Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp "Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về thực nghiệm điều tra" được thực hiện bởi sinh viên Nguyễn Lê Khánh (Mã sinh viên: 452032), dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Trần Thị Thu Hiền tại Bộ môn Tội phạm học và Khoa học điều tra, Trường Đại học Luật Hà Nội (năm 2024).

Về bối cảnh thực tiễn và lý do chọn đề tài, tác giả xác định thực nghiệm điều tra (TNĐT) là biện pháp điều tra tố tụng hình sự quan trọng. Kết quả TNĐT phản ánh tính khách quan, khoa học, là căn cứ pháp lý để xác định có hay không có sự việc phạm tội, làm rõ người thực hiện, phương thức, thủ đoạn và khả năng diễn ra của vụ án. Mặc dù Bộ luật Tố tụng Hình sự (BLTTHS) năm 2015 đã quy định cụ thể về trình tự, thủ tục tiến hành, thực tiễn áp dụng vẫn bộc lộ nhiều vướng mắc, bất cập:

  • Chưa có quy định cụ thể về căn cứ ra quyết định và thời điểm tiến hành TNĐT;
  • Quy định chưa rõ ràng về các trường hợp Viện kiểm sát (VKS) trực tiếp tiến hành TNĐT;
  • Vướng mắc khi bắt buộc phải có điều kiện tương tự thực tế nhưng hiện trường đã bị xáo trộn hoặc không thể tái tạo;
  • Thời hạn điều tra bị kéo dài;
  • Thách thức đối với tội phạm công nghệ cao khi dữ liệu và chứng cứ điện tử khó phục hồi để thực nghiệm;
  • Các vấn đề phát sinh xung quanh sự tham gia của bị can, bị hại và người có chuyên môn.

Mục đích nghiên cứu của khóa luận là làm sáng tỏ các vấn đề lý luận về TNĐT, nhận xét, đánh giá thực tiễn áp dụng pháp luật, từ đó đề xuất các kiến nghị hoàn thiện pháp luật TTHS.

Nhiệm vụ nghiên cứu được văn bản xác định cụ thể gồm 3 nội dung:

  1. Nghiên cứu, làm rõ khái niệm, nguyên tắc, điều kiện chiến thuật và các loại TNĐT.
  2. Nghiên cứu, đánh giá tình hình áp dụng pháp luật về TNĐT ở nước ta trong thời gian gần đây.
  3. Đề xuất các biện pháp để hoàn thiện các quy định trong hệ thống pháp luật TTHS Việt Nam về TNĐT, cũng như nâng cao hiệu quả của biện pháp điều tra này.

Đối tượng nghiên cứu là các vấn đề lý luận và thực tiễn về biện pháp TNĐT trong khuôn khổ pháp luật TTHS Việt Nam.

Phạm vi nghiên cứu giới hạn ở các vấn đề lý luận cơ bản xoay quanh quy định pháp luật TTHS hiện hành, kết hợp khảo sát thực tiễn áp dụng tại một số địa phương trên cả nước từ năm 2021 đến thời điểm hoàn thành nghiên cứu (năm 2024).


Cơ sở pháp lý và phương pháp nghiên cứu

Khóa luận xây dựng hệ thống luận cứ dựa trên các văn bản pháp luật thực định và các công trình học thuật chuyên ngành:

  • Cơ sở pháp lý: Trọng tâm là Điều 204 BLTTHS năm 2015 quy định về thực nghiệm điều tra; đối chiếu với Điều 153 BLTTHS năm 2003 và BLTTHS năm 1988; các điều khoản liên quan trong BLTTHS năm 2015 gồm Điều 19 (nguyên tắc tuân thủ pháp luật trong hoạt động điều tra), Điều 45 (nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán chủ tọa phiên tòa), Điều 133 và Điều 178 (biên bản tố tụng), các Điều 189, 190, 191 (về đối chất, nhận dạng, nhận biết giọng nói) và quy định tại Điều 341 Bộ luật Hình sự (tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức).
  • Tài liệu lý luận: Giáo trình Khoa học Điều tra Hình sự (2021) và Giáo trình Luật TTHS Việt Nam của Trường Đại học Luật Hà Nội; Giáo trình Luật TTHS Việt Nam của Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh; luận văn Thạc sĩ Luật học của tác giả Nguyễn Duy Thanh (Trường ĐH Luật TP. Hồ Chí Minh, 2022); các bài nghiên cứu chuyên khảo của TS. Nguyễn Đức Tiến và ThS. Nguyễn Thị Hải Anh (Tạp chí Nghề luật số 1-2023), ThS. Lê Đình Nghĩa (Tạp chí Điện tử Luật sư Việt Nam), tác giả Nguyễn Cao Cường (Tạp chí Điện tử Kiểm sát), TS. Trần Văn Hùng (Tạp chí Luật sư Việt Nam).
  • Phương pháp nghiên cứu: Tác giả sử dụng phương pháp phân tích - tổng hợp lý thuyết để làm rõ khái niệm, bản chất pháp lý và chiến thuật hình sự; phương pháp so sánh luật học nhằm chỉ ra điểm mới của BLTTHS năm 2015 so với BLTTHS năm 2003; phương pháp nghiên cứu hồ sơ, phân tích bản án thực tế để đánh giá thực trạng áp dụng pháp luật.
  • Nguồn dữ liệu: Dữ liệu thực tiễn được trích dẫn trực tiếp từ các bản án đã có hiệu lực pháp luật (Bản án số 37/2023/HS-ST của TAND tỉnh Long An; Bản án số 534/2023/HS-PT của TAND cấp cao tại TP. Hồ Chí Minh; Bản án số 04/2020/HS-ST và Bản án số 34/2021/HS-ST của TAND tỉnh Phú Yên; Bản án số 190/2021/HS-PT của TAND TP. Hồ Chí Minh), thông tin hoạt động nghiệp vụ của VKSND tỉnh Nghệ An và hồ sơ một số vụ án trọng điểm được công bố công khai.

Nội dung chính theo từng chương

Chương I: Một số vấn đề lý luận về khái niệm thực nghiệm điều tra

Chương này tập trung xác lập cơ sở lý luận về TNĐT trong tố tụng hình sự:

  • Khái niệm và mục đích: Dẫn chiếu khoản 1 Điều 204 BLTTHS năm 2015 và Giáo trình Khoa học Điều tra Hình sự (2021), TNĐT được định nghĩa là biện pháp điều tra tiến hành thông qua hoạt động thí nghiệm, thực nghiệm đặc biệt trong điều kiện tương tự như điều kiện mà hành vi, sự việc, hiện tượng cần kiểm tra, xác minh đã diễn ra trước đây. Mục đích là phát hiện, thu thập, củng cố, kiểm tra, đánh giá chứng cứ và kiểm tra các giả thuyết điều tra. Tác giả lưu ý kết quả TNĐT thường không tự tạo ra chứng cứ mới mà chỉ phát hiện và xác lập chúng.
  • Chủ thể và thẩm quyền: Thẩm quyền ra quyết định thuộc về Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra (CQĐT) và Viện trưởng, Phó Viện trưởng VKS. Điều tra viên (ĐTV) là người chủ trì cuộc TNĐT (điểm mới so với Điều 153 BLTTHS năm 2003). Kiểm sát viên (KSV) bắt buộc phải có mặt để kiểm sát (nếu vắng mặt phải ghi rõ vào biên bản). Điểm đ khoản 2 Điều 45 BLTTHS quy định Thẩm phán chủ tọa phiên tòa có quyền quyết định TNĐT, tuy nhiên tại Điều 204 không quy định Thẩm phán tham gia trực tiếp mà Tòa án là cơ quan yêu cầu, việc tiến hành thuộc về CQĐT. Thành phần tham gia bắt buộc phải có người chứng kiến (ít nhất 2 người); có thể mời người có chuyên môn; trường hợp cần thiết có sự tham gia của người bị tạm giữ, bị can, người bào chữa, bị hại, người làm chứng.
  • Nguyên tắc tiến hành: Gồm nguyên tắc nghiêm chỉnh tuân theo pháp luật (Điều 19 BLTTHS; không xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản, không ảnh hưởng xấu đến phong tục tập quán) và nguyên tắc tôn trọng sự thật khách quan (không gò ép, mớm cung, lừa phỉnh).
  • Phân loại thực nghiệm điều tra: Về hình thức, TNĐT chia làm hai dạng: diễn lại (làm lại hành vi, quan sát, nghe lại) và làm thử (tái tạo điều kiện để kiểm tra giả thuyết). Về nội dung, tác giả tổng hợp thành 5 loại cụ thể:
Phân loại TNĐT Hình thức Mục đích chính Vụ án minh họa trong khóa luận
1. Xác định khả năng tri giác Diễn lại Kiểm tra khả năng nghe, nhìn của một người đối với tình tiết vụ án ở điều kiện tương tự. Kiểm tra nhân chứng có nhìn thấy bị can gây án ở khoảng cách thực tế hay không.
2. Xác định khả năng thực hiện hành vi Diễn lại Kiểm tra một người có đủ thể lực, thời gian, kỹ năng nghề nghiệp để thực hiện hành vi hay không. - Vụ Nguyễn Hùng Cường (giết người, cướp tài sản tại Ô Long Vĩ, Châu Phú, An Giang, TNĐT ngày 09/02/2024).
- Vụ Thái Thanh M phạm tội làm giả tài liệu theo K3 Điều 341 BLHS (TNĐT ngày 14/6/2023 tại Nghệ An).
3. Xác định khả năng diễn ra của sự việc, hiện tượng Làm thử Kiểm tra giả thuyết vụ việc có xảy ra trong điều kiện nhất định hay không, xác định nguyên nhân khách quan. Vụ cháy xưởng do cắt kim loại bằng ngọn lửa oxy khí đốt của Nguyễn Ngọc V (Bản án số 190/2021/HS-PT của TAND TP. Hồ Chí Minh).
4. Xác định diễn biến của tình tiết cụ thể Diễn lại Xác minh diễn biến, trình tự, các bước thực hiện tội phạm theo lời khai. Vụ án bắt cóc, hiếp dâm, sát hại nữ sinh giao gà tại Điện Biên (đối tượng Vương Văn Hùng diễn lại việc gọi điện, siết cổ nạn nhân, TNĐT ngày 16/7/2019).
5. Xác định quá trình hình thành dấu vết Làm thử Kiểm tra cơ chế hình thành dấu vết trên vật mang vết để định hướng giám định. Thực nghiệm đối chiếu dấu vết giày tại sàn nhà hiện trường với chiếc giày thu giữ được.

