Chương 1 THỂ LOẠI TRUYỀN KÌ VÀ CHỦ ĐỀ TÌNH YÊU NAM NỮ TRONG TRUYỆN TRUYỀN KÌ TRUNG ĐẠI VIỆT NAM 1. Thể loại truyện truyền kì và chủ đề tình yêu nam nữ trong truyện truyền kì trung đại 1. Sơ lược về truyện truyền kì Trong văn học Việt Nam trung đại, văn xuôi nghệ thuật xuất hiện muộn hơn so với thơ phú và các thể loại văn học chức năng khác. Sự hình thành và phát triển của văn xuôi thể hiện sự trưởng thành của tư duy nghệ thuật, là bước tiến lớn của văn học dân tộc.
Truyện truyền kì chính là một trong những thể loại quan trọng nhất của văn xuôi trung đại, những thành tựu nghệ thuật của thể truyện này đã góp phần làm nên diện mạo cơ bản của bộ phận văn xuôi tự sự. Khái niệm truyện truyền kì Truyện truyền kì có nguồn gốc từ truyện kể dân gian Trung Quốc, sau đó được các tác giả ghi chép lại, nâng cao thành một thể loại văn học. Từ điển thuật ngữ văn học định nghĩa truyền kì là “thể loại tự sự ngắn cổ điển của văn học Trung Quốc thịnh hành ở thời Đường (…) Kì có nghĩa là không có thực, nhấn mạnh tính chất hư cấu”. Các tác giả Từ điển văn học (bộ mới) giới thuyết về khái niệm này đầy đủ, chi tiết hơn: “Một hình thức văn xuôi tự sự Trung Quốc, bắt nguồn từ truyện kể dân gian, sau các nhà văn nâng lên thành văn chương bác học, sử dụng các môtip kì quái, hoang đường lồng vào trong cốt truyện có ý nghĩa trần thế (…) Tuy nhiên trong truyện bao giờ cũng có nhân vật là người thật và chính nhân vật mang hình thức phi nhân thì cũng chỉ là sự cách điệu, phóng đại của tâm lí, tính cách một loại người nào đấy, và vì thế truyện truyền kì mang đậm yếu tố nhân bản, có giá trị nhân bản sâu sắc” [10, tr.
Như vậy, định nghĩa về thể loại này khá thống nhất. Nhìn chung, các nhà nghiên cứu đều thống nhất truyền kì là một thể loại văn xuôi tự sự thời trung đại được đặc trưng bởi tính chất hư cấu, kì lạ trong nhân vật, cốt truyện, nhằm phản ánh hiện thực. c 16 Truyện truyền kì không chỉ là đặc sản riêng trong văn xuôi tự sự Việt Nam mà còn phát triển ở toàn bộ vùng văn học Đông Á. Nói đến truyện kì ảo Đông Á, trước tiên, phải nói đến truyện kì ảo trong văn học Trung Quốc - trung tâm văn hóa có sức ảnh hưởng mạnh mẽ và lâu dài nhất đến văn học của các nước trong khu vực.
Lịch sử truyện kì ảo Trung Quốc chia làm các thời kì: truyện chí quái thời Lục triều, truyện truyền kì thời Đường - Tống, truyện chí dị thời Minh - Thanh. Chí dị, thực ra là giai đoạn tiếp theo của truyền kì. Truyền kì đạt được thành tựu rực rỡ vào đời Đường. Cách xây dựng nhân vật, tình tiết, ngôn ngữ đều có những khai phá và sáng tạo.
Hồng Mại (đời Tống) đã đánh giá truyền kì đời Đường là “kì diệu một thời”. Thời kì Minh - Thanh cũng là một trong những giai đoạn phát triển đến đỉnh điểm của truyền kì, chí dị, trong đó nổi bật hai tên tuổi lớn là Cù Hựu - tác giả Tiễn đăng tân thoại và Bồ Tùng Linh - tác giả Liêu trai chí dị. Hơn mười thế kỉ hình thành và phát triển, truyện truyền kì Trung Quốc đã để lại những thành tựu rực rỡ và có sức ảnh hưởng lớn đến nền văn học của các nước đồng văn trong khu vực. Trong đó, tác phẩm Tiễn đăng tân thoại của Cù Hựu có sức lan tỏa mạnh nhất, rõ rệt nhất, thúc đẩy sự ra đời các tập truyện truyền kì ở ba nước Đông Á còn lại như Kim Ngao tân thoại của Kim Thời Tập (1435 - 1493, Triều Tiên), Truyền kì mạn lục của Nguyễn Dữ (đầu thế kỉ XVI, Việt Nam), Già tỳ tử của Asai Ryohi (1612 - 1691, Nhật Bản).
