CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1. Khái quát về phương tiện tu từ và biện pháp tu từ 1. Phương tiện tu từ Phương tiện tu từ được các nhà phong cách học quan niệm: “Phương tiện tu từ là những phương tiện ngôn ngữ mà ngoài ý nghĩa cơ bản (ý nghĩa sự vật- lôgic) ra chúng còn có ý nghĩa bổ sung, còn có màu sắc tu từ và được hình thành từ bốn yếu tố: biểu cảm( chứa đựng yếu tố hình tượng), cảm xúc ( chứa đựng những yếu tố diễn đạt tình cảm, cảm xúc), bình giá( chứa đựng những yếu tố khen chê) và phong cách chức năng( chỉ rõ phạm vi sử dụng thường xuyên, cố định” [ 22, tr.11] Phương tiện tu từ bao giờ cũng nằm trong thế đối lập tu từ học (tiềm tàng trong ý thức của người bản ngữ) với phương tiện tương liên có tính chất trung hoà của hệ thống ngôn ngữ. Ví dụ: từ hi sinh (có màu sắc cao quí), qua đời (có màu sắc tôn kính),…là những phương tiện tu từ nằm trong thế đối lập tu từ học với phương tiện trung hòa (từ chết có màu sắc trung hòa).
Từ hi sinh ngoài nét nghĩa cơ bản là chết còn mang nét nghĩa bổ sung: thể hiện sự trân trọng, tôn kính của người nói. Vì thế trong trường hợp này, từ hi sinh được gọi là phương tiện tu từ. Căn cứ vào các cấp độ của các đơn vị ngôn ngữ có nghĩa, các phương tiện tu từ được phân thành: phương tiện tu từ từ vựng, phương tiện tu từ ngữ nghĩa, phương tiện tu từ cú pháp, phương tiện tu từ văn bản. Biện pháp tu từ Khi nghiên cứu về phong cách học tiếng Việt, các tác giả đã có khá nhiều quan niệm khác nhau về các biện pháp tu từ.
Chẳng hạn, nhà nghiên cứu Cù Đình Tú trong công trình Phong cách học và đặc điểm tu từ tiếng Việt đã đồng nhất biện pháp tu từ với cách tu từ, phép mĩ từ. Theo cách hiểu của ông thì biện pháp tu từ bị hạn chế chỉ ở trong các hình thức chuyển nghĩa, tức “những hình thức diễn đạt bóng bẩy, gợi cảm, có sức hấp dẫn, lôi cuốn trong 12 khi trình bầy”. Còn tác giả Đinh Trọng Lạc trong công trình 99 phương tiện và biện pháp tu từ tiếng Việt lại dùng một thuật ngữ chung (biện pháp tu từ), nhưng khi miêu tả cụ thể ở mỗi cấp độ khác nhau thì ông lại dùng những thuật ngữ khác nhau như: phương thức, biện pháp. Tác giả Đỗ Hữu Châu, nhà nghiên cứu gạo cội về từ vựng - ngữ nghĩa, trong công trình Các bình diện của từ và từ tiếng Việt dùng một thuật ngữ thống nhất là biện pháp tu từ (giống như Đinh Trọng Lạc) nhưng với cách hiểu không xác định.
Ví dụ như biện pháp tu từ từ vựng được ông dùng để chỉ biện pháp tu từ ngữ nghĩa hoặc biện pháp tu từ cú pháp (bao gồm cả các phương tiện tu từ cú pháp). Những cách hiểu biện pháp tu từ như vậy chưa thể phân biệt được phương tiện tu từ với biện pháp tu từ và vô hình trung đã thu hẹp phạm vi hoạt động của biện pháp tu từ chỉ ở hai cấp độ: ngữ nghĩa và cú pháp. Từ những cách định nghĩa, phân tích trên, luận văn thống nhất và sử dụng theo định nghĩa của tác giả Đinh Trọng Lạc: “Biện pháp tu từ là những cách phối hợp sử dụng trong hoạt động lời nói các phương tiện ngôn ngữ không kể là có màu sắc tu từ hay không có màu sắc tu từ, trong một ngữ cảnh rộng để tạo ra hiệu quả tu từ (tức tác dụng gây ấn tượng về hình ảnh, cảm xúc, thái độ, hoàn cảnh) ”[22, tr. Hiểu như vậy, biện pháp tu từ chính là những cách kết hợp ngôn ngữ đặc biệt trong một hoàn cảnh cụ thể, nhằm một mục đích tu từ nhất định.
