Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ ngữ văn với đề tài "Truyền kì Việt Nam thời trung đại từ góc nhìn huyền thoại (đối chiếu với truyền kì Trung Hoa thời trung đại)" do nghiên cứu sinh Hoàng Thị Thùy Dương thực hiện tại Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh (năm 2021), chuyên ngành Văn học Việt Nam (mã số: 62 22 01 21), dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Đinh Phan Cẩm Vân.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Trong thế kỷ XX, huyền thoại học phát triển với nhiều hệ thống lý thuyết (triết học, nhân học, cấu trúc, phân tâm học, biểu trưng...) được ứng dụng vào việc soi chiếu tác phẩm văn học. Việc tiếp cận tác phẩm từ góc nhìn huyền thoại cho phép xác định hình thái, chức năng gốc của các yếu tố huyền thoại trong văn hóa nguyên thủy, đồng thời phân tích sự chuyển hóa của chúng khi thâm nhập vào văn bản văn học.

Truyện truyền kì là thể loại tự sự bằng chữ Hán tiêu biểu của văn học Việt Nam thời trung đại, kết hợp giữa việc ghi chép hiện thực và thủ pháp hư cấu kì ảo nhằm phản ánh xã hội và tâm tư con người. Trước đây, các tác phẩm truyền kì Việt Nam chủ yếu được khảo sát riêng lẻ dưới góc độ xã hội học, thi pháp học, văn hóa dân gian hoặc so sánh tác phẩm đơn lẻ. Tuy nhiên, việc nghiên cứu một cách hệ thống và toàn diện toàn bộ thể loại truyền kì Việt Nam thời trung đại dưới góc nhìn huyền thoại học, có đối chiếu với truyền kì Trung Hoa, vẫn là một khoảng trống nghiên cứu cần được giải quyết.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu: Nghiên cứu sự hiện diện, nguồn gốc và ý nghĩa của các yếu tố huyền thoại trong truyền kì Việt Nam thời trung đại. Luận án đối chiếu các yếu tố huyền thoại trong truyền kì với thần thoại nhằm xác định sự kế thừa và biến đổi theo dụng ý nghệ thuật của tác giả; đồng thời đối chiếu truyền kì Việt Nam với truyền kì Trung Hoa nhằm làm rõ sự tương đồng, khác biệt, tính giao thoa văn hóa và bản sắc riêng của mỗi nền văn học.

Nhiệm vụ nghiên cứu:

  1. Khảo sát tổng quan tình hình nghiên cứu truyền kì Việt Nam thời trung đại và xác định các hướng tiếp cận lý thuyết của đề tài.
  2. Phân tích các đặc điểm chủ yếu của huyền thoại và sự thể hiện huyền thoại trong tiến trình văn học Việt Nam.
  3. Phân tích truyền kì Việt Nam thời trung đại từ phương diện tư duy huyền thoại và phương diện nghệ thuật biểu hiện huyền thoại (trong sự đối chiếu với truyền kì Trung Hoa thời trung đại).

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Các yếu tố huyền thoại xuất hiện trong hệ thống tác phẩm truyền kì của Việt Nam và Trung Hoa thời trung đại.

Phạm vi ngữ liệu khảo sát:

  • Ngữ liệu truyền kì Việt Nam: Khảo sát chính từ bộ Tổng tập tiểu thuyết chữ Hán Việt Nam (Tập 1 và Tập 2, Trần Nghĩa chủ biên, NXB Thế giới, 1997), bao gồm các tập truyện: Thánh Tông di thảo (tương truyền của Lê Thánh Tông), Truyền kì mạn lục (Nguyễn Dữ), Truyền kì tân phả (Đoàn Thị Điểm), Tân truyền kì lục (Phạm Quý Thích), Truyện kí trích lục (Khuyết danh), Vân nang tiểu sử (Phạm Đình Dục), Lan Trì kiến văn lục (Vũ Trinh). Bộ tuyển tập Truyện truyền kỳ Việt Nam (Nguyễn Huệ Chi chủ biên, NXB Giáo dục, 1999) gồm các tập đã xuất bản được sử dụng làm tài liệu đối chiếu, tham khảo.
  • Ngữ liệu truyền kì Trung Hoa: Khảo sát các tác phẩm tiêu biểu qua các thời kỳ gồm Đường đại truyền kì (Phùng Quý Sơn biên soạn, NXB Đồng Nai, 1995), Tiễn đăng tân thoại của Cù Hựu thời Minh (in chung trong Tiễn đăng tân thoại, Truyền kì mạn lục, NXB Văn học, 1999), và Liêu trai chí dị của Bồ Tùng Linh thời Thanh (bản dịch của Tản Đà, Đào Trinh Nhất, Nguyễn Văn Huyền, NXB Văn học, 2008).
Khu vực Văn bản khảo sát chính Tác giả / Người biên soạn Niên đại / Thời kỳ
Việt Nam Thánh Tông di thảo Khuyết danh (Lê Thánh Tông ?) Thế kỷ XV
Truyền kì mạn lục Nguyễn Dữ Thế kỷ XVI
Truyền kì tân phả Đoàn Thị Điểm Thế kỷ XVIII
Tân truyền kì lục Phạm Quý Thích Thế kỷ XVIII - XIX
Vân nang tiểu sử Phạm Đình Dục Thế kỷ XVIII - XIX
Truyện kí trích lục Khuyết danh Thời trung đại
Lan Trì kiến văn lục Vũ Trinh Thế kỷ XVIII - XIX
Trung Hoa Đường đại truyền kì Nhiều tác giả (Phùng Quý Sơn soạn) Thời Đường (617 – 907)
Tiễn đăng tân thoại Cù Hựu Thời Minh
Liêu trai chí dị Bồ Tùng Linh Thời Thanh

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tác giả luận án đã hệ thống hóa các công trình nghiên cứu về truyền kì Việt Nam thời trung đại theo 4 hướng tiếp cận chính:

1. Nghiên cứu truyền kì từ góc độ thể loại

Các nhà nghiên cứu đã xác định tên gọi, đặc trưng và tiến trình lịch sử của truyền kì:

  • Xác định thể loại và danh xưng: Trần Đình Sử (Thi pháp văn học trung đại, 2005) xếp truyền kì vào loại hình truyện chữ Hán. Biện Minh Điền (Loại hình văn học trung đại Việt Nam) coi truyền kì vừa là thể loại vừa là một xu hướng sáng tác. Nguyễn Huệ Chi (Truyện truyền kì Việt Nam, 1999) xác định truyền kì là văn xuôi nghệ thuật có sự tham gia của yếu tố kì ảo cùng văn biền ngẫu, thơ ca. Nhóm tác giả Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (Từ điển thuật ngữ văn học, 2011) giải thích khái niệm tiểu thuyết truyền kì có nguồn gốc từ thời Đường. Đinh Phan Cẩm Vân (Tiếp cận thể loại văn học cổ Trung Quốc, 2011) phân tích nguồn gốc truyền kì từ chí quái và sự phát triển gắn với tầng lớp thị dân thời Đường. Trần Nghĩa (Tổng tập tiểu thuyết chữ Hán Việt Nam, 1997) phân loại tiểu thuyết chữ Hán thành 7 nhóm, nhấn mạnh tính chất sáng tác hư cấu chủ động của truyền kì. Trần Ích Nguyên, Nguyễn Phúc An, Vũ Ngọc Khánh, Nguyễn Quang Ân cũng đưa ra các danh mục và phân loại tiểu thuyết truyền kì.
  • Góc độ truyện ngắn và truyện kì ảo: Nguyễn Đăng Na (Con đường giải mã văn học trung đại Việt Nam, 2006), Đinh Thị Khang, Trần Nho Thìn (Văn học trung đại Việt Nam dưới góc nhìn văn hóa, 2008), Bùi Việt Thắng, Bùi Duy Tân xem xét truyền kì trong hệ thống truyện ngắn trung đại. Nguyễn Văn Dân (1984) dùng thuật ngữ "văn xuôi huyễn tưởng", Lâm Giang và Nguyễn Văn Tuân dùng thuật ngữ "truyện ký", Vũ Thanh dùng khái niệm "truyện kì ảo thời trung đại", S. Nekliudov (2007) phân tích tính chất kì diệu huyền bí của thể loại. Đỗ Thị Mỹ Phương (2011) phân tích cấu trúc cốt truyện và nhân vật truyền kì.
  • Tiến trình phát triển: Nguyễn Đăng Na (2007) chia tiến trình văn xuôi tự sự thành 3 giai đoạn: Thế kỷ X - XIV (chuẩn bị qua văn học chức năng và dân gian), Thế kỷ XV - XVI (phát triển đỉnh cao với Truyền kì mạn lục, Thánh Tông di thảo), Thế kỷ XVIII - XIX (tăng tính hiện thực, suy giảm yếu tố kì ảo). Nhận định này cũng tương đồng với các nghiên cứu của Đinh Thị Khang, Nguyễn Phúc An, Lê Trí Viễn (2002), Phan Cự Đệ (2006), Nguyễn Nam (2002), B. Riftin (2012).