Kim Ngao tân thoại, hoàn thành vào khoảng giữa thế kỉ XV, là tiểu thuyết Hán văn đầu tiên của Hàn Quốc, có giá trị cao trong văn học cổ điển nước này. Già tỳ tử cũng có một vị trí quan trọng trong văn học Nhật Bản, dù không phải là truyện thần quái đầu tiên, nhưng là tác phẩm điển hình theo kiểu truyện truyền kì của Nhật. Đặc trưng thể loại Đặc trưng quan trọng nhất của truyền kì là sự kết hợp yếu tố kì và thực. Cái kì là một phạm trù mĩ học, đặc trưng tư duy của người phương Đông và là thế giới quan thời kì cổ trung đại.
Không phải ngẫu nhiên mà những tác phẩm nổi tiếng, tiêu biểu của phương Đông đều chứa đựng nhiều cái kì (“vô kì bất truyền”). Cái kì trong truyện truyền kì đã phát triển từ thụ động đến tự ý thức: từ ảnh hưởng của văn học dân gian, sử kí, tôn giáo đến việc được nhà văn sử dụng như một thủ pháp nghệ c 17 thuật, một hạt nhân tự sự quan trọng trong kết cấu tác phẩm. Kết hợp chặt chẽ với cái kì trong hạt nhân của thể loại là cái thực và xu thế phát triển tất yếu của truyền kì là gia tăng yếu tố thực. Tuy nhiên, cái kì không mất đi mà hòa quyện chặt chẽ với cái thực trong một kết cấu thống nhất làm nên đặc trưng của thể loại.
Nếu thiếu cái kì, truyện dễ trở thành truyện kí; thiếu cái thực, truyện truyền kì không thể vượt thoát khỏi giới hạn của chí quái. Vai trò của yếu tố kì và thực trong hạt nhân cơ bản của truyện sẽ biến đổi và có những đặc điểm riêng qua từng giai đoạn phát triển của thể loại. Đặc trưng thứ hai của truyền kì, với tư cách một thể loại văn học nghệ thuật là sự kết hợp nhiều thể loại văn chương. Trong tác phẩm bên cạnh các thể văn xuôi còn bao gồm văn vần, thơ, từ, phú, lục… tạo nên một chỉnh thể thẩm mĩ “hàng hàng châu ngọc, lời lời gấm thêu”.
Nhà nghiên cứu Trần Đình Sử khái quát: “truyện truyền kì dùng văn xuôi để kể, đến chỗ tả cảnh, tả tình thì dùng văn biền ngẫu, khi nhân vật bộc lộ cảm xúc thì thường làm thơ” [24, tr. Một truyện truyền kì thường có dung lượng không lớn.TS Nguyễn Đăng Na xếp truyền kì vào thể loại truyện ngắn. Bố cục mỗi truyện thường chia thành ba phần: mở đầu giới thiệu danh tính, nguồn gốc nhân vật, giữa truyện kể lại hành trạng, cuộc đời nhân vật và phần kết khẳng định tính chân thực của câu chuyện. Phần lời bình nằm cuối mỗi truyện cũng được xem là một bộ phận hữu cơ trong kết cấu chỉnh thể của thể loại.
Chủ đề tình yêu nam nữ trong truyện truyền kì trung đại Việt Nam 1. Khái niệm: chủ đề, tình yêu, tình yêu nam nữ Chủ đề là vấn đề chủ yếu, trung tâm, là phương diện chính yếu của đề tài. Nói cách khác, chủ đề là những vấn đề được nhà văn tập trung soi rọi, tô đậm, nêu lên trong tác phẩm mà nhà văn cho là quan trọng nhất. Chủ đề tác phẩm nói lên chiều sâu tư tưởng, khả năng nắm bắt những vấn đề của cuộc sống.
