PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Trong sự nghiệp đổi mới hiện nay, truyền thống yêu nước và đại đoàn kết dân tộc đóng vai trò nền tảng và là động lực để chúng ta xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Vì vậy, kế thừa và phát huy những giá trị văn hóa tiêu biểu truyền thống lịch sử tốt đẹp của dân tộc, bổ sung vào đó những nội dung mới, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh là yêu cầu hàng đầu đối với việc xây dựng nền văn hóa hiện nay. Cùng với phát triển kinh tế, chính trị, pháp luật thì văn hóa là vấn đề quan trọng và không thể thiếu trong quá trình phát triển đất nước.
Được coi là bước đi đầu trong giai đoạn phát triển, văn hóa đã chứng tỏ vai | trò của nó trong hội nhập kinh tế. Mỗi dân tộc trên thế giới đều có những bản sắc văn hóa riêng. Vốn dĩ, để phân biệt dân tộc này với dân tộc khác người ta thường nhắc tới văn hóa. Bởi những giá trị truyền thống được chắt lọc lâu đời đã tạo cho Việt Nam có nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc.
Đóng góp vào nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội, văn hóa đã đi sâu vào lòng người, góp phần đáng kể tạo ra những giá trị tinh thần và hình thành nhân cách trong mỗi con người. Bên cạnh đó trong "giáo dục", văn hóa đã phát huy vai trò của mình như thế nào? Nhất là đối với những sinh viên đại học, nhưng người chủ tương lai của Đất nước đã áp dụng đúng những quan điểm về xây dựng nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc hay chưa? Chính vì vậy mà việc giữ gìn nền văn hóa truyền thống và giải pháp xây dựng nền văn hóa mới Việt Nam hiện nay là thiết thực và rất quan trọng. và đó chính là lí do mà chúng em chọn đề tài này 2. Lịch sư nghiên cứu vấn đề 2.1 Truyền thống văn hóa vẻ vang của dân tộc Việt Nam 51 0 0 Do vị trí địa lý và các yếu tố chính trị, kinh tế, xã hội… trong suốt hàng ngàn năm lịch sử dựng nước và giữ nước, dân tộc ta phải đương đầu với nhiều thử thách do thiên tai, địch họa, nhất là các cuộc chiến tranh xâm lược từ bên ngoài.
Truyền thống yêu nước, đoàn kết, bản lĩnh, cốt cách, phẩm giá dân tộc đã giúp chúng ta tồn tại vững vàng và phát triển mạnh mẽ. Quá trình đó cũng xây dựng, hun đúc, phát triển truyền thống văn hóa vẻ vang của dân tộc; bản sắc và sức sống mãnh liệt của văn hóa Việt Nam. Khi xác định đặc trưng và bản sắc văn hóa Việt Nam, dù có những điểm nhìn khác nhau, thì nhiều người, nhiều giới đều dễ gặp nhau ở những điểm chung nhất. Đó là các phẩm chất yêu nước, thương nòi, đoàn kết, tôn kính tổ tiên, dũng cảm, tài trí, hiếu học, cần cù, ngay thẳng, tình nghĩa, hòa hiếu, khoan dung… Từ ngày có Đảng, nhất là từ khi đất nước ta thoát khỏi ách nô dịch của chế độ phong kiến, thực dân, xây dựng chính quyền dân chủ nhân dân theo định hướng xã hội chủ nghĩa, văn hóa Việt Nam cùng với các yếu tố đậm đà bản sắc dân tộc đã có, còn được bổ sung và phát triển thêm các phẩm chất mới mang tính tiên tiến.
