội Thiên chúa giáo La Mã ở Việt Nam, ở cả Đàng Trong và Đàng Ngoài trong nửa đầu thế kỷ XVII” [36/52]. Rhodes đã mở ra một trang sử mới trong sự phát triển của Thiên chúa giáo ở Viễn Đông nói chung và ở Việt Nam nói riêng khi ông có công to lớn trong cuộc vận động tòa thánh La Mã cử các thế diện tông tòa ngƣời Pháp đảm đƣơng việc truyền giáo ở Viễn Đông (1658) khi mà Bồ Đào Nha không còn đủ sức đảm đƣơng, và sự ra đời của Hội Thừa sai Paris (1663) nhằm đào tạo các giáo sĩ thừa sai ngƣời Pháp đi làm nhiệm vụ truyền giáo ở vùng này. Sau cuộc vận động của tòa thánh Vatican đến năm 1658, Giáo hoàng đã đồng ý cử các giáo sĩ Pháp sang Viễn Đông với điều kiện họ phải tự lo liệu về mặt vật chất và phƣơng tiện đi lại. Ba giáo sĩ quốc tịch Pháp là Pallu, Lambert, Cotolendi đƣợc 2 : Dòng tu do Ignace de Loyola (ngƣời Tây Ban Nha) thành lập năm 1534, là dòng tu chiến đấu chống lại dị giáo, tuyệt đối trung thành với Giáo hoàng [36/14] 15 z cử làm thế diện Tông tòa ở Viễn Đông.
Do không thể vận động thành lập một công ty thƣơng mại để buôn bán và chuyên chở các giáo sĩ nên họ phải đi bộ sang Viễn Đông. Cotolendi đã bị chết giữa đƣờng còn hai giáo sĩ trên, Lambert đến Thái Lan vào năm 1662 và Pallu đến năm 1664. Tuy nhiên, trƣớc khi đi Viễn Đông, vào tháng 10 năm 1663, Pallu đã cùng các giáo sĩ Pháp đứng ra thành lập hội Thừa sai Paris với việc đào tạo các giáo sĩ thừa sai để gửi đi Viễn Đông. Hội Thừa sai Pari đƣợc nhà vua Pháp Louis XIV và các nhà quyền quý nhiệt liệt ủng hộ cả về vật chất lẫn tinh thần.
Điều này đánh dấu một bƣớc ngoặt lớn của cuộc truyền bá đạo Thiên chúa vào Việt Nam.