Tổng quan luận án

Luận án Tiến sĩ chuyên ngành Hán Nôm (Mã số: 62 22 01 04) với đề tài "Nghiên cứu văn chương Nôm của các tác giả họ Nguyễn ở Tiên Điền Hà Tĩnh" do nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Hoa Lê thực hiện tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội (năm 2021), dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Hoàng Thị Ngọ và PGS. Trần Trọng Dương.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Dòng họ Nguyễn Tiên Điền (huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh) là một vọng tộc khoa hoạn thời trung đại, nơi sản sinh Đại thi hào Nguyễn Du cùng nhiều danh sĩ có trước tác giá trị. Từ những năm 1940, học giả Hoàng Xuân Hãn đã đề xuất khái niệm "Văn phái Hồng Sơn" khi phát hiện sự giao thoa nghệ thuật giữa họ Nguyễn Tiên Điền và họ Nguyễn Huy Trường Lưu qua các tác phẩm Hoa tiên, Truyện Kiều và Mai Đình mộng ký. Về sau, nhiều nhà nghiên cứu đã xếp dòng văn Nguyễn Tiên Điền là một trong bốn dòng văn lớn của thế kỷ XVIII đến nửa đầu thế kỷ XIX (cùng với Ngô Thì, Phan Huy và Nguyễn Huy).

Mặc dù vậy, khoảng trống nghiên cứu thực tế vẫn tồn tại:

  • Chưa có công trình chuyên khảo nào sưu tập, tập hợp và nghiên cứu toàn diện hệ thống văn chương Nôm của cả dòng họ Nguyễn Tiên Điền theo góc độ dòng văn/gia tộc văn học.
  • Các nghiên cứu trước đây chủ yếu tiếp cận đơn lẻ từng tác giả (tập trung phần lớn vào Nguyễn Du, một phần vào Nguyễn Nghiễm), thiếu sự bao quát về lực lượng sáng tác của gia tộc.
  • Công tác nghiên cứu văn bản học Hán Nôm đối với mảng trước tác này còn nhiều bất cập: phần lớn tác phẩm khi công bố không kèm nguyên bản Nôm; nhiều bản phiên âm lưu hành trước đây xuất hiện lỗi phiên sai, ngắt câu nhầm, thiếu khảo chứng điển cố; nhiều tác phẩm quan trọng tồn tại tranh luận, nghi vấn về quyền tác giả chưa được giải quyết dứt điểm.

Mục tiêu nghiên cứu

Luận án xác định 3 mục tiêu nghiên cứu cụ thể:

  1. Tìm kiếm, sưu tầm, tập hợp các tác giả, tác phẩm, văn bản của các tác phẩm Nôm họ Nguyễn Tiên Điền nhằm hệ thống hóa tác giả, tác phẩm của dòng họ, hình hài hóa lực lượng sáng tác và khuynh hướng sáng tác của dòng văn.
  2. Nghiên cứu thơ văn Nôm của các tác giả họ Nguyễn Tiên Điền từ phương diện văn bản học nhằm giải quyết các tồn nghi về tác giả — một vấn đề tồn tại rất phổ biến trong sáng tác Nôm nói chung và sáng tác Nôm của các tác giả họ Nguyễn Tiên Điền nói riêng, để từ đó xác định số lượng tác giả, tác phẩm đích thực của dòng họ.
  3. Nghiên cứu những đặc điểm của thơ văn Nôm họ Nguyễn Tiên Điền trên các phương diện như chủ đề, đề tài thể hiện, hệ thống thể loại được sử dụng để sáng tác và đặc điểm về ngôn ngữ của các tác phẩm nhằm xác định những đóng góp, vị thế của họ Nguyễn Tiên Điền cho văn học Nôm nói riêng và nền văn học trung đại Việt Nam nói chung.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Toàn bộ hệ thống thơ văn Nôm do các tác giả thuộc dòng họ Nguyễn ở Tiên Điền độc lập sáng tác. Luận án không khảo sát các tác phẩm mà tác giả họ Nguyễn Tiên Điền chỉ tham gia với tư cách đồng tác giả (như Tam thiên tự lịch đại văn giải âm).
  • Phạm vi không gian và dòng họ: Các tác giả thuộc dòng họ Nguyễn tại làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, phủ Đức Quang, trấn Nghệ An xưa (nay thuộc huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh), tính từ đời khởi tổ Nam Dương hầu Nguyễn Nhiệm (di cư về Tiên Điền năm 1593) trở về sau.
  • Phạm vi thời gian: Trải dài từ thế kỷ XVII đến nửa đầu thế kỷ XIX (tương ứng các thời kỳ Lê mạt, Tây Sơn và Nguyễn sơ). Tác giả mở đầu mảng sáng tác Nôm còn tác phẩm là Nguyễn Nghiễm (1708–1775) và tác giả cuối cùng là Nguyễn Nghi (1773–1845).
  • Phạm vi tư liệu: Các văn bản Hán Nôm gốc (bản khắc in, bản chép tay, biển gỗ, thác bản văn bia), gia phả dòng họ (Hoan Châu Nghi Tiên Nguyễn gia thế phả, Nguyễn tộc gia phả VHv.369, VHv.1852), các tuyển tập thi văn cổ, bản phiên âm Quốc ngữ Latinh của các tác phẩm đã mất bản Nôm và tư liệu điền dã thực tế.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Các hướng nghiên cứu trước đây

