Chương 1: Một số vấn đề lý luận liên quan đến đề tài. Chương 2: Thành ngữ, tục ngữ Hàn Quốc nói về động vật. Một vài so sánh với Việt Nam. Chương 3: Thành ngữ, tục ngữ Hàn Quốc nói về thực vật.
Một vài so sánh với Việt Nam. 5 z CHƢƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1. Khái niệm thành ngữ Khi nghiên cứu về thành ngữ, nói chung các học giả Việt Nam đã đưa ra nhiều điểm khá thống nhất. Tuy nhiên, đi vào chi tiết, việc quan niệm về thành ngữ giữa các tác giả không phải không có những ý kiến khác nhau.
Dương Quảng Hàm (1951), trong “Việt Nam văn học sử yếu” quan niệm: “Thành ngữ là những lời nói có sẵn để ta tiện dùng mà diễn đạt một ý gì hoặc một trạng thái gì cho có màu mè. Hồ Lê trong “Vấn đề cấu tạo từ của tiếng Việt hiện đại” coi thành ngữ là “những tổ hợp từ có tính vững chắc về cấu tạo và tính bóng bẩy về ý nghĩa dùng để miêu tả một hình ảnh, một hiện tượng, một tính cách hay một trạng thái nào đó. Nhà ngôn ngữ học Nguyễn Văn Tu (1968) ở “Từ vựng học tiếng Việt hiện đại” thì cho rằng: “Thành ngữ là từ tố cố định mà các từ trong đó đã mất tính độc lập đến một trình độ cao, kết hợp làm thành một khối vững chắc, hoàn chỉnh. Nghĩa của chúng không phải do nghĩa của từng thành tố (từ) tạo ra.
Những thành ngữ này cũng có hình tượng hoặc cũng có thể không có. Nghĩa của chúng đã khác nghĩa của những từ nhưng cũng có thể cắt nghĩa nguyên do như từ nguyên đọc. Các tác giả Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến (2001), trong “Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt” xem thành ngữ là “cụm từ cố định hoàn chỉnh về cấu trúc và ngữ nghĩa. Nghĩa của chúng có tính hình tượng và gợi cảm”.
Nguyễn Thiện Giáp (2008) trong “Giáo trình ngôn ngữ học” quan niệm: “Thành ngữ (idiom) là những cụm từ trong cơ cấu cú pháp và ngữ nghĩa của chúng có những thuộc tính đặc biệt, chỉ có ở cụm từ đó. Nói cách khác, thành ngữ là một cụm từ mà ý nghĩa của nó không được tạo thành từ ý nghĩa của các từ cấu tạo nên nó.” Ngoài ra trong cuốn “Từ vựng học tiếng Việt”, ông đã định nghĩa thành ngữ 6 z một cách rất ngắn gọn: “Thành ngữ là những cụm từ cố định vừa có tính hoàn chỉnh về nghĩa, vừa có tính gợi cảm”. Theo Hoàng Văn Hành (2010) trong “Tuyển tập ngôn ngữ học”, “Thành ngữ là một loại tổ hợp từ cố định, bền vững về hình thái – cấu trúc, hoàn chỉnh và bóng bẩy về nghĩa, được sử dụng với chức năng như từ” và “Thành ngữ là một hiện tượng trung gian nằm ở khu đệm, giữa một bên là từ, thuộc từ vựng; một bên là ngữ, thuộc cú pháp; và một bên nữa là các hiện tượng thuộc văn hóa dân gian (tục ngữ, ca dao)…”. Tại Hàn Quốc, trong “Nghiên cứu thành ngữ quốc ngữ”, Kim Moon Chang (1974) quan niệm “Thành ngữ là cụm từ hoặc từ có cấu tạo từ hai từ trở lên hoặc mang ý nghĩa đặc biệt khác với phương pháp diễn đạt thông thường của một ngôn ngữ.” Theo Park Young Sun (1985), trong “Nghiên cứu về thành ngữ” thì “Thành ngữ là một hình thái ngôn ngữ được kết hợp từ hai từ trở lên, nó được sử dụng phổ biến giữa những từ kết hợp phi cú pháp.