Nó đối lập với biện pháp sử dụng ngôn ngữ thông thường trong mọi hoàn cảnh, chỉ nhằm mục đích diễn đạt lí trí (sự vật- lo gic) mà thôi. Tóm lại, biện pháp tu từ là cách diễn đạt ngôn ngữ mới mẻ, thể hiện khả năng sáng tạo độc đáo của người sử dụng ngôn ngữ. Do vậy, việc phân loại và miêu tả các biện pháp tu từ đạt được tính hệ thống, tính nhất quán ở tất cả các cấp độ ngôn ngữ sẽ giúp cho người sử dụng ngôn ngữ luôn có ý thức nhận thức được tầm quan trọng của sự đối lập quen thuộc, mới mẻ giữa các biện pháp thông thường và biện pháp tu từ (biện pháp đặc biệt). Sự lựa chọn, sử dụng các biện pháp tu từ ở người sử dụng ngôn ngữ luôn là sự sáng tạo không ngừng, nhưng không nên nghĩ rằng phải luôn dùng hình thức diễn đạt 13 mới mẻ, bóng bẩy mới hay.
Vì thế, người phát ngôn chỉ có khám phá, phát hiện và khai thác giá trị sử dụng của các biện pháp tu từ thì người đọc mới có thể phát hiện và nhận thức sâu sắc về giá trị thẩm mĩ của ngôn từ. Căn cứ vào cấp độ ngôn ngữ của các phương tiện ngôn ngữ được phối hợp sử dụng, các biện pháp tu từ được chia ra: biện pháp tu từ từ vựng, biện pháp tu từ ngữ nghĩa, biện pháp tu từ cú pháp, biện pháp tu từ văn bản, biện pháp tu từ ngữ âm- văn tự. Mối quan hệ giữa phương tiện tu từ với biện pháp tu từ Để có thể nhận biết dễ dàng và sử dụng hiệu quả phương tiện tu từ, biện pháp tu từ, chúng ta cần phải xác định một cách rõ ràng, chính xác. Có thể phân biệt biện pháp tu từ và phương tiện tu từ dựa trên một số đặc điểm cơ bản sau: Biện pháp tu từ Phương tiện tu từ - Là những cách phối hợp sử dụng các - Là những yếu tố thuộc các cấp đơn vị lời nói trong giới hạn của một độ khác nhau, được đánh dấu về đơn vị thuộc bậc cao hơn.
tu từ học trong giới hạn của một cấp độ nào đó của ngôn ngữ. - Ý nghĩa tu từ học của biện pháp tu từ - Ý nghĩa tu từ học của phương nảy sinh ra trong ngữ cảnh của một tiện tu từ được củng cố ở ngay đơn vị lời nói nào đó, bị qui định bởi phương tiện đó, được qui định bởi những quan hệ cú đoạn giữa các đơn những quan hệ hệ hình của các vị của một bậc hay các bậc khác nhau. yếu tố cùng bậc. Giữa phương tiện tu từ và biện pháp tu từ tuy có những sự khác biệt nhất định, nhưng vẫn có mối quan hệ biện chứng.
Một mặt, việc sử dụng các phương tiện tu từ sẽ tạo ra các biện pháp tu từ, mặt khác việc sử dụng một biện pháp tu từ nào đó trong lời nói cũng có thể chuyển hóa nó thành một phương tiện tu từ (đây là trường hợp của so sánh). Hơn nữa, cùng một phương tiện tu từ có thể xây dựng nên những biện pháp tu từ khác nhau. Chẳng hạn, 14 từ phương tiện tu từ từ vựng, người ta có thể có nhiều biện pháp tu từ: sử dụng từ ngữ Hán Việt, sử dụng từ ngữ địa phương, sử dụng từ ngữ dùng trong khẩu ngữ,… Và ngược lại, những phương tiện tu từ khác nhau có thể cùng tham gia vào việc xây dựng cùng một biện pháp tu từ duy nhất. Phương tiện tu từ từ vựng và tu từ ngữ nghĩa 1.