  1. Nghiên cứu theo hướng dòng văn, văn phái:

    • Năm 1924, Phan Sĩ Bàng và Lê Thước trong Truyện cụ Nguyễn Du đã nhận định về nề nếp trau chuốt quốc văn trong gia đình họ Nguyễn Tiên Điền bắt nguồn từ cụ Xuân Quận công Nguyễn Nghiễm.
    • Năm 1943, trên báo Thanh Nghị (các số 29, 30, 31, 32), học giả Hoàng Xuân Hãn công bố bài viết Nguồn gốc văn Kiều (Văn phái Hồng Sơn) và Nguồn gốc văn Kiều (Hát phường vải), chỉ ra tính liên văn bản và phong cách chung quanh chân núi Hồng Lĩnh giữa họ Nguyễn Tiên Điền và họ Nguyễn Huy Trường Lưu. Nhận định này được Đào Duy Anh (Đại Việt tạp chí, 1943) và Nguyễn Tất Thứ (Tiểu thuyết thứ Bảy, 1944) đồng thuận.
    • Đặng Thanh Lê trong cuốn Truyện Kiều và thể loại truyện Nôm (1979) phân tích truyền thống văn học và nề nếp sưu tầm, sáng tác của gia tộc họ Nguyễn.
    • Lại Văn Hùng trong Dòng văn Nguyễn Huy ở Trường Lưu (2000) và công trình Tìm hiểu quan niệm và sự hình thành dòng văn trong văn học Việt Nam thế kỷ XVIII đến nửa đầu XIX (Trần Thị Băng Thanh và Lại Văn Hùng chủ biên, 2005) đã xác lập cơ sở lý luận về dòng văn trung đại nhưng mới chỉ tập trung phân tích sâu dòng văn Ngô Thì và dòng văn Nguyễn Huy, chưa khảo sát cụ thể dòng văn Nguyễn Tiên Điền.
    • Trần Ngọc Anh (2008) xuất bản cuốn Văn phái Hồng Sơn nguồn thi ca Nôm một vùng quê, sưu tầm tác phẩm của nhiều tác giả vùng Hồng Lam qua truyền ngôn và tư liệu địa phương.
  2. Nghiên cứu từ góc độ từng tác giả riêng lẻ:

    • Nguyễn Nghiễm: Bài phú Khổng tử mộng Chu công phú được giới thiệu bởi Lê Thước (1924, 1956), Dương Quảng Hàm (1943), Tạ Phong Châu - Nguyễn Văn Phú (1961), Thái Kim Đỉnh (1995, 2011), Phan Văn Các - Trần Ngọc Vương (2010) và Võ Vinh Quang (2014); bài văn tế Chiêu tổ Khang vương do Nguyễn Xuân Diện và Đinh Thanh Hiếu công bố (2000).
    • Nguyễn Khản: Học giới đã phát hiện 8 tác phẩm (Họa thơ Trịnh Sâm, Chinh phụ ngâm diễn nghĩa, Thuật hoài phú, Đan thư thiết khoán phú, Vịnh đền Và, Họa thơ Nguyễn Huy Oánh, Bất như nhàn, Tư mỹ nhân), công bố rải rác bởi Nguyễn Xuân Diện (1993, 2007), Thái Kim Đỉnh (2012) và nhóm biên soạn Di sản văn chương Văn Miếu Quốc Tử Giám (2010).
    • Nguyễn Du: Ngoài Truyện Kiều với khối lượng nghiên cứu đồ sộ (tiêu biểu như Đào Thái Tôn 2001, Lê Xuân Lít 2005, Xuân Lam 2009), các tác phẩm Nôm khác gồm Văn tế thập loại chúng sinh (Văn chiêu hồn - Lê Thước 1924, Hoàng Xuân Hãn 1977, Phạm Tuấn 2006), Thác lời trai phường nón Tiên Điền (Lê Thước 1924, Nguyễn Thạch Giang và Nguyễn Huy Mỹ 1990), Tế Trường Lưu nhị nữ văn (Lê Thước 1924, Hoàng Xuân Hãn 1943, Phạm Quang Ái 2015, Võ Hồng Hải 2015), Tiều phu khổ khiếu ca (Trần Ngọc Anh 1957, Thái Kim Đỉnh 1995), Giới thế sự ca, Câu thơ đề trên đĩa mai hạc và Câu đối khóc vợ họ Đoàn (Thái Kim Đỉnh 2015).
    • Nguyễn Nghi: Tác phẩm Trung quân đối (Quân trung đối diễn ca) được phiên âm từ năm 1910, 1911; Nghiêm Toản hiệu đính trên tạp chí Luận Đàm (Sài Gòn, 1961–1962); Võ Thu Tịnh xuất bản năm 1995.
    • Nguyễn Thị Đài: Bài thơ Từ tôn đăng thất thập thọ được Hoàng Thị Ngọ giới thiệu năm 1992, in lại trong Các tác giả dòng văn Nguyễn Huy Trường Lưu (2012) và sách dịch Nguyễn Thị gia tàng (2019).
    • Nguyễn Thiện: Tác phẩm Hoa tiên nhuận chính được đề cập qua khảo cứu của Nguyễn Lộc (1970), Lại Văn Hùng (2000) và nghiên cứu chữ húy của Nguyễn Tài Cẩn.
    • Nguyễn Hành: Bài ký Nôm Kiến Nghĩa thôn phong thổ ký (Thái Kim Đỉnh 1995, 2011).
    • Nguyễn Cảnh: Bài thơ Nôm Tự vịnh (Thái Kim Đỉnh 1995, 2011; dẫn từ di cảo của A. Landes trước năm 1893).
    • Tác phẩm nghi ngờ thuộc Văn phái Hồng Sơn: Bản diễn Nôm Bích Câu kỳ ngộ (Truyện Tú Uyên - Hoàng Xuân Hãn 1964, Trần Văn Giáp).

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết

Luận án định vị là công trình đầu tiên tập hợp toàn diện các tác giả, tác phẩm Nôm của họ Nguyễn Tiên Điền; trực tiếp giám định văn bản học Hán Nôm đối với các văn bản chép tay và khắc in; đính chính các sai sót phiên âm của người đi trước; thẩm định tác quyền cho 7–8 tác phẩm còn tồn nghi; đồng thời thực hiện so sánh đối chiếu đa diện (giữa Hán và Nôm của dòng họ; giữa họ Nguyễn Tiên Điền với họ Ngô Thì, Phan Huy và Nguyễn Huy Trường Lưu).


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết và khái niệm then chốt

  • Khái niệm "Văn phái" (文派): Luận án phân tích nguồn gốc thuật ngữ: trong thư tịch Trung Quốc, "văn phái" xuất hiện thời cận đại (dịch từ école littéraire, cénacle của phương Tây), sau đó được thay thế bằng "văn học lưu phái". Tại Việt Nam, "văn phái" là từ Hán-Việt do người Việt sử dụng từ thời trung đại để chỉ truyền thống văn học của một gia tộc (như Ngô gia văn phái do Ngô Thì Trí, Phan Huy Ích định danh). Khảo sát văn bia chữ Phúc năm 1760 tại từ đường Tiên Điền do Nguyễn Khản viết theo lệnh Nguyễn Nghiễm có cụm từ "Hồng Lưu Phái Diễn" (nguồn lớn dòng xa), thể hiện ý thức tiếp nối dòng mạch thi thư gia tộc.
  • Khái niệm "Dòng văn": Luận án tiếp thu cách hiểu của giới nghiên cứu văn học trung đại Việt Nam (như Phan Huy Lê, Lại Văn Hùng, Trần Thị Băng Thanh), coi dòng văn là văn nghiệp của một dòng họ qua nhiều thế hệ có chung nền tảng gia học, quan niệm thẩm mỹ và phong cách sáng tác. Luận án sử dụng thuật ngữ "dòng văn" và danh xưng "Tiên Điền văn phái" làm công cụ phân tích chủ đạo.

