Chương 1: Cơ sở lí thuyết của đề tài Chương 2: Đặc điểm các kiểu ẩn dụ bổ sung trong một số tác phẩm thơ mạng đƣơng đại Việt Nam Chương 3: Giá trị biểu đạt và hiệu quả tu từ của ẩn dụ bổ sung trong một số tác phẩm thơ mạng đƣơng đại Việt Nam 9 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÍ THUYẾT CỦA ĐỀ TÀI 1. Khái quát về vấn đề ẩn dụ trong ngôn ngữ học 1.1 Nhận xét chung Ẩn dụ là biện pháp tu từ dùng tên gọi của sự vật, hiện tƣợng này bằng tên của sự vật, hiện tƣợng khác có nét tƣơng đồng giữa 2 đối tƣợng về mặt nào đó (nhƣ tính chất, trạng thái, màu sắc, …) nhằm tăng sức gợi hình và gợi cảm cho sự diễn đạt. Ẩn dụ tu từ trong ngôn ngữ học đƣợc coi là so sánh ngầm vì cơ sở cấu tạo giống nhƣ so sánh tu từ. Các nhà nghiên cứu thƣờng căn cứ vào đặc điểm cấu tạo của ẩn dụ tu từ để phân chia thành các kiểu sau: ẩn dụ hình tƣợng, ẩn dụ bổ sung, ẩn dụ tƣợng trƣng.
Trong đó, ẩn dụ bổ sung còn có tên gọi khác là “ẩn dụ chuyển đổi cảm giác”, là sự thay thế một cảm giác này bằng một cảm giác khác trong nhận thức cũng nhƣ trong diễn đạt ngôn ngữ. Theo nhận xét của tác giả Đỗ Thị Hằng trong Luận án Tiến sĩ với đề tài Ẩn dụ tu từ bổ sung trong thơ văn Việt Nam từ năm 1930 đến nay cũng giống nhƣ những phƣơng tiện tu từ ngữ nghĩa, ẩn dụ và ẩn dụ bổ sung là những phƣơng tiện ngôn ngữ đƣợc dùng nhiều trong giao tiếp và trong sáng tạo văn học. Để nhận diện ẩn dụ, trong đó có ẩn dụ bổ sung, trƣớc hết phải phân biệt đƣợc tính hình tƣợng, ngôn ngữ hình tƣợng trong tác phẩm với tính cụ thể của ngôn ngữ tự nhiên trong giao tiếp hằng ngày, từ đó phân biệt ẩn dụ, ẩn dụ bổ sung với các phƣơng tiện tu từ khác. Các phát ngôn hình tƣợng bằng cách này hay cách khác, đã phá vỡ cái chuẩn của ngôn ngữ tự nhiên, để xây dựng chuẩn mực mới trong văn bản.
Quy tắc cấu tạo lời nói trong ngôn ngữ tự nhiên bao gồm các quy tắc ngữ pháp, quy tắc ngữ nghĩa và các ràng buộc về mặt dụng học. Các phát ngôn có tính hình tƣợng, nói chung tuân thủ các quy tắc ngữ pháp, đôi khi vi phạm các quy tắc ngữ nghĩa và phần lớn các trƣờng hợp đều vi phạm các ràng buộc về mặt dụng học (hiểu dụng học trong phạm vi giao tiếp). Nếu hiểu theo câu chữ, sự vi phạm các quy tắc đó khiến cho các 10 phát ngôn bề mặt có vẻ nhƣ là không đúng, hoặc không thích hợp. Mặc dù đôi khi ẩn dụ, kể cả ẩn dụ bổ sung, đƣợc đồng nhất với ngôn ngữ hình tƣợng, nhƣng trƣớc hết phải xem chúng nhƣ những thủ pháp tu từ đặc biệt, khác với những thủ pháp tu từ khác nhƣ nói mỉa, nói phóng đại, hoán dụ…v.v và có thể nhận diện chúng nhờ các kiểu vi phạm về ngữ nghĩa và vi phạm về mặt dụng học trong giao tiếp.