Chương II: Điều kiện chiến thuật và chiến thuật của thực nghiệm điều tra

Chương II phân tích các yêu cầu kỹ thuật nghiệp vụ theo Giáo trình Khoa học Điều tra Hình sự:

  • Bốn điều kiện chiến thuật của TNĐT:

    1. Tiến hành trong điều kiện, hoàn cảnh giống ở mức tối đa: Tái tạo tương tự về thời gian, địa điểm, công cụ, phương tiện. Đồ vật dùng trong thực tế nếu là vật chứng thì phải được bảo quản, chỉ dùng đồ vật tương tự thay thế; chỉ dùng vật chứng thật khi đã giám định hoặc vật đó có tính chất đặc thù không thể thay thế (dẫn chứng vụ án trộm cắp của Đ. Liêm tại Biên Hòa, Đồng Nai ngày 14/6/2022, đối tượng dùng tuốc-nơ-vít 30cm thực nghiệm cạy khóa đúng thời điểm 6 giờ sáng).
    2. Hiện trường tương tự hiện trường xảy ra vụ án: Thực hiện dựng lại hiện trường theo đúng trật tự sắp xếp ban đầu, ghi nhận các yếu tố thay đổi không thể khắc phục (dẫn chứng vụ thảm án Bình Phước do Nguyễn Hải Dương chủ mưu năm 2015, dựng lại hiện trường biệt thự nhà nạn nhân).
    3. Làm lại nhiều lần trong điều kiện thay đổi có chủ định: Nhằm loại trừ yếu tố ngẫu nhiên, nâng cao độ tin cậy khi kiểm tra giả thuyết điều tra (dẫn chứng vụ án cháy nổ của Nguyễn Ngọc V được thực nghiệm nhiều lần để kiểm tra tia lửa hàn bắn vào mút cao su).
    4. Tiến hành theo từng giai đoạn: Chia nhỏ quá trình diễn biến hành vi phức tạp để theo dõi, đánh giá toàn diện (áp dụng trong vụ án Nguyễn Hải Dương).
  • Chiến thuật tiến hành qua 3 giai đoạn:

    • Giai đoạn chuẩn bị: Nghiên cứu kỹ hồ sơ vụ án; lập bản kế hoạch chi tiết (xác định mục đích, thời gian, địa điểm, phương pháp, thành phần tham gia, dự trù rủi ro bị can bỏ trốn hoặc tự sát); chuẩn bị công cụ, phương tiện chiếu sáng, đo đạc; chụp ảnh hiện trường trước và sau khi dựng lại; phổ biến nhiệm vụ (KSV, chuyên gia, người chứng kiến được biết toàn bộ kế hoạch; bị can, bị hại, nhân chứng chỉ được phổ biến mục đích chung).
    • Giai đoạn tiến hành: ĐTV phát hiệu lệnh; thư ký và ĐTV giám sát chặt chẽ; tuyệt đối không làm mẫu, mớm cung hay ép buộc; hướng dẫn tế nhị để đối tượng nhớ lại; lặp lại hoạt động khi cần; ra lệnh đình chỉ ngay nếu tính khách quan bị vi phạm; triển khai phương án bảo vệ trật tự an toàn, ngăn chặn chống đối, tự sát hoặc người dân quá khích.
    • Giai đoạn kết thúc: Lập và thông qua biên bản TNĐT ngay tại hiện trường theo quy định tại Điều 133 và Điều 178 BLTTHS; giải quyết các hậu quả phát sinh; dọn dẹp hiện trường; bảo quản công cụ, phương tiện và thực hiện bảo mật kết quả thực nghiệm.

Chương III: Thực tiễn áp dụng quy định của pháp luật về thực nghiệm điều tra và một số giải pháp nâng cao chất lượng thực nghiệm điều tra

  • Thực tiễn áp dụng và kết quả đạt được: Tác giả phân tích 3 vụ án cụ thể để khẳng định giá trị của biện pháp TNĐT:

    1. Bản án số 37/2023/HS-ST ngày 23/6/2023 của TAND tỉnh Long An (vụ Trương Tiến D phạm tội Giết người): Bị can D dùng mã tấu chém vào đỉnh đầu anh Lê Minh V1. TNĐT cho bị can diễn lại hành vi đã tạo căn cứ vững chắc, chứng minh lời khai của D trùng khớp hoàn toàn với biên bản khám nghiệm hiện trường và bản ảnh, làm sáng tỏ vụ án.
    2. Bản án số 534/2023/HS-PT ngày 10/8/2023 của TAND cấp cao tại TP. Hồ Chí Minh (vụ Nguyễn Văn H phạm tội Giết người): Xuất phát từ tranh chấp đường đi, H dùng dao đâm bà Huỳnh Thị Cẩm H1. Người bị hại kháng cáo cho rằng bà M và anh H2 giữ đầu, khóa tay giúp sức cho H gây án. Kết quả TNĐT xác định không có hành vi giữ đầu và khóa tay, từ đó Tòa phúc thẩm bác toàn bộ nội dung kháng cáo của bị hại.
    3. Bản án số 04/2020/HS-ST ngày 14/01/2020 của TAND tỉnh Phú Yên (vụ Huỳnh Tấn P và đồng phạm phạm tội Giết người): Bị can P phản cung nhận mình là chủ mưu trực tiếp chém chết anh Lê Thanh T. Qua TNĐT diễn lại hành vi, cơ quan tố tụng đã bác bỏ lời khai sai sự thật của P, củng cố tính khách quan trong lời khai của các nhân chứng và đồng phạm khác.
  • Tám nhóm hạn chế, vướng mắc trong thực tiễn:

    1. Bất đồng về tính cần thiết: ĐTV và KSV nhận thức không thống nhất về căn cứ tổ chức TNĐT, dẫn đến việc trả hồ sơ điều tra bổ sung kéo dài. Dẫn chứng vụ án Trần Nhật V1 cùng 10 bị can phạm tội giết người tại Bản án số 34/2021/HS-ST ngày 23/11/2021 của TAND tỉnh Phú Yên: VKS yêu cầu TNĐT đêm 31/5/2021 nhưng không thực hiện được do giãn cách dịch Covid-19; sau đó CQĐT kiến nghị không cần thiết vì chứng cứ đã đầy đủ và được VKS cấp trên chấp thuận.
    2. Bất cập về địa điểm diễn lại hành vi (khoản 1 Điều 204): Tồn tại hai quan điểm trái chiều: quan điểm thứ nhất bắt buộc phải thực hiện tại hiện trường vụ án; quan điểm thứ hai cho rằng nếu chỉ kiểm tra tư thế, thao tác thì có thể diễn lại tại trụ sở hoặc trại tạm giam nhằm tiết kiệm chi phí và bảo đảm an toàn.
    3. Khái niệm "hoạt động thực nghiệm cần thiết" (khoản 1 Điều 204): Chưa có văn bản hướng dẫn cụ thể về nội dung và giới hạn kỹ thuật của các hoạt động này.
    4. Hình thức thông báo cho VKS (khoản 2 Điều 204): Luật không quy định rõ việc ĐTV thông báo cho VKS về thời gian, địa điểm TNĐT phải lập bằng văn bản hay các hình thức khác.
    5. Địa vị pháp lý của người có chuyên môn (khoản 3 Điều 204): Chưa có điều khoản xác định rõ quyền, nghĩa vụ và chế tài xử lý vi phạm đối với người có chuyên môn, dù trên thực tế lực lượng này trực tiếp thực hiện phần lớn các thao tác kỹ thuật phức tạp.
    6. Thẩm quyền tiến hành TNĐT của VKS và Tòa án: Khoản 4 Điều 204 quy định "trường hợp cần thiết VKS tiến hành TNĐT" nhưng không quy định rõ tiêu chí "cần thiết" và giai đoạn tố tụng cụ thể; xung đột thẩm quyền giữa điểm đ khoản 2 Điều 45 (cho phép Thẩm phán quyết định TNĐT) với Điều 204 (không quy định trình tự thủ tục cho Thẩm phán thực hiện). Thực tế KSV và Thẩm phán thường trả hồ sơ điều tra bổ sung do thiếu lực lượng bảo vệ và phương tiện chuyên dụng.
    7. Thiếu quy định về biên bản TNĐT tại Điều 204: Điều 204 không có điều khoản viện dẫn cụ thể về thủ tục lập biên bản như các biện pháp đối chất, nhận dạng (Điều 189, 190, 191).
    8. Thiếu tiêu chuẩn định lượng: Thiếu quy chuẩn về mức độ tương tự của hiện trường, tiêu chuẩn công cụ thay thế vật chứng, số lần lặp lại và giá trị chứng minh khi kết quả các lần thực nghiệm có sự sai lệch.
  • Các giải pháp tác giả đề xuất:

    • Kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật:
      • Sửa đổi khoản 1 Điều 204 theo hướng mở rộng chủ thể: "Cơ quan tiến hành tố tụng có thể TNĐT bằng cách dựng lại hiện trường...";
      • Hướng dẫn cụ thể về địa điểm: bắt buộc tại hiện trường khi kiểm tra khả năng nghe, nhìn, tầm quan sát; cho phép thực nghiệm tại địa điểm thuận tiện (trụ sở, trại giam) khi chỉ kiểm tra tính khả thi của thao tác, hành vi;
      • Ban hành văn bản giải thích "hoạt động thực nghiệm cần thiết" là các thử nghiệm dựa trên cơ sở khoa học kỹ thuật chuyên ngành;
      • Bổ sung cụm từ "để cử Kiểm sát viên kiểm sát việc TNĐT" vào khoản 2 Điều 204 và quy định rõ việc thông báo phải bằng văn bản;
      • Quy định cụ thể quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm pháp lý của người có chuyên môn;
      • Sửa đổi khoản 4 Điều 204: quy định rõ KSV được trực tiếp TNĐT trong giai đoạn truy tố mà không cần trả hồ sơ; bổ sung trình tự, thủ tục để Thẩm phán chủ tọa tiến hành TNĐT;
      • Bổ sung một khoản vào Điều 204 quy định việc lập biên bản thực hiện theo Điều 178 BLTTHS;
      • Ban hành hướng dẫn về tiêu chuẩn tương tự, công cụ thay thế và cách thức đánh giá kết quả khi có sai lệch.
    • Các giải pháp bổ trợ: Nâng cao năng lực chuyên môn, đạo đức nghề nghiệp và trách nhiệm của ĐTV, KSV, Thẩm phán; đầu tư kinh phí, phương tiện kỹ thuật hiện đại phục vụ TNĐT đối với dấu vết tinh vi và tội phạm công nghệ cao; tăng cường tập huấn, bồi dưỡng kỹ năng nghiệp vụ thực tế giữa các cơ quan tiến hành tố tụng.