Phương tiện tu từ từ vựng Theo tác giả Đinh Trọng Lạc: “Phương tiện tu từ từ vựng là những từ ngữ đồng nghĩa mà ngoài ý nghĩa cơ bản ra chúng còn có ý nghĩa bổ sung, còn có màu sắc tu từ được hình thành từ bốn thành tố: biểu cảm (chứa đựng những yếu tố hình tượng), cảm xúc (diễn đạt những tình cảm, những cảm xúc), bình giá (khen, chê, tốt, xấu,…) và phong cách chức năng (chỉ rõ phạm vi sử dụng, thường xuyên, cố định)” [22, tr. Ví dụ: so với từ đứa trẻ là phương tiện từ vựng trung hòa thì các từ sau đây là những phương tiện từ vựng tu từ: em bé ( tỏ vẻ âu yếm), đứa trẻ con, đứa con nít ( tỏ vẻ xem thường), ranh con, nhãi con ( tỏ thái độ khinh thị, ghét bỏ), thằng nhóc, con nhóc ( tỏ vẻ bỡn cợt). Căn cứ vào phạm vi sử dụng phương tiện tu từ từ vựng có thể chia ra thành: Những từ ngữ có điệu tính tu từ cao và những từ ngữ có điệu tính tu từ thấp. - Những từ ngữ có điệu tính tu từ cao là những từ ngữ gọt giũa được ưu tiên sử dụng trong lời nói mang phong cách sách vở,văn hóa.
Những từ ngữ này thường mang màu sắc cao sang, quý phái, bác học, bắt nguồn từ các lớp từ: từ thi ca, từ Hán Việt, … - Những từ ngữ có điệu tính tu từ thấp là những từ ngữ được ưu tiên sử dụng trong lời nói sinh hoạt hàng ngày mang phong cách khẩu ngữ tự nhiên. Đó là những từ ngữ mang màu sắc cụ thể, nôm na, bình dân, thân mật, bắt nguồn từ các lớp từ: từ nghề nghiệp, từ địa phương, từ láy, … Sau đây, chúng tôi sẽ tập trung trình bày khái quát về các lớp từ ngữ có điệu tính tu từ cao để làm cơ sở cho việc tìm hiểu màu sắc tu từ của các phương tiện này trong ca dao ru con ở chương 2 của luận văn. Từ thi ca Theo tác giả Đinh Trọng Lạc: “Từ thi ca là những từ thường được sử dụng chủ yếu trong thơ văn xưa. Ngày nay nếu dùng chỉ những con người, sự vật hiện đại thì thấy kệch cỡm, buồn cười” [22, tr.
Ví dụ: nàng, chàng, tráng sĩ, trầm tư, đồng vọng, anh hào, thuyền quyên… Thuyền quyên phải sánh anh hào Phụng hoàng đâu sánh thấp cao với diều. Hay bài ca dao sau đây: Làm trai quyết chí tu thân Công danh chớ vội, nợ nần chớ lo Làm trai năm liệu bảy lo mới hào Trời sinh trời chẳng phụ nào Công danh gặp hội anh hào ra tay Chí khôn rắp để dạ này Có công mài sắt có ngày nên kim. Thuyền quyên chỉ những người con gái đẹp nết, đẹp người; anh hào chỉ những chàng trai tuấn kiệt, văn võ toàn tài trong xã hội. Đây là những từ xuất hiện khá phổ biến trong thơ ca xưa còn ngày nay khi đi vào sáng tác thơ ca chúng ta thấy lớp từ thi ca không còn xuất hiện nữa.
Từ thi ca bao gồm cả những từ rút trong thơ cổ, có tính chất điển cố, kiểu như: hồng nhan, lá thắm, chim xanh, tài tử,… Ví dụ: Thâm nghiêm kín cổng cao tường, Cạn dòng lá thắm dứt đường chim xanh.