2. Nghiên cứu truyền kì từ góc độ tác phẩm

Tập trung chủ yếu vào hai tác phẩm tiêu biểu:

  • Truyền kì mạn lục: Được nghiên cứu toàn diện về tư tưởng hiện thực, giá trị nhân đạo, tư tưởng ẩn dật và hình thức nghệ thuật qua các công trình của Lê Trí Viễn, Nguyễn Phạm Hùng (1987, 2006), Đinh Thị Khang, Lê Văn Tấn (2019), Nguyễn Đăng Na (2006), Nguyễn Kim Châu (2013), Nguyễn Nam (2000, 2002), Nguyễn Quang Hồng (2003), Vũ Tố Hảo (1978), Đinh Văn Minh (1996), Kawamoto Kurive (1996), Phạm Văn Hưng (2012).
  • Thánh Tông di thảo: Được đánh giá về giá trị trữ tình, sự giải phóng tư tưởng và thi pháp truyện hư cấu qua nghiên cứu của Nguyễn Đổng Chi, Bùi Duy Tân, Vũ Thanh, Phạm Ngọc Lan, Lê Nhật Ký, N. Nikulin, Trần Thị Băng Thanh (1999), Trần Bá Chí (2006), Nguyễn Nam (1996).
  • Các tác phẩm khác: Truyền kì tân phả (Trần Thị Băng Thanh, 2010), Nam thiên trân dị tập (Trần Nghĩa, 1996), Vân nang tiểu sử (Nguyễn Kim Oanh, 1997), Lan Trì kiến văn lục (Nguyễn Cẩm Thúy, 1983), Tang thương ngẫu lục (Trần Đình Việt, 1994).

3. Nghiên cứu truyền kì từ góc độ so sánh

  • So sánh truyền kì với truyện sử (Trần Đình Sử, 2005) hoặc so sánh các tác phẩm truyền kì Việt Nam với nhau (như so sánh Truyền kì tân phả với Truyền kì mạn lục, Nam Ông mộng lục với Đại Việt sử kí toàn thư của Nguyễn Hữu Sơn).
  • So sánh truyền kì Việt Nam và Trung Hoa: Nổi bật là so sánh giữa Truyền kì mạn lục và Tiễn đăng tân thoại của Hà Thiện Hán, Trần Ích Nguyên (2000), Đinh Phan Cẩm Vân (2005, 2011), Nguyễn Xuân Hòa, Nhan Bảo (1998), Phạm Tú Châu (1987, 1999), Đinh Thị Khang (2016).
  • So sánh trong khu vực Đông Á: So sánh truyền kì Việt Nam với Kim Ngao tân thoại (Triều Tiên) và Vũ nguyệt vật ngữ, Ngự già tỳ tử (Nhật Bản) qua công trình của Đoàn Lê Giang (2010), Kim Kihyun (2014), Kim Seona (1995), Phan Nguyễn Phước Tiên (2012), B. Riftin (2006), Jeon Kye Kyung (2004, 2006), Lưu Thị Hồng Việt (2012), Hà Thanh Vân.

4. Nghiên cứu truyền kì từ góc độ văn hóa dân gian

Nhiều học giả truy tìm nguồn gốc tín ngưỡng, Folklore và yếu tố kì ảo trong truyền kì: Đinh Thị Khang, Vũ Thanh, Trần Nghĩa (1997, 1999), Lê Đắc Tường (2019), Nguyễn Hữu Sơn (2010), Lê Dương Khắc Minh (2016), Trần Thị An (2003), Nguyễn Ngọc Hiệp (2005), Lê Thu Yến (2014), Bùi Thanh Truyền (2011), Nguyễn Thị Mai Liên (2014), Nguyễn Thị Kim Ngân (2017), Lê Thị Hồng Nhạn (2011).