Phương pháp nghiên cứu

  1. Phương pháp văn bản học Hán Nôm: Khảo tả hình thức văn bản (kích thước, chất liệu giấy, số trang, niên đại, chữ húy), đối chiếu các dị bản chữ Nôm, thực hiện thao tác phiên âm, dịch nghĩa, tầm nguyên thư mục và chú giải điển tích.
  2. Phương pháp nghiên cứu ngữ văn học: Phân tích ngữ nghĩa từ cổ, cấu trúc thi pháp, thể loại văn học trung đại và phong cách ngôn ngữ quốc âm.
  3. Phương pháp nghiên cứu tiểu sử học: Khảo sát gia phả, thế thứ, hành trạng, sự nghiệp cử nghiệp và quan lộ của các tác giả trong họ tộc.
  4. Phương pháp nghiên cứu liên ngành: Vận dụng tri thức Sử học, Văn hóa học, Địa lý học lịch sử và Văn tự học để lý giải sự hình thành môi trường sáng tác.
  5. Thao tác so sánh, đối chiếu:
    • So sánh dị văn giữa các bản Nôm chép tay, bản khắc gỗ và các bản phiên âm Quốc ngữ đã công bố.
    • So sánh nội bộ giữa mảng sáng tác chữ Hán và mảng sáng tác chữ Nôm của dòng họ Nguyễn Tiên Điền.
    • So sánh liên dòng họ giữa họ Nguyễn Tiên Điền với họ Ngô Thì (Tả Thanh Oai), họ Phan Huy (Sài Sơn) và họ Nguyễn Huy (Trường Lưu).
  6. Thao tác khảo sát điền dã: Khảo sát thực địa tại di tích Tiên Điền (Nghi Xuân, Hà Tĩnh), đền Và (Sơn Tây) và tiếp cận các tàng bản gia phả, mộc bản, câu đối, văn bia cổ.

Nguồn tư liệu và dữ liệu

  • Văn bản chữ Nôm và chữ Hán lưu trữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm (các ký hiệu VNb, AB, VHv...), Thư viện Quốc gia Việt Nam (ký hiệu R), Viện Thông tin Khoa học Xã hội.
  • Các gia phả gốc: Nguyễn tộc gia phả (VHv.369), Hoan Châu Nghi Tiên Nguyễn gia thế phả (VHv.1852), cùng tư liệu dòng họ do nhà biên khảo Lê Thước, cụ Nghè Nguyễn Mai và ông Nguyễn Huy Mỹ lưu giữ.
  • Thác bản văn bia mộ tổ, biển gỗ khắc thơ tại đền Và.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án

Chương 1 làm rõ cơ sở lý luận về thuật ngữ văn phái, dòng văn; truy nguyên cội nguồn dòng họ Nguyễn Tiên Điền từ Nam Dương hầu Nguyễn Nhiệm (gốc Canh Hoạch, Thanh Oai di cư vào Nghệ An năm 1593 sau khi nhà Mạc thất thế). Luận án xây dựng sơ đồ phả hệ từ đời thứ 1 đến đời thứ 8.

Thế thứ tại Tiên Điền Tác giả có sáng tác Nôm tiêu biểu Năm sinh - năm mất Tác phẩm Nôm ghi nhận ban đầu
Đời thứ 6 Nguyễn Nghiễm 1708–1775 Khổng tử mộng Chu công phú, Chiêu tổ Khang vương
Đời thứ 7 Nguyễn Khản 1734–1786 Họa thơ Trịnh Sâm, Chinh phụ ngâm diễn nghĩa, Thuật hoài phú, Đan thư thiết khoán phú, Vịnh đền Và, Họa thơ Nguyễn Huy Oánh, Bất như nhàn, Tư mỹ nhân
Đời thứ 7 Nguyễn Thị Đài 1752–1819 Từ tôn đăng thất thập thọ, Thơ khóc chồng (thất lạc)
Đời thứ 7 Nguyễn Thiện 1763–1818 Hoa tiên nhuận chính
Đời thứ 7 Nguyễn Du 1765–1820 Truyện Kiều, Văn tế thập loại chúng sinh, Thác lời trai phường nón Tiên Điền, Tế Trường Lưu nhị nữ văn, Tiều phu khổ khiếu ca, Giới thế sự ca, Thơ đề đĩa mai hạc, Câu đối khóc vợ họ Đoàn
Đời thứ 7 Nguyễn Hành 1771–1824 Kiến Nghĩa thôn phong thổ ký
Đời thứ 7 Nguyễn Nghi 1773–1845 Trung quân đối (Quân trung đối diễn ca)
Đời thứ 8 Nguyễn Cảnh 1784–1858 Tự vịnh (Vịnh nhàn cư)

