Chương 1 MỐI QUAN HỆ GIỮA VĂN HỌC – VĂN HÓA VÀ TÁC GIẢ PHƯỢNG VŨ 1.1 Hướng tiếp cận văn hóa 1.1 Tiếp cận văn học từ văn hóa Đã từ rất lâu, văn học đã từng tồn tại dưới dạng nguyên hợp, bất phân giữa văn và tôn giáo, tín ngưỡng, triết học, sử hoc, trên nhữngbình diện tư tưởng và tình cảm. Vì thế, văn học luôn tồn tại những yếu tố văn hóa.TS Đoàn Đức Phương khẳng định trong chuyên luận Phương pháp nghiên cứu văn học, phương pháp tiếp cận văn hóa học là vận dụng những tri thức về văn hóa để nhân diện và giải mã các yếu tố thi pháp của tác phẩm. Còn Trần Nho Thìn viết trong cuốn Phương pháp tiếp cận văn hóa trong nghiên cứu giảng dạy văn học như sau: “Nghiên cứu văn học từ góc nhìn văn hóa không đơn giản chỉ dừng lại ở việc giải mã các nghĩa của biểu tượng mà chủ yếu phải phân tích đời sống của biểu tượng trong xã hội, trong văn học, phân tích sự vận động của biểu tượng trong tiến trình lịch sử. Đến lượt mình, biểu tượng không tồn tại độc lập mà thể hiện quan niệm về nghĩa, về giá trị của mỗi thời đại, mỗi dân tộc, mỗi tầng lớp”[37, tr.
Như vậy, nghiên cứu văn học từ góc độ văn hóa không chỉ tìm đến các biểu tượng để nhận diện giải mã mà biểu tượng luôn tồn tại các quan niệm về nghĩa, về về giá trị của thời đại dân tộc, tầng lớp nữa, từ đó chúng ta đặt ra nhiệm vụ đối chiếu so sánh truy nguyên các quan niệm văn hóa ở các thời đại, ở những thời điểm lịch sử nơi mà sản sinh ra tác phẩm và để tìm nguồn gốc của dạng thức quan niệm về con người, về không gian, thời gian được thể hiện trong tác phẩm văn học. Vậy, khi nghiên cứu, chúng ta xem xét, đánh giá một hiện tượng văn học, thì phương pháp tiếp cận văn hóa học có những tiêu chí tương ứng về quan niệm, xã hội, các kiểu hình tượng xã hội được thể hiện trong văn học. Bên cạnh quan niệm xã hội, và các kiểu hình tượng xã hội thì không gian tồn tại của con người dưới góc độ văn hóa, quan hệ của con người với thiên nhiên và các hình tượng thiên nhiên, quan niệm về con người gắn với hoàn cảnh cụ thể cũng được nghiên cứu xem xét. Thế nên, văn học tồn tại những yếu tố văn hóa là có từ rất lâu và việc nghiên cứu văn học dưới góc độ văn hóa là rất cần, nó cũng xuất hiện từ lâu như Đỗ Lai Thúy viết trong cuốn phê bình văn học Con vật lưỡng thê ấy trong mục Phê bình văn học từ hệ thống văn hóa ông có viết: “Phê bình văn học từ văn hóa, tự thân nó, là một câu chuyện cũ”[5, tr.
6 Nhà nghiên cứu nói “cũ như trái đất” quả là rất đúng, bởi nghiên cứu và phê bình văn học từ hệ thống văn hóa không phải là mới mà đây chính là làm mới một đề tài cũ, và đây không phải là thay đổi bản thân vấn đề mà thay đổi cái nhìn về nó, về văn học từ hệ thống văn hóa. Văn hóa là sức sống nội tại của mỗi dân tộc. Một nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc là biểu hiện cao nhất của tinh thần độc lập tự chủ, là tiềm năng sáng tạo vô hạn của dân tộc đó. Văn hóa Mường được thể hiện trong tác phẩm văn học Việt Nam cũng vậy.
Bởi qua những tác phẩm văn học, văn hóa Mường đã hiện lên làm phong phú cho nền văn học dân tộc ở nhiều mảng khác nhau cả về tinh thần và vật chất. Văn hóa (Trong tiếng Anh và tiếng Pháp là Culture) là khái niệm mang nội hàm rộng có rất nhiều cách hiểu và cách lý giải khác nhau, liên quan đến mọi mặt đời sống vật chất, tinh thần của con người. Người ta có thể hiểu văn hóa như một hoạt động sáng tạo của con người, nhưng cũng có thể hiểu văn hóa như là lối sống, thái độ ứng xử, lại cũng có thể hiểu văn hóa như một trình độ học vấn. Theo định nghĩa văn hóa của UNESCO: “Văn hóa là tổng thể những nét riêng biệt về tinh thần và vật chất, trí tuệ và cảm xúc quyết định tính cách của một xã hội hay một nhóm người trong xã hội.
Văn hóa bao gồm nghệ thuật và văn chương, những lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống và giá trị, tập tục và tín ngưỡng”[35, tr. Khái niệm văn hóa được hiểu theo cả nghĩa rộng và nghĩa hẹp, văn hóa đều là đặc trưng của văn hóa tộc người. Theo nghĩa rộng, văn hóa là tổng thể các thành tựu, những giá trị vật chất và tinh thần do các cộng đồng dân tộc sáng tạo ra trong quá trình hoạt động thực tiễn, cải tạo tự nhiên và phát triển xã hội, nhằm đảm bảo nhu cầu cuộc sống của con người. Theo nghĩa hẹp, văn hóa được giới hạn theo chiều sâu, theo chiều rộng, hoặc theo không gian, hoặc theo thời gian…giới hạn theo chiều sâu, văn hóa được hiểu là những giá trị tinh hoa của nó (nếp sống văn hóa như: ăn ở, tục lệ…Còn văn hóa nghệ thuật như: múa hát, hội họa, …) còn giới hạn theo chiều rộng, văn hóa dùng để chỉ trong từng lĩnh vực( văn hóa kinh doanh, văn hóa ứng xử, văn hóa đọc…).
