Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án Chương này đề cập đến một số khái niệm then chốt được sử dụng trong luận án; nguồn gốc và phả hệ họ Nguyễn Tiên Điền; những kết quả mà học giới đạt được trong việc nghiên cứu văn chương Nôm họ Nguyễn Tiên Điền từ đó nêu ra hướng triển khai của đề tài. Chương 2: Dòng họ Nguyễn Tiên Điền trong bối cảnh lịch sử xã hội đương thời Chương này tìm hiểu về họ Nguyễn Tiên Điền trong bối cảnh lịch sử xã hội đương thời trên các phương diện cụ thé như bối cảnh lịch sử, hoàn cảnh địa lý thời kỳ các tác giả dòng văn sinh sống và sáng tác; những đóng góp ngoài văn chương Nôm của dòng họ Nguyễn Tiên Điền; các mối quan hệ của họ Nguyễn Tiên Điền với các dòng danh gia, khoa bảng, hiển hoạn đương thời và tìm hiểu về tiểu sử hành trạng của các tác giả có sáng tác thơ văn Nôm. Chương 3: Nghiên cứu văn bản các tác phẩm Nôm Chương này dé cập đến tình hình tác phẩm, văn bản tho văn Nom của tám tác giả có sáng tác Nôm trong dòng họ; thẩm định lại những tác phẩm đang có tồn nghị, tranh luận về vấn đề tác giả; làm sáng tỏ những ngộ nhận hoặc nhìn nhận chưa đúng đắn đối với một số tác giả trong dòng văn. Chương 4: Đóng góp và vị thế của văn chương Nôm họ Nguyễn Tiên Điền Chương này tìm hiểu về những đóng góp và vị thế của văn chương Nôm họ Nguyễn Tiên Điền thông qua phương pháp so sánh.
Luận án so sánh văn chương Nôm của dòng họ với văn chương chữ Hán của chính dòng họ trên các phương diện như lực lượng tác giả, ngôn ngữ, hệ thống thê loại, chủ đề, đề tài, nội dung, nghệ thuật, độc giả của hai bộ phận sáng tác và so sánh văn chương Nôm của họ Nguyễn Tiên Điền với một số dòng họ nổi tiếng đương thời như họ Ngô Thì ở Tả Thanh Oai, họ Phan Huy Sài Sơn và Nguyễn Huy Trường Lưu về phương diện lực lượng sáng tác Nôm, sô lượng tác phâm Nôm. TONG QUAN TINH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN DEN DE TÀI LUẬN ÁN Trong chương này, đầu tiên, chúng tôi giới thuyết và làm rõ hơn về một số khái niệm có tính lý thuyết liên quan đến cách tiếp cận đề tài luận án như: đông văn, văn phái (xi). Tiếp đó, chúng tôi tìm hiểu về cội nguồn và pha hệ họ Nguyễn Tiên Điền dé xác định phạm vi tim kiếm, khảo sát của luận án. Cuối cùng, đến trọng tâm của chương này là tìm hiểu tình hình nghiên cứu của học giới về thơ văn Nôm dòng họ Nguyễn Tiên Điền từ đó đưa ra hướng triển khai của đề tài luận án.
Khảo về một số khái niệm then chốt sử dụng trong đề tài 1. Khái niệm Văn phái (x #) 1. Khái niệm Văn phái (&%) ở Trung Quốc Mục này, chúng tôi tìm hiểu về từ “văn phái” (xs) trong văn học Trung Quốc - nước có nền văn học “gôC”, cô mẫu” cho các nước năm trong trong vành z Ax33 66 đai văn hóa Đông Á. Chúng tôi khảo sát trong các tài liệu của Trung Quốc, từ “văn phái” (xi) không thấy dùng trong ở thời trung đại trở về trước mà chỉ thấy dùng ở thời cận đại, cụ thê là khoảng nửa đầu thế kỷ XX, để dịch cụm từ “trường phái văn học” (tương đương với “literary school/group” trong tiếng Anh).
Đến thời hiện dai, từ “văn phái” (x) ít được sử dụng và sau đó bị thay thé bởi khái niệm “văn học lưu phái x sig 91”. Cụ thé như trình bày dưới day. Hán ngữ đại từ điển ghi: “Văn phái xi: là văn học phái biệt x#%% 3\, hay văn chương lưu phái % #›;š3«. Lưu Sư Bồi trong Dữ nhân luận văn thư (5 ^.3©% 35) viết: “Cac thé văn ấy ngày một suy đôi, ngày càng ngại việc tô hay vẽ khéo, gần đây Diên Lăng văn phái quá chú trọng vào những điều kỳ quái”.