Chương này tổng thuật toàn diện tình hình văn bản, nhận diện 7–8 tác phẩm còn tồn nghi về tác giả hoặc thiếu địa chỉ văn bản Nôm nguyên gốc.

Chương 2: Dòng họ Nguyễn Tiên Điền trong bối cảnh lịch sử xã hội đương thời

Chương 2 nghiên cứu sự hình thành Tiên Điền văn phái trong không gian văn hóa kết nối "từ Hồng Sơn đến Thăng Long" và bối cảnh chính trị đầy biến động thế kỷ XVIII – đầu XIX:

  • Đóng góp ngoài văn học Nôm: Luận án thống kê thành tựu khoa bảng rực rỡ (nhiều người đỗ Tiến sĩ, Tam trường, giữ các chức vụ Tham tụng, Thượng thư, Tế tửu Quốc Tử Giám) và di sản tác phẩm chữ Hán đồ sộ (Xuân Đình thi tập, Đông Trì tiếu vịnh, Bắc hành tạp lục, Thanh Hiên thi tập, Minh Quyên thi tập...).
  • Tiểu sử hành trạng các tác giả Nôm: Khảo cứu chi tiết hành trạng 8 tác giả từ đời thứ 6 đến đời thứ 8; phân tích đặc điểm tên tự, tên hiệu của các thành viên trong họ tộc.
  • Mạng lưới quan hệ xã hội: Phân tích quan hệ đồng khoa, đồng liêu và đặc biệt là quan hệ thông gia mật thiết giữa họ Nguyễn Tiên Điền với các gia tộc danh gia đương thời như họ Nguyễn Huy (Trường Lưu), họ Ngô Thì (Tả Thanh Oai), họ Phan Huy (Sài Sơn) và họ Đoàn (Hải Dương).

Chương 3: Nghiên cứu văn bản các tác phẩm Nôm

Chương 3 là trọng tâm văn bản học của luận án, tiến hành giám định, đối chiếu và thẩm định tác quyền cho hệ thống tác phẩm:

  • Nguyễn Nghiễm: Khảo sát bài phú Khổng tử mộng Chu công phú qua việc đối chiếu dị đồng giữa 4 nguồn văn bản (bản VNb.1, bản AB.1, bản AB.184, bản gia phả Tiên Điền) và bản phiên của Lê Thước; xác định văn bản chuẩn và đính chính các chữ phiên nhầm; khảo sát văn bản bài văn tế Chiêu tổ Khang vương.
  • Nguyễn Khản: Khảo sát 8 tác phẩm. Đáng chú ý là việc đối chiếu Chinh phụ ngâm diễn nghĩa bản R.1674 với bản Hoàng Xuân Hãn; khảo sát thực tế tấm biển gỗ khắc bài thơ Nôm Vịnh đền Và tại Sơn Tây; phân tích văn bản Thuật hoài phú, Đan thư thiết khoán phú; thẩm định tác quyền bài hát nói Bất như nhàn (xác định các dị bản trong Văn đàn bảo giám, sách ca trù VNb.14 và tàng bản Tiên Điền) cùng bài Tư mỹ nhân.
  • Nguyễn Du: Khảo cứu 7 tác phẩm hiện tồn. Giám định văn bản Tế cô hồn văn (Văn tế thập loại chúng sinh) qua bản R.1713 và bản Ứng phó dư biên tổng tập (UPDB), lập bảng thống kê số lượng từ cổ và các câu trùng ý trùng lời với Truyện Kiều; thẩm định văn bản bản Nôm mới phát hiện của bài Tế Trường Lưu nhị nữ văn; phân tích dị bản và thẩm định tác quyền bài Tiều phu khổ khiếu ca (giữa Nguyễn Du và Trần Duy Tự); khảo cứu câu lục bát khắc trên đĩa sứ mai hạc (1813) và câu đối khóc vợ họ Đoàn.
  • Nguyễn Nghi: Khảo tả văn bản in khắc năm 1879 của tác phẩm Trung quân đối (Quân trung đối diễn ca), lập bảng so sánh từ ngữ dị biệt giữa 3 bản mang ký hiệu ABD.
  • Nguyễn Thị Đài: Giám định văn bản bài thơ Từ tôn đăng thất thập thọ từ tập Nguyễn Thị gia tàng của họ Nguyễn Huy Trường Lưu.
  • Nguyễn Thiện: Khảo sát văn bản Hoa tiên nhuận chính (bản in năm 1875), khảo sát hệ thống chữ húy và đối chiếu cấu trúc với nguyên tác Hoa tiên của Nguyễn Huy Tự.
  • Nguyễn Hành và Nguyễn Cảnh: Thẩm định bài ký Nôm Kiến Nghĩa thôn phong thổ ký của Nguyễn Hành và bài thơ Tự vịnh của Nguyễn Cảnh chép trong di cảo A. Landes.