Khoảng trống luận án giải quyết: Dù các nghiên cứu đi trước đã đề cập đến yếu tố kì ảo hoặc văn hóa dân gian, nhưng chưa có công trình nào triển khai phân tích một cách bao quát và có hệ thống toàn bộ diện mạo truyền kì Việt Nam trung đại bằng khung lý thuyết phê bình huyền thoại học, kết hợp đối chiếu cấu trúc với truyền kì Trung Hoa.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết

Luận án vận dụng tích hợp các lý thuyết thuộc huyền thoại học hiện đại:

  1. Lý thuyết cấu trúc: Tiếp thu quan điểm của Claude Lévi-Strauss về tư duy huyền thoại dựa trên các cặp đối lập nhị phân và việc thiết lập yếu tố trung gian hòa giải (như nước, nghi thức tang lễ, bệnh tật); mở rộng qua nghiên cứu của V. N. Toporov về việc gắn nhãn giá trị (sống/chết, may/rủi, nóng/lạnh, cao/thấp, trời/đất, lửa/nước), E. Meletinsky (Thi pháp của huyền thoại, 2004), và Nguyễn Thị Kim Ngân (2017) về sự phân đôi không gian và phạm trù đạo đức.
  2. Lý thuyết nhân học: Vận dụng công trình Văn hóa nguyên thủy (1871) của Edward Burnett Tylor với trọng tâm là thuyết vật linh (animism) – niềm tin vạn vật hữu linh, sự nhân cách hóa tự nhiên, quan niệm về bản chất của linh hồn và nguồn gốc của ma quỷ, bái vật giáo; kết hợp quan điểm của Ruth Benedict.
  3. Lý thuyết phân tâm học: Vận dụng khái niệm cổ mẫu (archetype) và vô thức tập thể của Carl Gustav Jung (2007) – các cấu trúc tinh thần bẩm sinh, biểu tượng nguyên sơ mang tính phổ quát, siêu thời gian và mang tính chất cảm xúc (siêu tượng); kết hợp quan niệm của Sigmund Freud về vô thức cá nhân và bản năng tính dục thể hiện qua giấc mơ và nghệ thuật.
  4. Lý thuyết biểu tượng và xã hội học văn hóa: Khái niệm tư duy đôi (lí tính - huyền thoại) và tính biểu trưng của Edgar Morin (2006); cấu trúc thông báo và hệ thống ký hiệu/siêu ký hiệu của Roland Barthes (2008); sự đối lập giữa cái thiêng và cái phàm của Mircea Eliade (Nguồn gốc các tôn giáo); tư duy tiền logic và luật thông quan (luật tham dự) của Lucien Lévy-Bruhl (Kinh nghiệm thần bí và biểu tượng ở người nguyên thủy, 2018); quan niệm con người là "động vật biểu tượng" và mô hình vũ trụ thiêng/trần tục của Ernst Cassirer (Tư duy huyền thoại, Tiểu luận về con người); quan điểm của W. M. Urban và Susanne Langer.
  5. Lý thuyết thi pháp học: Kế thừa quan điểm thi pháp học truyền thống và hiện đại của Aristotle, Lưu Hiệp, Trần Đình Sử, Chu Xuân Diên (2007), E. Count, E. Meletinsky để mô hình hóa và phân tích các yếu tố cốt truyện, mô típ, nhân vật, không gian và thời gian trong truyện truyền kì.

Phương pháp và thao tác nghiên cứu

  • Phương pháp nghiên cứu chủ đạo: Phê bình huyền thoại (Myth Criticism), dựa trên quan điểm huyền thoại là nhân tố nền tảng để giải mã hoạt động sáng tạo văn chương (tham chiếu Đào Ngọc Chương, 2009).
  • Các phương pháp phối hợp: Phương pháp phê bình lịch sử - xã hội (xem xét bối cảnh lịch sử, xã hội chi phối sự thể hiện huyền thoại), phương pháp thi pháp học (phân tích cấu trúc hình tượng, thời không nghệ thuật).
  • Các thao tác nghiên cứu: Thao tác phân tích - tổng hợp; thao tác so sánh - đối chiếu (giữa truyền kì và thần thoại; giữa truyền kì Việt Nam và truyền kì Trung Hoa); thao tác thống kê - phân loại dữ liệu yếu tố kì ảo, mô típ và cổ mẫu.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu truyền kì Việt Nam thời trung đại và hướng tiếp cận của đề tài