Tiên tiến về trình độ học vấn, về dân trí, trình độ khoa học và công nghệ; tiên tiến về tư tưởng, đạo đức, tâm hồn, tình cảm, lối sống; tiên tiến về sự kết hợp giữa hiện đại và truyền thống, giữa hình thức và nội dung; giữa văn hiến dân tộc và chủ nghĩa Mác-Lenin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Bản sắc dân tộc về văn hóa là sự thống nhất trong tính đa dạng và phong phú của văn hóa các dân tộc, tôn giáo, vùng miền; là những phẩm chất được xây dựng, sáng tạo, chắt lọc, kế thừa, phát huy từ đời này sang đời khác, tạo nên sức sống mãnh liệt và bất diệt của dân tộc.2 Đường lối, quan điểm về văn hóa của ta từ ngày thành lập Đảng đến Đề cương văn hóa 1943 Ngày 3 tháng 2 năm 1930, Đảng ta do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc sáng lập và ra đời. Những năm sau đó, dù phải hoạt động bí mật với muôn vàn gian khổ, hy 0 0 sinh, năm 1943, đồng chí Trường Chinh, Tổng Bí thư của Đảng vận dụng các quan 0 0 điểm của Chủ nghĩa Mác, của Đảng ta và của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, đã soạn thảo Đề cương Văn hóa Việt Nam (còn gọi Đề cương Văn hóa 1943). Lần đầu tiên Đảng Cộng sản Việt Nam nêu cương lĩnh văn hóa, nội dung, tính chất, tổ chức, định hướng phát triển của một cuộc cách mạng văn hóa chỉ có thể gắn với cuộc cách mạng giải phóng dân tộc và tương lai của nền văn hóa ấy sau khi cách mạng đã thành công.
Đề cương Văn hóa Việt Nam (1943) xác định xây dựng nền văn hóa Việt Nam (bao gồm cả tư tưởng, học thuật, nghệ thuật), “… sẽ do cách mạng dân chủ giải phóng thắng lợi mà được cởi mở xiềng xích và sẽ đuổi kịp văn hóa tân dân chủ thế giới”; khẳng định ba nguyên tắc: “Dân tộc hóa”; “Đại chúng hóa”; “Khoa học hóa”. “Mặt trận văn hóa là một trong ba mặt trận (kinh tế, chính trị, văn hóa)”, “Sự nghiệp văn hóa là của toàn dân, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng; khẳng định rõ “đảng tiên phong phải lãnh đạo văn hóa tiên phong”. Tính chất nền văn hóa mới Việt Nam: dân tộc về hình thức, tân dân chủ về nội dung.3 Văn hóa Việt Nam từ Cách mạng Tháng Tám năm 1945 Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công. Trong phiên họp đầu tiên của Hội đồng Chính phủ (ngày 3.1945), Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu lên 6 nhiệm vụ cấp bách của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, trong đó có 2 nhiệm vụ cấp bách thuộc về văn hóa: Một là, cùng với diệt giặc đói phải diệt giặc dốt.
Hai là, phải giáo dục tinh thần cho nhân dân. Đây là hai nhiệm vụ giản dị nhưng lại hết sức quan trọng ở tầm nhìn, tầm nắm bắt yêu cầu của cách mạng, lấy dân làm gốc. Đầu năm 1946, Ban Trung ương vận động đời sống mới được thành lập với sự tham gia của nhiều nhân vật có uy tín như Trần Huy Liệu, Dương Đức Hiền, Vũ Đình Hoè., Tổng thư ký của Ban là nhà văn Nguyễn Huy Tưởng. Từ năm 1950 trở đi, mô hình xây dựng văn hóa kháng chiến có sự điều chỉnh, hình thức “hội nghị văn hóa toàn quốc” không còn được sử dụng.