Một phát ngôn có thể trở thành không logic, chuẩn mực theo nghĩa của từng câu, từng chữ, bởi có khi vị ngữ của phát ngôn đó lại do các từ không thỏa mãn đƣợc các điều kiện lựa chọn do chủ ngữ quy định hoặc ngƣợc lại, đảm nhiệm, nhƣng đƣợc chấp nhận trong giao tiếp thông thƣờng [26, tr. Ví dụ: Những ngọn cỏ non uống trăng đêm. Nếu xét về mặt ngữ nghĩa, ẩn dụ này đã vi phạm quy tắc lựa chọn vì vị ngữ "uống" đòi hỏi tham thể chủ thể phải là động vật hoặc con ngƣời và đòi hỏi tham thể thụ thể phải là chất lỏng. Các câu có dùng cải dung, hoán dụ và nhất là ẩn dụ thì thƣờng không đúng theo nghĩa từng câu, từng chữ, vì chúng chứa đựng sự vi phạm các quy tắc hạn chế lựa chọn nằm ở việc nhập cảnh một từ lấy từ các lĩnh vực khác, từ trong một trƣờng nghĩa cách xa hơn là ở sự lệch hƣớng về đảm nhận các tham tố ngữ nghĩa của các từ.
Còn trong trƣờng hợp của ẩn dụ bổ sung thì sự vi phạm các quy tắc lựa chọn nằm ở việc lấy một từ hoặc nhiều từ từ các lĩnh vực khác, miễn là thuộc cùng một trƣờng nghĩa, trƣờng nghĩa cảm giác, một trƣờng nghĩa nhỏ thuộc con ngƣời, đảm nhiệm các tham tố ngữ nghĩa của các từ. Ví dụ: Tôi đã nghe hoa nở đỏ trời. Ở đây, động từ "nghe" đóng vai trò vị ngữ trong câu, thỏa mãn yêu cầu tham thể chủ thể là động vật hoặc con ngƣời nhƣng tham thể đối thể phải là âm thanh thì lại không đƣợc thỏa mãn, bởi nó đã đƣợc thay thế bằng màu sắc vốn là tham thể đối thể của động từ "nhìn". Nghĩa là ở phát ngôn trên không đúng nếu xét theo quy tắc lựa chọn ngữ nghĩa nhƣng nó vẫn đƣợc chấp nhận vì thỏa mãn các yêu cầu về mặt dụng học, giúp ngƣời ta có thể diễn đạt một cách sinh động hơn những cảm giác tinh tế, đa chiều bằng nhiều cảm giác.
11 Tuy nhiên, trên thực tế cũng có những ẩn dụ không vi phạm quy tắc hạn chế lựa chọn, ví dụ: chó cùng rứt giậu, áo gấm đi đêm, cây ngay không sợ chết đứng. Những ẩn dụ này có thể đúng cả về mặt hình ảnh và mặt câu chữ nhƣng ngay cả khi không có sự lệch hƣớng về ngữ nghĩa ở trong câu chứa ẩn dụ thì ẩn dụ vẫn cứ phụ thuộc vào một sự bất thƣờng nào đó về nhận thức, mà chính sự bất thƣờng đó là cái quyết định cơ bản đối với tính sáng tạo về trí tuệ - cái vốn là bộ phận của hiệu quả nhận thức đƣợc tạo ra khi nói đến sự vật này bằng tên gọi của sự vật khác - của ẩn dụ. Nhƣ vậy, nghĩa là có một ý nghĩa khác, ý nghĩa thứ hai, ý nghĩa hàm ẩn, ngoài ý nghĩa trực tiếp theo câu chữ của các ẩn dụ. Ý nghĩa thứ hai này mới là ý nghĩa - đối tƣợng - của quá trình lí giải duy nhất về ẩn dụ, nghĩa là cần tìm ra cho đƣợc tính tƣơng đồng giữa các lĩnh vực và tính đẳng cấu giữa các nét nghĩa để giải thích vì sao một từ ngữ nào đó trong lĩnh vực ngữ nghĩa của cái mốc so sánh lại đƣợc dùng trong lĩnh vực của topic, tức là của cái chủ đề.
Từ quan điểm ngôn ngữ học, vấn đề cơ bản của ẩn dụ là một đối tƣợng nào đó đƣợc biểu thị trong ngôn ngữ và có tính chung bất thƣờng hay lệch chuẩn chung. Về mặt ngữ pháp, sự lệch chuẩn có thể chia ra hai kiểu. Kiểu thứ nhất, sự lệch chuẩn về cú pháp, tức là tác động gây ra khi các quy tắc chi phối sự kết hợp các từ ngữ đã bị vi phạm. Thứ hai, những lệch chuẩn ngữ nghĩa, theo đó những sự vi phạm không nằm ở sự kết hợp các từ ngữ mà ở sự hạn chế lựa chọn giữa các phạm trù.