Chương này tổng kết thành tựu nghiên cứu truyền kì Việt Nam theo 4 bình diện: thể loại, tác phẩm, so sánh văn học và văn hóa dân gian. Tác giả chỉ ra sinh mệnh thể loại của truyền kì Việt Nam (khởi phát từ thế kỷ X - XIV, đạt đỉnh cao ở thế kỷ XV - XVI với Truyền kì mạn lục, và biến đổi ở thế kỷ XVIII - XIX). Chương 1 cũng xác lập hệ thống cơ sở lý thuyết bao gồm lý thuyết cấu trúc, nhân học, phân tâm học, xã hội học biểu tượng và thi pháp học làm công cụ giải mã văn bản truyền kì.

Chương 2. Huyền thoại và sự thể hiện huyền thoại trong văn học Việt Nam

Chương 2 làm rõ bản chất của huyền thoại và tư duy huyền thoại:

  • Tư duy huyền thoại: Phân tích đặc trưng đồng nhất các phạm trù (đồng nhất giữa con người và tự nhiên, giữa vật thể và linh hồn, giữa cái sống và cái chết theo luật tham dự) và sự dung chứa các cổ mẫu trong vô thức tập thể.
  • Nghệ thuật huyền thoại: Xác định các phương thức biểu hiện của huyền thoại, sự phân biệt giữa huyền thoại với truyện cổ tích và sử thi (theo quan điểm của E. Meletinsky và S. Langer).
  • Sự thể hiện huyền thoại trong văn học Việt Nam: Khảo sát sự ngả bóng của huyền thoại từ văn học dân gian (thần thoại, truyền thuyết, cổ tích thần kì) đến văn học viết trung đại và dấu ấn trong văn học hiện đại sau năm 1986.

Chương 3. Truyền kì Việt Nam thời trung đại – Nhìn từ phương diện tư duy huyền thoại (Đối chiếu với truyền kì Trung Hoa thời trung đại)

Chương 3 đi sâu khảo sát các biểu hiện của tư duy huyền thoại trong truyền kì:

  • Thần thánh hóa các nhân vật của dân gian: Phân tích quá trình thiêng hóa hai nhóm nhân vật chính:
    • Nhân vật lịch sử: Các anh hùng dân tộc, danh nhân được khoác tấm áo huyền thoại, trở thành thần linh hộ quốc thương dân (khác biệt với việc thần thánh hóa gắn liền với hệ thống thần tiên Đạo giáo thượng giới trong truyền kì Trung Hoa).
    • Nhân vật tôn giáo: Các vị thiền sư, đạo sĩ, thần linh dân gian với năng lực siêu phàm.
  • Tái sinh các cổ mẫu (Archetype): Phân tích sự hồi sinh của các biểu tượng nguyên sơ trong văn bản:
    • Cổ mẫu thần: Thần linh bảo trợ cội nguồn và công lý.
    • Cổ mẫu yêu ma: Thể hiện nỗi ám ảnh vô thức về bóng tối, dục vọng và sự trừng phạt.
    • Cổ mẫu nước: Biểu tượng của sự sống, sự thanh tẩy, cái chết và sự tái sinh, gắn liền với không gian thủy phủ.
    • Cổ mẫu đêm: Không gian - thời gian của vô thức, nơi diễn ra các cuộc kì ngộ giữa người sống và cõi âm.

Chương 4. Truyền kì Việt Nam thời trung đại – Nhìn từ phương diện nghệ thuật biểu hiện huyền thoại (Đối chiếu với truyền kì Trung Hoa thời trung đại)

Chương 4 khảo sát hệ thống nghệ thuật biểu hiện huyền thoại qua ba phương diện:

  • Mô típ huyền thoại:
    • Mô típ hiển linh: Sự xuất hiện của thần linh, hồn ma để cứu giúp, báo mộng hoặc thực thi công lý.
    • Mô típ biến hình: Sự chuyển hóa thân xác giữa người, động thực vật và ma quỷ, phản ánh quan niệm vạn vật hữu linh.
    • Mô típ chinh phục cái chết: Nhân vật đi vào cõi âm, gặp lại người chết hoặc tái sinh nơi cõi tiên/thủy cung.
    • Mô típ kết duyên kì lạ: Hôn nhân giữa người trần với tiên nữ, hồn ma, hoặc tinh hoa hoa cỏ, loài vật.
  • Không gian huyền thoại:
    • Không gian đồng hiện thực giới và hư giới: Trần gian đan xen với cõi tiên, âm phủ, thủy cung.
    • Không gian đồng hiện trung tâm thần thiêng và ngoại vi thế tục: Sự gắn kết giữa không gian đền miếu linh thiêng với sinh hoạt đời thường.
  • Thời gian huyền thoại:
    • Thời gian đồng hiện đồng đại: Thời gian của cõi người và cõi tiên/ma quỷ diễn ra song song với tốc độ khác nhau ("một ngày ở cõi tiên bằng một năm ở trần gian").
    • Thời gian đồng hiện lịch đại: Sự xóa nhòa ranh giới giữa quá khứ, hiện tại và tương lai trong các giấc mộng hoặc cuộc hạnh ngộ kì ảo.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận và khoa học

  • Luận án là công trình nghiên cứu chuyên biệt đầu tiên xác định, thống kê, phân loại và phân tích hệ thống các yếu tố huyền thoại trong truyện truyền kì Việt Nam thời trung đại dưới sự soi chiếu của lý thuyết phê bình huyền thoại học hiện đại.
  • Ứng dụng thành công các lý thuyết cấu trúc, nhân học, phân tâm học và thi pháp học để lý giải cơ chế chuyển hóa hình thái và ý nghĩa của các yếu tố huyền thoại từ văn hóa nguyên thủy và thần thoại dân gian vào tác phẩm tự sự trung đại.

Đóng góp về mặt thực tiễn và văn hóa

  • Xác định và làm rõ sự tương đồng và khác biệt giữa huyền thoại trong truyện truyền kì so với thần thoại gốc, chỉ ra dấu ấn sáng tạo cá nhân của các tác giả trung đại (như Nguyễn Dữ, Lê Thánh Tông, Đoàn Thị Điểm) khi sử dụng chất liệu kì ảo để phản ánh hiện thực lịch sử và số phận con người.
  • Làm sáng tỏ mối quan hệ tiếp nhận và giao thoa văn hóa giữa truyền kì Việt Nam và truyền kì Trung Hoa; khẳng định tính độc lập và bản sắc văn hóa Việt thông qua việc gắn huyền thoại với lịch sử dân tộc, địa danh cụ thể và tín ngưỡng bản địa.

Kiến nghị và giải pháp học thuật

  • Đề xuất mở rộng hướng tiếp cận huyền thoại học vào việc giảng dạy các tác phẩm truyền kì trong chương trình Ngữ văn ở bậc phổ thông (THCS, THPT) và bậc đại học, cao đẳng.
  • Tăng cường việc tích hợp liên môn (Văn học - Lịch sử - Văn hóa học - Nhân học) trong việc giải mã các văn bản văn học cổ trung đại.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế về nguồn văn bản: Tại thời điểm thực hiện luận án, bộ tuyển tập quy mô Truyện truyền kỳ Việt Nam do nhà nghiên cứu Nguyễn Huệ Chi chủ biên (gồm 3 quyển, 6 tập với 262 truyện) mới chỉ xuất bản được quyển 2 (tập III, IV) và quyển 3 (tập V, VI). Do đó, luận án chưa thể bao quát toàn bộ 262 truyện trong công trình này mà chủ yếu sử dụng nó làm tài liệu đối chiếu, tập trung tư liệu khảo sát chính ở bộ Tổng tập tiểu thuyết chữ Hán Việt Nam (tập 1, 2).
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Luận án mở ra khả năng tiếp tục khảo sát toàn diện hơn khi các văn bản thư tịch cổ được thu thập và dịch thuật đầy đủ; đồng thời có thể mở rộng phạm vi đối chiếu truyện truyền kì Việt Nam với truyền kì của các quốc gia khác trong khu vực văn hóa chữ Hán như Kim Ngao tân thoại (Hàn Quốc) và Vũ nguyệt vật ngữ, Ngự già tỳ tử (Nhật Bản).