Hồ Un Ngọc trong bài “Tựa sách Trung Quốc văn học sử” (< '?Elx'#*# >#) cũng viết: “thậm chí, các báo chí và văn bản hành chính, cũng bắt chước cái tệ lậu của sách vở phương Đông, khiến cho con cháu mai hậu chăng thé biết được văn phái của các tiên hiền” (LAMAR, HRABLLE: RALTSA, 8 x#l#> +). Lỗ Tan trong “Tam nhàn tập tự ngôn” (<=<l#@>#z) viết “Ngay cả những tiên sinh không nêu cao ngọn cờ văn phái thời bấy giờ, thậm chí hầu hết là các nhà văn hoặc giáo sư, trong câu chữ họ dùng vào thời điêm đó, cũng thâm chê 13 giéu tôi một vài câu dé thé hiện sự cao minh của ho” (4 4 KAR RIR MILES HAVE RAGLAN, BU ORFL, BAYA RLASRILY, LABORA) LF 417/4, 1994, Q6, tr. Như vay, “văn phái” là thuật ngữ hình thành trong giai đoạn cận dai của nghiên cứu văn học Trung Quốc. Các cách hiểu về nội hàm của “văn phái” của các học giả Trung Quốc đầu thế kỷ XX sau đó theo đường tân thư đã ảnh hưởng đến Việt Nam.
Dao Duy Anh trong Hán Việt tự điển ghi: “văn phái x3 môn phái về văn chương (école littéraire, cénacle)” [Đào Duy Anh, 1996, tr. Trong văn học cô điển Trung Quốc, các lưu phái văn học (văn phái) còn dùng để chỉ các nhóm văn nhân chuyên về chủ dé/thé tài nào đó vi du thi phái biên tái, thi phái sơn thuỷ, thi phái điển viên, hoặc nhóm các tác giả theo phong cách của một đại thi hào nào đó như: thi phái Nguyên (Chẩn) Bạch (Cu DỊ), thi phái Han (Di) Mạnh (Giao). Khái niệm “văn phái ”xuất hiện thời cận đại ở Trung Quốc cũng tương tự khái niệm “lưu phái” hay “xã đoàn”. Trung Quốc văn học dai từ điển ghi: “Lưu phái zšz£ là tập hop các tác giả văn học có chung khuynh hướng chính trị, nền tảng tư tưởng, phong cách nghệ thuật, quan niệm thẩm mi, nguyên tắc sáng tác, cảm thụ văn học, cùng sinh hoạt và sáng tác trong một giai đoạn lịch sử nhất định.
Văn học lưu phái và nguyên tắc sáng tác có mối quan hệ mật thiết với nhau, nhưng cũng có những khu biệt nhất định. Các lưu phải văn học khác nhau được phân biệt bởi các tiêu chí về khuynh hướng tư tưởng và phong cách nghệ thuật”. Có thể nói, “văn phái” và “lưu phái” ở Trung Quốc được dùng để dịch thuật ngữ “école littéraire, cénacle” từ tiếng Pháp và các tiếng Phương Tây khác trong giai đoạn cận đại, dùng dé chỉ các trường phái văn học, các trào lưu văn học với các hệ tiêu chí phân biệt như hệ tư tưởng, hệ thong tham mi, quan niệm sáng tác, quan niệm tiếp nhan,. Trong luận án nay, chúng tôi sẽ dùng thuật ngữ “văn phái” nhưng không sử dụng nội hàm như vậy.
Khái nệm “văn phái” ở Việt Nam Xét trong lịch sử văn học, với tài liệu hiện còn, có thé nói, dòng văn Ngô Thì ở Tả Thanh Oai là dòng tiên phong trong việc định danh từ “văn phái”. Các tác giả thuộc dòng họ này đã “tự định tự xưng” bộ tùng thư về trước tác của các tác giả trong dòng họ mình là Ngô gia văn phải. Khi tham gia sưu tập bộ tùng thư của dòng họ, Ngô Thì Trí (1766 -1822) quan niệm về hai chữ “văn phái” rằng: “Ông cháu, cha con trong khoảng trăm năm nối nhau tích tụ, bơi lội trong bề học bờ thánh. Bởi 14 vì nguồn xa thì dòng lón, cái chứa lớn thì tưới nhuần lớn.