Giới hạn theo không gian, văn hóa được dùng chỉ các đặc thùở các vùng, miền khác nhau (miền Bắc, miền Trung, miền Nam hay vùng đồng bằng, vùng miền núi…). Giới hạn theo thời gian như văn hóa Âu Lạc, Đông Sơn… 7 Ở nước ta, năm 1940, Hồ Chí Minh đã viết: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về ăn, mặc, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa. Văn hóa là là sự tổng hợp của các phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng nhu cầu của đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn”[28, tr.
Còn theo nghiên cứu của Trần Ngọc Thêm định nghĩa: “Văn hóa là một thể thống nhất các giá trị vật chất, tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình hoạt động thực tiễn thông qua các mối quan hệ tự nhiên và xã hội”[33, tr. Như vậy, ta thấy văn hóa chính là sản phẩm của loài người, văn hóa được tạo ra và phát triển trong quan hệ qua lại giữa con người và xã hội. Song, chính văn hóa lại tham gia vào việc tạo nên con người, và duy trì sự bền vững và trật tự xã hội. Văn hóa được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, từ đời này sang đời khác thông qua quá trình xã hội hóa.
Văn hóa được tái tạo và phát triển trong quá trình hành động và tương tác giữa xã hội và con người. Văn hóa đánh dấu trình độ phát triển của con người và của xã hội, được biểu hiện trong các kiểu và hình thức tổ chức đời sống và hành động của con người cũng như trong giá trị vật chất và tinh thần mà do con người tạo ra. Còn văn học, là loại hình nghệ thuật ngôn từ, phản ánh thực tại và những vấn đề của cuộc sống xã hội và con người. Văn học phản ánh tất cả các vấn đề văn hóa như: xã hội, vận mệnh, tiền đồ…của dân tộc, tinh thần của dân tộc.
Phương thức truyền tải văn hóa trong văn học chính là bằng ngôn ngữ, dùng ngôn ngữ văn học rồi hư cấu, xây dựng hình tượng, nội dung các đề tài được biểu hiện trong tác phẩm, nội dung tác phẩm văn học chịu sư quy định của các quan niệm văn hóa. Trong văn bản văn học có ba phương diện (đối tượng) của văn hóa. Thứ nhất: Văn bản văn học phản ánh toàn bộ đời sống cộng đồng dân tộc, trong đó văn hóa như phần hợp thành quan trọng, ta dễ thấy nhất là các hoạt động văn hóa thể hiện trong văn học như: tập tục, lễ hội, lối sống của một cộng đồng, một thời đại nào đó. Thứ hai: Ngôn ngữ với tư cách là chất liệu tạo nên văn bản văn học, ví dụ như lời ăn tiếng nói dân gian hay bác học của nhân vật, cả các hình thức thể loại, các kiểu cốt truyện.
8 Thứ ba: Văn bản văn học khi được công chúng tiếp nhận đã ảnh hưởng, tác động xã hội, đến tâm lí, sở thích cá nhân và cộng đồng, đôi khi tạo nên cả những phong trào xã hội. Hoạt động của nó cũng là một hiện tượng văn hóa. Trong thể loại văn học phản ánh gián tiếp quan điểm cá nhân, tất cả các yếu tố của tác phẩm đều liên quan với nó như tính chất các xung đột, sự phát triển cốt truyện, cả hệ thống hình tượng. Bakhtin cho rằng, thể loại là nhân vật chính của văn học, sự ra đời và tồn tại của nó có cơ sở ở văn hóa thời đại.
Mà văn hóa thời cổ đại của những công xã thị tộc bộ lạc cho ra đời những thể loại thần thoại, với những cuộc chiến tranh giữa chúng làm xuất hiện trong những anh hùng ca như Illiat của Homer. Văn học là một hình thái ý thức xã hội thẩm mĩ, nó bắt nguồn từ đời sống, phản ánh đời sống, bày tỏ một quan điểm, lập trường của nhà văn đối với đời sống xã hội. Nhưng văn học cũng phản ánh hiện thực nhưng là hiện thực trong ý nghĩa khách quan, phổ quát của chủng loại mà nó quan tâm được kết tinh trong sự vật và từ những sự vật đó làm người đọc hiểu theo một nghĩa khác. Ví dụ, nói đến mặt trời, văn học nhiều khi không phản ánh nó giống như một hiện tượng của tự nhiên để chiếu sáng cho con người mà nói đến nó là một hình tượng con người, đầy sự yêu thương kính trọng.
Có một mặt trời trong lăng rất đỏ/ Ngày ngày dòng người đi trong thương nhớ (Viếng lăng Bác, Viễn Phương). Văn học nói đến trăng không phải với tư cách là một vệ tinh tự nhiên của hệ mặt trời, mà trăng là hiện thân của cái đẹp, là khuôn mặt đẹp, phúc hậu của con người: Khuôn trăng đầy đặn nét ngài nở nang (Truyện Kiều, Nguyễn Du). Trần Nho Thìn viết trong Phương pháp tiếp cận văn hóa trong nghiên cứu giảng dạy văn học như sau: cùng một nghĩa, có thể có nhiều biểu tượng khác nhau. Biểu tượng nhân cách nhà nho tài tử ngoài tùng còn cúc, trúc, mai.