Về mặt cấu trúc, thành ngữ là từ ghép được ghép bởi hai từ trở lên, còn về mặt ý nghĩa nó là loại ngôn ngữ đặc thù mang ý nghĩa thứ ba mà không mang theo ý nghĩa cơ bản”. Có một tình hình đáng chú ý là, vì cách quan niệm của các học giả không hoàn toàn trùng nhau nên trong dịch thuật, để biểu thị khái niệm tương đương với thuật ngữ “thành ngữ”, người ta có thể diễn đạt bằng nhiều cách khác nhau, chẳng hạn, thành ngữ, quán ngữ, quán dụng cú, ngữ quán dụng, thậm chí cả cách biểu đạt quán dụng, những lời nói quen thuộc hay lời nói thường xuyên sử dụng.v… Tuy nhiên, dù có nhiều định nghĩa khác nhau về thành ngữ nhưng tựu chung lại các tác giả đều thống nhất với nhau ở chỗ: Đó là tập hợp từ cố định đã quen dùng mà nghĩa của nó thường không thể giải thích được một cách đơn giản bằng nghĩa của các từ tạo nên nó. Ví dụ: Một nắng hai sương, Rán sành ra mỡ, An cư lạc nghiệp , Ăn cây táo rào cây sung, v. 7 z Trong hệ thống thành ngữ tiếng Hàn, đặc biệt là những thành ngữ nói về động – thực vật, chúng ta có thể thấy một số ví dụ tiêu biểu như sau: “견견견견” (Khuyển vượn chi gian), là thành ngữ dùng để chỉ những người có tính cách trái ngược không thể sống hòa hợp với nhau và nó tương đương với thành ngữ “như chó với mèo” trong tiếng Việt.
“견견견견” (Cửu ngưu nhất mao) hàm ý chỉ sự quá ít ỏi, chẳng thấm tháp gì, chẳng có tác dụng gì như việc chín con trâu mất một sợi lông. Thành ngữ này tương đương với “Như muối bỏ biển” hay “Hạt cát trong sa mạc” trong tiếng Việt. “견견견견 (Tái ông thất mã), đây là thành ngữ chỉ sự luân hồi của phúc - họa, trong họa có phúc, trong phúc có họa. Trong tiếng Việt, chúng ta thường dùng: “Trong cái rủi có cái may” hay “họa phúc khôn lường” với ý nghĩa tương tự.
“견견견 견견견 견견 견견 견견 견견 견견 견견견견 견견 견견견 견견” có thể hiểu là: Nếu chim khách kêu vào buổi sáng thì có điềm may đến hay có tin vui, còn nếu quạ kêu vào ban đêm thì sẽ có điềm không tốt (đại biến) hay chuyện không hay sắp xảy ra. Đây là thành ngữ nói về điềm dự báo trong tương lai. Như vậy qua một vài phân tích ở trên chúng ta đã có được những hiểu biết cơ bản nhất về thành ngữ nói chung và thành ngữ nói về động thực vật trong tiếng Việt và tiếng Hàn nói riêng. Khái niệm tục ngữ Cũng như thành ngữ, hiện nay vẫn tồn tại nhiều quan điểm khác nhau của các nhà nghiên cứu văn học, văn hóa dân gian và ngôn ngữ học về khái niệm tục ngữ.
Tuy nhiên trong luận văn này, chúng tôi đi sâu tìm hiểu khái niệm tục ngữ dựa trên quan điểm của nhà ngôn ngữ học là chủ yếu. 8 z Nói về tục ngữ, Dương Quảng Hàm (1968) trong quyển “Việt Nam văn học sử yếu” quan niệm: “Một câu tục ngữ tự nó phải có ý nghĩa đầy đủ, hoặc khuyên răn, hoặc chỉ bảo điều gì”. Nguyễn Văn Tố trong bài “Tục ngữ ta đối với tục ngữ Tàu và tục ngữ Tây” viết: “Tục ngữ là câu thành ngữ nói đã quen trong thế tục, nhiều câu nghĩa lý thâm thúy, ý tứ cao xa, câu nào từ đời xưa truyển lại gọi là ngạn ngữ, cũng có khi gọi là tục ngạn; tục ngữ hay tục ngạn thì nghĩa cũng gần giống nhau”. Kế thừa quan điểm của các học giả đi trước, năm 1978 trong cuốn “Từ và vốn từ tiếng Việt hiện đại”, Nguyễn Văn Tu (1978), đưa ra quan niệm: “Trong tiếng Việt, những tục ngữ, phương ngôn và ngạn ngữ có liên quan đến thành ngữ và quán ngữ.