Giá trị tham khảo

  • Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học, giảng viên: Cung cấp khung phương pháp luận và thao tác cụ thể về phê bình huyền thoại ứng dụng vào văn xuôi tự sự trung đại; cung cấp hệ thống tư liệu tổng quan thư mục phong phú về thể loại truyền kì tại Việt Nam và Đông Á.
  • Đối với giáo viên và học sinh phổ thông: Hỗ trợ giải mã chiều sâu biểu tượng và yếu tố kì ảo trong các tác phẩm truyền kì được đưa vào chương trình sách giáo khoa Ngữ văn như Chuyện người con gái Nam Xương, Chuyện chức phán sự đền Tản Viên (trích Truyền kì mạn lục).
  • Phần đáng tham khảo nhất: Chương 3 và Chương 4 với hệ thống phân tích chi tiết về 4 cổ mẫu (thần, yêu ma, nước, đêm), 4 mô típ huyền thoại (hiển linh, biến hình, chinh phục cái chết, kết duyên kì lạ) và cấu trúc không gian - thời gian đồng hiện.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án khảo sát chính các tác phẩm truyền kì Việt Nam nào?

Luận án khảo sát các truyện truyền kì trong Tổng tập tiểu thuyết chữ Hán Việt Nam (tập 1, 2; Trần Nghĩa chủ biên, 1997), cụ thể gồm: Thánh Tông di thảo, Truyền kì mạn lục, Truyền kì tân phả, Tân truyền kì lục, Vân nang tiểu sử, Truyện kí trích lục, và Lan Trì kiến văn lục.

2. Các lý thuyết huyền thoại học nào được tác giả ứng dụng chủ đạo?

Luận án vận dụng 5 hệ thống lý thuyết: lý thuyết cấu trúc (Claude Lévi-Strauss, V. N. Toporov), lý thuyết nhân học với thuyết vật linh (Edward Burnett Tylor), lý thuyết phân tâm học về cổ mẫu và vô thức tập thể (Carl Gustav Jung, Sigmund Freud), lý thuyết xã hội học biểu tượng (Edgar Morin, Roland Barthes, Mircea Eliade, Lucien Lévy-Bruhl, Ernst Cassirer), và lý thuyết thi pháp học (Trần Đình Sử, Chu Xuân Diên, E. Meletinsky).

3. Bốn cổ mẫu (archetype) tiêu biểu được luận án phân tích trong truyền kì Việt Nam là gì?

Luận án phân tích sự tái sinh của 4 cổ mẫu trong Chương 3, bao gồm: cổ mẫu thần, cổ mẫu yêu ma, cổ mẫu nước và cổ mẫu đêm.

4. Những mô típ nghệ thuật huyền thoại nào được đối chiếu giữa truyền kì Việt Nam và Trung Hoa?

Bốn mô típ huyền thoại cốt lõi được khảo sát trong Chương 4 gồm: mô típ hiển linh, mô típ biến hình, mô típ chinh phục cái chết và mô típ kết duyên kì lạ (kết duyên giữa người với tiên, người với ma, hoặc người với tinh hoa cỏ/vật).

5. Cấu trúc không gian và thời gian huyền thoại trong truyền kì được mô hình hóa như thế nào?

Không gian huyền thoại gồm 2 dạng thức: không gian đồng hiện thực giới - hư giới (trần gian, cõi tiên, âm phủ, thủy cung) và không gian đồng hiện trung tâm thần thiêng - ngoại vi thế tục. Thời gian huyền thoại gồm 2 dạng thức: thời gian đồng hiện đồng đại (sự song hành khác biệt vận tốc giữa cõi trần và cõi tiên/ma) và thời gian đồng hiện lịch đại (sự xóa nhòa ranh giới quá khứ, hiện tại và tương lai).


Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Hoàng Thị Thùy Dương đã giải quyết khoảng trống nghiên cứu về thể loại truyền kì Việt Nam thời trung đại thông qua việc vận dụng hệ thống lý thuyết phê bình huyền thoại học hiện đại. Bằng việc phân tích tư duy huyền thoại (thần thánh hóa nhân vật, tái sinh cổ mẫu) và nghệ thuật biểu hiện (mô típ, không - thời gian đồng hiện), công trình làm rõ cơ chế chuyển hóa của các yếu tố hoang đường nguyên thủy vào văn học viết. Kết quả đối chiếu với truyền kì Trung Hoa đã khẳng định những giá trị văn hóa, tinh thần dân tộc và sự sáng tạo nghệ thuật của các tác giả truyền kì Việt Nam trong tiến trình văn học trung đại. Công trình đóng góp nguồn tài liệu tham khảo có giá trị cho công tác nghiên cứu lý luận, lịch sử văn học và giảng dạy văn bản truyền kì ở các bậc học.