Kết quả và đóng góp

  • Hệ thống hóa toàn diện lý luận và chiến thuật: Tác giả đã tổng hợp, phân tích có hệ thống các quy định tại Điều 204 BLTTHS năm 2015, kết hợp với lý luận chiến thuật điều tra hình sự để làm rõ 2 nguyên tắc, 2 hình thức (diễn lại, làm thử), 5 loại TNĐT và 4 điều kiện chiến thuật bắt buộc.
  • Khảo sát thực tiễn qua số liệu án văn cụ thể: Khóa luận trích xuất và phân tích thành công các vụ án thực tế có thật (vụ Trương Tiến D tại Long An, vụ Nguyễn Văn H tại TP. Hồ Chí Minh, vụ Huỳnh Tấn P và vụ Trần Nhật V1 tại Phú Yên, vụ cháy xưởng của Nguyễn Ngọc V...), chứng minh vai trò của TNĐT trong việc củng cố chứng cứ, kiểm tra lời khai, giải quyết kháng cáo và bác bỏ lời khai gian dối.
  • Phát hiện 8 nút thắt lập pháp và thực tiễn: Khóa luận chỉ ra sự bất cập giữa lý thuyết và thực thi, đặc biệt là xung đột thẩm quyền giữa Điều 45 và Điều 204 BLTTHS, sự thiếu vắng tư cách pháp lý của người có chuyên môn và bất đồng về địa điểm dựng lại hiện trường.
  • Đề xuất hệ thống giải pháp lập pháp đồng bộ: Đưa ra các phương án sửa đổi, bổ sung cụ thể cho từng khoản của Điều 204 BLTTHS và kiến nghị các văn bản hướng dẫn nghiệp vụ thống nhất giữa CQĐT, VKS và TAND.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Tác giả thẳng thắn thừa nhận trong phạm vi khóa luận tốt nghiệp cử nhân luật, công trình chưa thể nghiên cứu toàn diện, sâu sắc tất cả các vấn đề phát sinh. Dù đã đề cập đến tính cấp thiết của TNĐT đối với tội phạm công nghệ cao và phục hồi dữ liệu/chứng cứ điện tử ở phần mở đầu, nội dung khóa luận chưa đi sâu giải quyết phương pháp TNĐT chuyên biệt cho loại tội phạm này.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Khóa luận gợi mở các công trình nghiên cứu trong tương lai cần tập trung khai thác chuyên sâu về cơ chế TNĐT trong điều tra tội phạm phi truyền thống, tội phạm mạng và các giải pháp kỹ thuật số để tái hiện hiện trường điện tử.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng thụ hưởng:
    • Sinh viên, học viên chuyên ngành Luật học, Luật Tố tụng Hình sự, Tội phạm học và Khoa học Điều tra Hình sự;
    • Cán bộ thực tiễn tại các Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân và Tòa án nhân dân;
    • Luật sư tham gia tố tụng trong các vụ án hình sự phức tạp cần kiểm tra, giám sát biên bản thực nghiệm.
  • Nội dung tham khảo giá trị:
    • Quy trình chiến thuật 3 giai đoạn (Chuẩn bị - Tiến hành - Kết thúc) và 4 điều kiện chiến thuật cần tuân thủ;
    • Lập luận phân tích các mâu thuẫn pháp lý tại Điều 204 BLTTHS năm 2015;
    • Phương pháp phân tích thực tiễn áp dụng TNĐT qua các bản án hình sự thực tế để giải quyết tranh chấp về lời khai của bị can, bị hại và nhân chứng.