Khi khảo sát về ẩn dụ bổ sung không thể ở các diễn đạt thông thƣờng mà là các kiểu ý nghĩa dụng học. Những kiểu này không hoàn toàn là những ý nghĩa thuộc về ngữ nghĩa học, nghĩa là không phải là những nét nghĩa tạo thành ý nghĩa của một từ. Ý nghĩa dụng học là một hàm số của những hiểu biết mà ta có đƣợc theo vai trò một ngữ cảnh cụ thể. Nói cách khác, ý nghĩa dụng học chính là những hiểu biết bách khoa về sự vật, về tính chất, chứ không phải là nghĩa của từ.
Nhƣ vậy, cùng với ngữ nghĩa học, tín hiệu học, phân tích diễn ngôn và dụng học có vai trò quan trọng trong việc lí giải cơ chế của ẩn dụ, trong đó có ẩn dụ bổ sung, bởi sự lí giải 12 các ẩn dụ và ẩn dụ bổ sung không phải chỉ dựa trên sự hiểu biết về ngữ nghĩa, về sự chuyển hóa giữa các nghĩa trong quá trình sử dụng mà còn phải dựa trên cả sự hiểu biết về quan niệm thế giới và nhân sinh. Chính vì thế, ẩn dụ trong ngôn ngữ và trong lời nói đƣợc các nhà ngôn ngữ học tiếp cận và lí giải theo các quan niệm khác nhau. Những quan niệm và cách lí giải ẩn dụ trong ngôn ngữ học 1. Cách lí giải ẩn dụ bằng lí thuyết trường từ vựng - ngữ nghĩa Theo Đỗ Hữu Châu "giữa các trƣờng nghĩa thiếu đƣờng ranh giới rứt khoát và tình trạng một từ có thể có mặt trong một số trƣờng do từ có tính nhiều nghĩa biểu vật.
Vì thế, một từ có thể đi vào nhiều trƣờng biểu vật khác nhau tùy theo số lƣợng các ý nghĩa biểu vật của nó" [6, tr. Ví dụ những từ nhƣ: tính toán, vẽ, múa, hát, viết, đọc, nghĩ… chỉ nằm trong trƣờng biểu vật chỉ hoạt động của con ngƣời. Những từ nhƣ: chân, tay, mắt, mũi, miệng… vừa có mặt trong trƣờng biểu vật chỉ các bộ phận cơ thể ngƣời vừa có mặt trong trƣờng biểu vật chỉ các bộ phận cơ thể động vật. Do hiện tƣợng một từ có thể đi vào nhiều trƣờng, đã tạo nên sự giao thoa, xuyên thấm vào nhau giữa các trƣờng nghĩa.
Hai trƣờng biểu vật giao thoa với nhau khi một số từ của trƣờng này cũng nằm trong trƣờng kia. Đó là sự chuyển trƣờng nghĩa của từ. Cơ sở của sự chuyển trƣờng là sự chuyển đổi ý nghĩa của từ, là hiện tƣợng nghĩa của từ. Trong sự chuyển biến ý nghĩa, có khi nghĩa biểu vật đầu tiên không còn nữa, nó đã bị quên đi, nhƣng thông thƣờng cả nghĩa đầu tiên và nghĩa mới cùng tồn tại, cùng hoạt động, rất khó nhận ra nghĩa nào là nghĩa đầu tiên của từ.
Sự chuyển đổi nghĩa của từ xuất phát từ rất nhiều nguyên nhân. Tuy nhiên, nguyên nhân chủ yếu là do nhu cầu giao tiếp của con ngƣời. Có nhu cầu về mặt trí tuệ, có nhu cầu về mặt tu từ. Ngôn ngữ luôn đòi hỏi con ngƣời phải kịp thời sáng tạo ra những phƣơng tiện mới để biểu thị những sự vật, hiện tƣợng và những nhận thức mới xuất hiện trong cuộc sống để thay thế những cách diễn đạt đã cũ, không còn khả năng gợi tả, bộc lộ cảm xúc và gây 13 những ấn tƣợng tới ngƣời nghe.
Chính vì vậy, việc thay đổi ý nghĩa sẵn có của từ và thổi vào chúng luồng sinh khí mới là một biện pháp hay, sống động… nhanh chóng đáp ứng đƣợc những nhu cầu giao tiếp. Đó cũng là cách khai thác và phát huy tiền năng của ngôn ngữ.