Chương 4: Nghiên cứu so sánh thơ văn Nôm của Tiên Điền văn phái

Chương 4 triển khai so sánh đối chiếu ở hai bình diện lớn:

  1. So sánh hai bộ phận sáng tác Hán và Nôm của dòng họ Nguyễn Tiên Điền:

    • Lực lượng và quy mô: Thống kê tác gia sáng tác chữ Hán và chữ Nôm qua các thế hệ.
    • Ngôn ngữ thể hiện: Chữ Hán tuân thủ quy phạm bác học cổ điển; chữ Nôm thể hiện khả năng Việt hóa cao độ, tích hợp nhuần nhuyễn khẩu ngữ, ca dao, tục ngữ và chất liệu đời sống dân gian.
    • Hệ thống thể loại: Mảng chữ Hán tập trung vào thơ cận thể, cổ thể, ký, phú, văn bia; mảng chữ Nôm bao quát đa dạng các thể loại dân tộc và thể loại tiếp biến gồm truyện thơ lục bát (Truyện Kiều), ngâm khúc song thất lục bát (Chinh phụ ngâm diễn nghĩa, Hoa tiên nhuận chính), phú Nôm bát vần (Khổng tử mộng Chu công phú, Thuật hoài phú), văn tế song thất lục bát và lục bát (Văn chiêu hồn, Tế Trường Lưu nhị nữ văn), hát nói ca trù (Bất như nhàn, Tư mỹ nhân), ca khúc và diễn ca lịch sử (Tiều phu khổ khiếu ca, Trung quân đối).
    • Chủ đề và đề tài: Sáng tác chữ Hán thiên về chí hướng Nho gia, hoài bão sĩ hoạn, vịnh sử; sáng tác chữ Nôm mở rộng sang cảm thức nhân đạo, thân phận phụ nữ, nỗi đau nhân sinh, tình yêu lứa đôi và tâm thức thế sự.
    • Công chúng tiếp nhận: Sáng tác Hán dành cho tầng lớp sĩ phu Nho học; sáng tác Nôm thâm nhập sâu rộng vào đời sống bình dân qua ngâm vịnh, diễn xướng dân gian (hát phường vải, ca trù).
  2. So sánh với một số dòng họ văn chương đương thời:

    • So sánh với dòng họ Ngô Thì (Tả Thanh Oai) và họ Phan Huy (Sài Sơn): Họ Ngô Thì và họ Phan Huy có thế mạnh vượt trội về trước tác chữ Hán, khảo cứu lịch sử, chính luận ngoại giao; họ Nguyễn Tiên Điền nổi bật về thành tựu nghệ thuật thơ văn Nôm đỉnh cao.
    • So sánh với dòng họ Nguyễn Huy (Trường Lưu): Làm rõ mối quan hệ cộng hưởng nghệ thuật giữa hai họ quanh chân núi Hồng Lĩnh qua giao lưu thi ca, hát phường vải và hoạt động nhuận chính tác phẩm (Hoa tiên - Hoa tiên nhuận chính).