Nhân Triển lãm hội họa (năm 1951), trong thư gửi các họa sĩ, Hồ Chí Minh khẳng định: “Văn hóa nghệ thuật cũng là một mặt trận. Anh chị em là chiến sĩ trên mặt trận 0 0 ấy”. Người nhấn mạnh vai trò xung kích của văn hóa, văn nghệ trong sứ mệnh giải phóng dân 0 0 tộc. Văn hóa cùng với các lĩnh vực chính trị, kinh tế, quân sự.
phải tạo thành những mặt trận có sức mạnh to lớn trong cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc. “Văn hóa nghệ thuật cũng như mọi hoạt động khác không thể đứng ngoài mà phải ở trong kinh tế và chính trị”; “chính trị, kinh tế, văn hóa đều “phải coi là quan trọng ngang nhau”.4 Tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa Xây dựng văn hóa là tiến hành xây dựng đồng bộ và toàn diện về tâm lý, luân lý, xã hội, về chính trị và kinh tế. Hồ Chí Minh cho rằng: Để văn hóa soi đường cho quốc dân đi, mỗi cán bộ, đảng viên ở các cấp, các ngành phải là tấm gương để mọi người noi theo: “Muốn hướng dẫn nhân dân, mình phải làm mực thước cho người ta bắt chước”. Người chỉ rõ “Văn hóa, nghệ thuật cũng là một mặt trận”, “Văn hóa, nghệ thuật cũng như mọi hoạt động khác, không thể đứng ngoài mà phải ở trong kinh tế và chính trị”, cần đoàn kết tập hợp đội ngũ trí thức, những nhà văn hóa và toàn quân, toàn dân phấn đấu cho sự nghiệp “phò chính, trừ tà”, góp phần quan trọng vào việc nhân đạo hóa con người, cổ vũ con người vươn tới chân, thiện, mỹ.
Văn hóa phải “gắn liền với lao động, sản xuất, văn hóa xa đời sống, xa lao động là văn hóa suông”. Văn hóa phải thấu hiểu và đi sâu vào đời sống, “bày tỏ được cái tinh thần anh dũng và kiên quyết của quân và dân ta, đồng thời để giúp phát triển và nâng cao tinh thần ấy”. Hồ Chí Minh cho rằng: “Để phục vụ sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa thì văn hóa phải xã hội chủ nghĩa về nội dung và dân tộc về hình thức”. Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Dân tộc bị áp bức, thì văn nghệ cũng mất tự do.
Văn nghệ muốn tự do thì phải tham gia cách mạng”. Hồ Chí Minh nêu một yêu cầu cơ bản: “Muốn tiến lên chủ nghĩa xã hội thì phải có con người xã hội chủ nghĩa; muốn có con người xã hội chủ nghĩa phải có tư tưởng xã hội chủ nghĩa, muốn có tư tưởng xã hội chủ nghĩa phải gột rửa tư tưởng cá nhân chủ nghĩa”, vì theo Người, chủ nghĩa cá nhân là nguyên nhân đẻ ra các căn bệnh làm hại đến sự phát triển của đất nước. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Phương pháp logic Khái niệm: Phương pháp logic là phương pháp nghiên cứu các hiện tượng lịch sử trong hình thức tổng quát, nhằm mục đích vạch ra bản chất, quy luật, khuynh hướng chung trong sự vận động của chúng. Đặc điểm: Phương pháp logic đi tìm sâu cái bản chất, cái phổ biến, cái lặp lại của các hiện tượng các sự kiện, phân tích so sánh tổng hợp với tư duy khái quát để tìm ra bản chất các sự kiện hiện tượng.
Từ đó, tránh máy móc và định kiến, áp đặt và không tách rời khỏi lịch sử. Ý nghĩa: Quyết định đến sự nhận thức đúng đắn về thế giới quan, hiện thực lịch sử và thấy rõ được hướng phát triển của lịch sử, nhận thấy được những bài học và xu hướng phát triển của sự vật, hiện tượng. Đồng thời, giúp ta tìm cái logic, cái tất yếu bên trong “bức tranh quá khứ” để vạch ra bản chất, quy luật vận động, phát triển khách quan của hiện thực.2 Phương pháp lịch sử Khái niệm: Phương pháp lịch sử là phương pháp xem xét và trình bày quá trình phát triển của các sự vật, hiện tượng lịch sử theo một trình tự liên tục và nhiều mặt, có lớp lang sau trước, trong mối liên hệ với các sự vật, hiện tượng khác.