Từ những đề tài cụ thể, bình thường, tác giả có thể nêu lên những chủ đề có tính khái quát to lớn và sâu sắc, cùng với tư tưởng tạo ra tầm vóc của tác phẩm. Một tác phẩm có thể có nhiều chủ đề, nhưng thường có chủ đề chính và chủ đề phụ. Chủ đề chính là vấn đề bao quát nhất, chủ yếu nhất, chủ đề phụ là những vấn đề nhỏ và có liên quan tới chủ c 18 đề chính. Phân biệt chủ đề chính phụ đôi khi rất khó, cũng như xác định chủ đề vời người mới cầm bút và bạn đọc nhiều khi lúng túng, nhất là đối với thơ ca do bản năng cảm xúc, không xác định trước, nghĩ đến đâu làm đến đấy.
Nếu không xác định chủ đề trước dễ dẫn tới lan man và không kết thúc được. Tình yêu là một loạt các cảm xúc, trạng thái tâm lý, và thái độ khác nhau dao động từ tình cảm cá nhân ("Tôi yêu mẹ tôi") đến niềm vui sướng ("Tôi thích món ăn"). Tình yêu thường là một cảm xúc thu hút mạnh mẽ và nhu cầu muốn được ràng buộc gắn bó. Nó cũng có thể là một đức tính đại diện cho lòng tốt của con người, sự nhân từ và sự thông cảm "mối quan tâm trung thành và vị tha hướng tới người khác".
Nó cũng có thể mô tả các hành động nhân văn và thông cảm đối với người khác, chính bản thân mình hoặc các con vật. Từ "tình yêu" có thể có nhiều ý nghĩa liên quan nhưng khác biệt trong các bối cảnh khác nhau. Nhiều ngôn ngữ khác sử dụng nhiều từ ngữ để diễn tả một số khái niệm khác nhau của "tình yêu"; một ví dụ là có 4 từ Hy Lạp cho "tình yêu" (storge, philia, eros, agape). Khác biệt trong khái niệm tình yêu của các nền văn hóa khác nhau dẫn đến việc thành lập một định nghĩa phổ quát cho tình yêu là rất khó khăn.
Tính chất phức tạp và trừu tượng của tình yêu thường tạo ra các thành ngữ về tình yêu ở đó tình yêu vượt trên mọi cảm xúc khác. Dẫn chứng là một số câu tục ngữ thông thường về tình yêu, từ "Tình yêu sẽ chiến thắng tất cả" của Virgil đến "Tất cả thứ bạn cần là tình yêu" của Beatles. Thánh Thomas Aquinas, sau Aristotle, định nghĩa tình yêu là "tạo ra điều tốt lành cho người khác." Bertrand Russell mô tả tình yêu như một điều kiện "có giá trị tuyệt đối", trái ngược với giá trị tương đối. Nhà triết học Gottfried Leibniz nói tình yêu là "vui mừng vì hạnh phúc của người khác".
Nhà sinh học Jeremy Griffith định nghĩa tình yêu là "lòng vị tha vô điều kiện". Tình yêu là sự rung cảm và quyến luyến sâu sắc giữa hai người khác giới. Ở họ có sự phù hợp về nhiều mặt… làm cho họ có nhu cầu gần gũi, gắn bó với nhau, tự nguyện sống vì nhau và sẵn sàng hiến dâng cho nhau cuộc sống của mình. Tình yêu thật sự không phải là cảm xúc, dù nó thường đến cùng những cảm xúc mạnh đến mức làm con người choáng ngợp.
Sự hiểu biết lẫn nhau mới là nền tảng của tình yêu thật sự. Tình yêu cũng như một loại cây xanh, nếu ta không biết cách chăm sóc dưỡng nuôi, hoặc thừa hoặc thiếu, thì nó sẽ héo tàn và lụi bại. Tình yêu là tình cảm sâu sắc, đáng trân trọng của cá nhân, tuy nhiên c 19 không nên cho rằng đó hoàn toàn là việc riêng tư của mỗi người. Tình yêu luôn mang tính xã hội.