Đã có đức ấy thi at có lời dy, thé thì lời sẽ ra, thể hiện ra ngoài mà có văn chương” [dẫn theo Trần Thị Băng Thanh, 2005, tr. Với quan niệm này, ta thấy, Ngô Thi Trí coi “văn phái” là truyền thống văn chương trải đời này sang đời khác trong họ tộc, có sự tiếp nối giữa các thế hệ trong dòng họ. Phan Huy Ích (con rễ của dòng họ Ngô Thì) khi viết tựa cho bộ tùng thư đó cũng nhấn mạnh về sự truyền thừa, tiếp nối trong dòng ho và nhấn mạnh về vai trò của một “danh gia” (tác gia lớn) trong dòng họ: “Da là danh gia, nhưng nếu xứng lên không có người theo, đứt roi không có người noi, thì cũng chưa phải là thịnh. Tất phải là dòng dõi văn nho, người trước sáng tác, người sau noi theo, dòng nước xa nguồn mà van tràn lan, truyền bá được rộng, thé mới là chính phái của một danh gia” [Phan Trọng Thưởng, 2007, t1, tr.
Dong văn Ngô Thì trải qua ba đời, làm quan cho ba triều đại, Lê Trịnh - Tây Sơn - Nguyễn. Với số lượng tác pham khá phong phú va đồ sộ, có những vị trí va vai trò ảnh hưởng trong lịch sử. Họ Ngô Thì đã tự nhận gia tộc nhà mình là một “văn phái”, và định danh là “Ngô gia văn phát”. Phan Huy Ích #% (1751 - 1822) cũng là người sử dụng thuật ngữ “văn phái” khi tự hào về truyền thống của gia đình.
Trong bài Thứ nam Thực sinh hỉ phú (Phú mừng việc sinh hạ con trai thứ Phan Huy Thực) chép trong Du am ngâm luc, ông viết: “dong văn sóng nổi đủ chín nguyên” (văn phái dư lan cụ cửu nguyên + se A). Ông chú thích như sau: “Phụ thân tôi thi hương, thi hội hai lan đỗ dau (lưỡng nguyên). Bố vợ tôi [Ngô Thì Si] thi hội, thi đình hai lan đỗ dau (lưỡng nguyên). Tôi thi hương thi hội, thi ứng chế ba lan đều đỗ dau (tam nguyên).
Bác Hy Doãn [Ngô Thì Nhậm] và chú Nhã Hiên [Phan Huy Ôn, em trai thứ ba] đều đỗ dau thi hương. Tat cả cộng lại được 9 lan đỗ dau, nên gọi là cửu nguyên”. [Phan Huy Ích, 1978a, tr. Như vậy, chữ “văn phái” được Phan Huy Ích dùng với các nghĩa sau: chỉ những người trong cùng một nhà, hoặc có quan hệ thông gia - chú cháu nội ngoại, hai dé chỉ truyền thống khoa bang.
Ta biết Phan Huy Ích là con trai của Phan Huy Cận (tiến sĩ năm 1754), và là học trò của Ngô Thì Sĩ. Ngô Thì Sĩ mến tài nên ga con gái cho. Như thế, Phan Huy Ích là em rể của Ngô Thì Nhậm. Và hai anh em cùng đỗ khoa năm 1775, sau cùng làm việc cho triều Tây Sơn, cùng đi sứ sang nhà Thanh.
Mối quan hệ khăng khít “đồng gia”, “đồng khoa”, “đồng sư”, “đồng liêu” đã tạo nên nên tảng gia học của hai nhà Phan Huy và Ngô Thì. Với cái 15 nghĩa đang xét, thì Phan Huy Ích gọi cả hai họ là cùng một “văn phái”. Mặc dầu, văn cảnh chỉ có nghĩa là “khoa cử”, song dang sau nó còn có nghĩa là cái “chất văn chương”, hoặc cao hơn là “cái tư văn” - cái đạo học của nhà Nho. Ngoài ra, ta còn biết đến tác phẩm Hai Hanh văn phái - một tên phụ của Hải Hạnh Lê công văn tập.