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận và phương pháp luận

  • Luận án là công trình chuyên khảo đầu tiên ứng dụng phương pháp tiếp cận dòng văn/gia tộc văn học kết hợp chặt chẽ với phương pháp văn bản học Hán Nôm để nghiên cứu toàn diện mảng văn chương Nôm của dòng họ Nguyễn Tiên Điền.
  • Góp phần chuẩn hóa và làm sáng tỏ nội hàm của các khái niệm "Văn phái", "Dòng văn" trong bối cảnh lịch sử văn học trung đại Việt Nam.

Đóng góp về mặt tư liệu và thực tiễn

  • Phát hiện thêm nhiều bản chép tay, dị bản Nôm của các tác phẩm (Khổng tử mộng Chu công phú, Tế cô hồn văn, Tế Trường Lưu nhị nữ văn, Tiều phu khổ khiếu ca) và khảo tả trực tiếp hiện vật biển gỗ bài thơ Vịnh đền Và.
  • Hệ thống hóa danh mục gồm 8 tác giả và 23 tác phẩm/văn bản Nôm của gia tộc họ Nguyễn Tiên Điền, định hình rõ diện mạo và quy mô của dòng văn.
  • Thẩm định, giải quyết căn bản các nghi vấn tác quyền đối với các tác phẩm tồn nghi lâu nay trong giới nghiên cứu (Bất như nhàn, Tư mỹ nhân, Tiều phu khổ khiếu ca, Tự vịnh, Tế Trường Lưu nhị nữ văn).
  • Đính chính nhiều trường hợp phiên âm sai, ngắt câu nhầm và bổ sung khảo chứng điển cố nguồn cho các ấn bản tác phẩm Nôm từng công bố trước đây.
  • Cung cấp phần phụ lục công phu gồm 19 mục so sánh dị bản, kèm ảnh chụp nguyên văn chữ Nôm và các bản phiên chú mới.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của luận án

  • Do biến thiên lịch sử và sự thất lạc của thư tịch cổ, một số tác phẩm chữ Nôm của dòng họ hiện chỉ còn bản phiên âm Quốc ngữ Latinh hoặc bản truyền khẩu mà chưa tìm lại được nguyên bản chữ Nôm (như bài thơ khóc chồng của Nguyễn Thị Đài; bài Giới thế sự ca của Nguyễn Du chỉ còn vài câu nhớ lại).
  • Luận án giới hạn phạm vi khảo sát ở các tác phẩm do tác giả họ Nguyễn Tiên Điền trực tiếp sáng tác độc lập, chưa đi sâu phân tích toàn diện các tác phẩm đồng tác giả hoặc sáng tác của các tác giả thuộc dòng họ thông gia.

Hướng nghiên cứu tiếp

  • Tiếp tục sưu tầm, khảo sát điền dã nhằm phát hiện thêm các dị bản Nôm còn tàng trữ trong nhân gian hoặc tại các bộ sưu tập tư nhân.
  • Mở rộng nghiên cứu so sánh loại hình văn học gia tộc của dòng văn Nguyễn Tiên Điền với các dòng họ văn học tiêu biểu tại các quốc gia trong khu vực văn hóa chữ Hán Đông Á (Trung Quốc, Triều Tiên, Nhật Bản).

Giá trị tham khảo

Luận án mang lại giá trị tham khảo khoa học cho nhiều nhóm đối tượng:

  • Nghiên cứu sinh, giảng viên, sinh viên ngành Hán Nôm và Văn học trung đại: Tham khảo phương pháp giám định văn bản học Nôm, kỹ thuật đối chiếu dị bản và cách tiếp cận nghiên cứu văn học gia tộc.
  • Giới nghiên cứu Nguyễn Du và Kiều học: Tiếp cận hệ thống tư liệu văn bản mới về các tác phẩm Nôm của Nguyễn Du ngoài Truyện Kiều (Văn tế thập loại chúng sinh, Tế Trường Lưu nhị nữ văn, Tiều phu khổ khiếu ca...).
  • Cơ quan quản lý văn hóa và bảo tồn di sản: Cung cấp cứ liệu lịch sử - văn bản xác thực phục vụ công tác bảo tồn, phát huy giá trị tại Khu di tích Quốc gia đặc biệt Đại thi hào Nguyễn Du (Nghi Xuân, Hà Tĩnh) và đền Và (Sơn Tây, Hà Nội).