Câu hỏi thường gặp

1. Khóa luận phân loại thực nghiệm điều tra thành những hình thức và loại hình cụ thể nào?
Theo khóa luận, TNĐT được tiến hành dưới 2 hình thức: diễn lại (áp dụng cho người tham gia làm lại, nhìn lại, nghe lại) và làm thử (tái tạo điều kiện để thí nghiệm khả năng xảy ra sự việc). Về nội dung chuyên môn, tác giả phân chia thành 5 loại: (1) Xác định khả năng tri giác; (2) Xác định khả năng thực hiện một hành vi; (3) Xác định khả năng diễn ra của một sự việc, hiện tượng; (4) Xác định diễn biến của những tình tiết cụ thể; (5) Xác định quá trình hình thành dấu vết.

2. Điểm mới của BLTTHS năm 2015 so với BLTTHS năm 2003 về chủ thể tiến hành và tham gia TNĐT là gì?
Khoản 2 và khoản 3 Điều 204 BLTTHS năm 2015 có các điểm mới: quy định rõ Điều tra viên là người chủ trì cuộc TNĐT; bắt buộc Kiểm sát viên phải có mặt để kiểm sát (BLTTHS năm 2003 chỉ kiểm sát qua biên bản, không bắt buộc trực tiếp có mặt); bổ sung quy định cho phép Cơ quan điều tra mời người có chuyên môn tham gia.

3. Khóa luận chỉ ra mâu thuẫn gì giữa Điều 45 và Điều 204 BLTTHS năm 2015?
Điểm đ khoản 2 Điều 45 quy định Thẩm phán chủ tọa phiên tòa có quyền quyết định TNĐT. Tuy nhiên, Điều 204 chỉ quy định trình tự, thủ tục cho trường hợp CQĐT và VKS tiến hành mà hoàn toàn không có quy định việc TNĐT của Tòa án hoặc Thẩm phán. Do đó, quy định mang tính lý thuyết, thiếu tính khả thi, khiến Tòa án khi thấy cần thực nghiệm thường chọn biện pháp trả hồ sơ yêu cầu điều tra bổ sung.

4. Kết quả TNĐT đã bác bỏ kháng cáo của người bị hại trong vụ án Nguyễn Văn H (Bản án số 534/2023/HS-PT) như thế nào?
Trong vụ án Nguyễn Văn H, bị hại H1 kháng cáo yêu cầu khởi tố bà M và anh H2 với vai trò đồng phạm giúp sức (cho rằng bà M giữ đầu, anh H2 bẻ khóa tay bị hại để H dùng dao đâm). Kết quả TNĐT xác định không có hành vi bà M túm đầu và anh H2 khóa tay bà H1, qua đó chứng minh nội dung kháng cáo của bị hại là không có cơ sở, giúp Tòa án phúc thẩm bác đơn kháng cáo chính xác.

5. Vụ án Trần Nhật V1 (Bản án số 34/2021/HS-ST tại Phú Yên) phản ánh bất cập gì về thực tiễn tổ chức TNĐT?
Vụ án phản ánh sự thiếu thống nhất quan điểm giữa CQĐT và VKS về "tính cần thiết" của việc TNĐT. Dù hồ sơ vụ án đã đủ chứng cứ xác định hành vi của từng bị can, VKS tỉnh Phú Yên vẫn yêu cầu TNĐT đêm 31/5/2021 nhưng không thực hiện được do quy định giãn cách dịch Covid-19. Sau khi CQĐT giải trình quan điểm chứng cứ đã rõ ràng, VKS cấp trên đã chấp thuận không cần thực nghiệm, tránh gây kéo dài thời gian và tốn kém kinh phí.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Nguyễn Lê Khánh đã phân tích có hệ thống các vấn đề lý luận nền tảng, điều kiện chiến thuật và các quy định của BLTTHS năm 2015 điều chỉnh biện pháp thực nghiệm điều tra. Thông qua việc phân tích chuyên sâu các bản án hình sự thực tế giai đoạn 2021–2024, tác giả đã làm rõ giá trị thực tiễn của biện pháp này, đồng thời vạch ra 8 nhóm vướng mắc pháp lý và bất cập nghiệp vụ còn tồn tại. Trên cơ sở đó, công trình đề xuất các định hướng sửa đổi, bổ sung cụ thể đối với Điều 204 BLTTHS và các biện pháp nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ tiến hành tố tụng, đáp ứng yêu cầu nâng cao hiệu quả giải quyết các vụ án hình sự đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.