Chúng không phải là đối tượng của từ vựng học mà là đối tượng của văn học dân gian. Nhưng vì chúng là đơn vị có sẵn trong ngôn ngữ được dùng đi dùng lại để trao đổi tư tưởng cho nên chúng dính dáng đến vấn đề cụm từ cố định. Thực ta chúng là những câu hoàn chỉnh chỉ một nội dung đầy đủ, không cần những thành phần cú pháp nào cả”. Sau đó, vào năm 1985, Nguyễn Thiện Giáp trong cuốn “Từ vựng học tiếng Việt”, cho rằng: “Các tục ngữ cũng được dùng lặp đi lặp lại nhiều lần trong lời nói như một đơn vị có sẵn; nhưng khác với thành ngữ ở chỗ nghĩa của tục ngữ bao giờ cũng là một phán đoán.
Về mặt nội dung, nghĩa của tục ngữ gần với cụm từ tự do, bởi vì nó không biểu thị một khái niệm như thành ngữ mà biểu thị một tổ hợp khái niệm”. Ngoài ra chúng ta còn thấy hàng loạt các định nghĩa khác về tục ngữ, chẳng hạn, theo Nguyễn Lân, “Tục ngữ là những câu hoàn chỉnh, có ý nghĩa trọn vẹn, nói lên hoặc một nhận xét về tâm lý, hoặc một lời phê phán, khen hay chê, hoặc một câu khuyên nhủ, hoặc một kinh nghiệm về nhận thức tự nhiên hay xã hội…” [30; tr 6]. Còn theo Vũ Ngọc Phan (1998), “Tục ngữ là 9 z một câu tự nó diễn trọn vẹn, một ý, một nhận xét, một kinh nghiệm, một luân lý, một công lý, có khi là một sự phê phán” [40; tr 39]. Gần đây, Nguyễn Văn Nở (2008) đề cập đến khái niệm tục ngữ theo cách hiểu: “Tục ngữ là sản phẩm của tư duy, là công cụ diễn đạt những tri thức, kinh nghiệm quý báu, những triết lý nhân sinh vừa sâu sắc, vừa thâm thúy vừa không kém phần nghệ thuật, được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác” [38; tr 11].
Cũng giống như tình hình ở Việt Nam, các nhà nghiên cứu ngôn ngữ Hàn Quốc cũng có nhiều cách nhìn nhận khác nhau về tục ngữ. Ở Hàn Quốc, một trong những người quan tâm đặc biệt đến tục ngữ là Im Dong Kwon. Trong cuốn “Từ điển tục ngữ”, ông viết, tục ngữ “có thể được coi là di sản văn hóa tuyệt vời, trong đó cô đọng và hàm súc những lời giáo huấn, những tri thức, kinh nghiệm trong cuộc sống, là nghệ thuật ngôn từ của toàn thể dân tộc được truyền khẩu từ đời này sang đời khác” [63; tr 3]. Cũng với quan niệm tương tự, Won Young Sub (2003) coi “Tục ngữ không phải là những cái được làm mới trong một khoảng thời gian ngắn mà là những lời đúc kết cô đọng truyền miệng từ đời này sang đời khác” [66; tr 3].
Như vậy, qua cách hiểu cũng như định nghĩa của các nhà nghiên cứu ngôn ngữ kể trên chúng ta có thể hiểu tục ngữ chính là sản phẩm tư duy, di sản văn hóa dân tộc, là công cụ diễn đạt những kinh nghiệm sống hay những lời giáo huấn quý báu, cô đọng và hàm súc, đồng thời tục ngữ có thể là một nhận xét, một phê phán khen hay chê…Tục ngữ được truyền từ đời này sang đời khác. Dưới đây là một số câu tục ngữ nói về động thực vật trong tiếng Hàn và ý biểu hiện tương đương trong tiếng Việt. Trong tiếng Hàn, câu tục ngữ “견견견견 견 견견견 견견” được hiểu là: Hổ nghe thấy là hổ đến, và nó tương đương với câu tục ngữ “Nhắc đến Tào Tháo, Tào Tháo đến” trong tiếng Việt.