Câu hỏi thường gặp

1. Khởi tổ của dòng họ Nguyễn ở Tiên Điền là ai và nguồn gốc di cư của dòng họ này như thế nào?

Theo gia phả Hoan Châu Nghi Tiên Nguyễn gia thế phả (VHv.1852), khởi tổ dòng họ Nguyễn ở Tiên Điền là Nam Dương hầu Nguyễn Nhiệm (Nhậm). Ông nguyên quán tại làng Canh Hoạch, huyện Thanh Oai, trấn Sơn Nam, là cháu nội của Trạng nguyên Nguyễn Thiến và con trai của Phù quận công Nguyễn Miễn. Sau biến cố nhà Mạc thất thủ cuối thế kỷ XVI (khoảng năm 1593 thời Lê Thế Tông), ông di cư vào phương nam và ẩn cư lập nghiệp tại đất Tiên Điền, huyện Nghi Xuân.

2. Thuật ngữ "Văn phái Hồng Sơn" do ai khởi xướng và bao gồm những dòng họ nào?

Thuật ngữ "Văn phái Hồng Sơn" do học giả Hoàng Xuân Hãn đề xuất năm 1943 trên báo Thanh Nghị (số 29, 30, 31). Thuật ngữ này dùng để chỉ sự tương đồng về phong cách, mạch văn và cảm hứng nghệ thuật giữa hai dòng họ văn chương lớn cùng sinh sống quanh chân núi Hồng Lĩnh là dòng họ Nguyễn Tiên Điền (huyện Nghi Xuân) và dòng họ Nguyễn Huy Trường Lưu (huyện Can Lộc) qua các tác phẩm Hoa tiên, Hoa tiên nhuận chính, Truyện Kiều và Mai Đình mộng ký.

3. Luận án đã xác định được bao nhiêu tác giả và tác phẩm Nôm của dòng họ Nguyễn Tiên Điền?

Qua quá trình khảo cứu văn bản học, luận án đã xác định được 8 tác giả có sáng tác Nôm thuộc các đời thứ 6, 7 và 8 của dòng họ với tổng số 23 tác phẩm/văn bản Nôm. Tác giả mở đầu là Nguyễn Nghiễm (đời 6), các tác giả đời 7 gồm Nguyễn Khản, Nguyễn Thị Đài, Nguyễn Thiện, Nguyễn Du, Nguyễn Hành, Nguyễn Nghi, và tác giả đời 8 là Nguyễn Cảnh.

4. Luận án đã khảo sát những nguồn văn bản nào đối với bài phú "Khổng tử mộng Chu công phú" của Nguyễn Nghiễm?

Luận án tiến hành khảo sát và đối chiếu dị đồng bài phú qua 4 nguồn văn bản Hán Nôm: bản VNb.1 (trong sách Thi ca phú tạp lục), bản AB.1, bản AB.184, bản chép trong gia phả dòng họ Tiên Điền, đồng thời đối sánh chi tiết với bản phiên âm chữ Quốc ngữ của nhà biên khảo Lê Thước để đính chính các chữ phiên sai.

5. Văn bản bài thơ Nôm "Vịnh đền Và" của Nguyễn Khản được luận án khảo sát từ tư liệu vật thể nào?

Bài thơ Nôm Vịnh đền Và được luận án khảo sát trực tiếp từ hiện vật tấm biển gỗ cổ khắc chữ Nôm hiện đang được lưu giữ tại đền Và (xã Trung Hưng, thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội). Luận án cung cấp ảnh chụp hiện vật, khảo tả kích thước, kiểu chữ và thực hiện phiên âm, chú giải chuẩn xác.


Kết luận

Luận án "Nghiên cứu văn chương Nôm của các tác giả họ Nguyễn ở Tiên Điền Hà Tĩnh" của Nguyễn Thị Hoa Lê là công trình chuyên khảo có hệ thống về toàn bộ di sản văn học Nôm của dòng họ Nguyễn Tiên Điền dưới góc độ dòng văn. Bằng phương pháp văn bản học Hán Nôm kết hợp thi pháp học so sánh, tác giả đã giám định niên đại, đối chiếu dị bản, thẩm định tác quyền và đính chính văn bản cho 23 tác phẩm của 8 tác giả thuộc ba thế hệ. Luận án đã làm sáng tỏ vị thế đỉnh cao của Tiên Điền văn phái trong tiến trình phát triển của văn học quốc âm trung đại Việt Nam.